I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN THU PHNG
NGƯờI BàO CHữA, NGƯờI BảO Vệ QUYềN LợI CHO ĐƯƠNG Sự
Là TRợ GIúP VIÊN PHáP Lý TRONG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN THU PHNG
NGƯờI BàO CHữA, NGƯờI BảO Vệ QUYềN LợI CHO ĐƯƠNG Sự
Là TRợ GIúP VIÊN PHáP Lý TRONG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. CHU THI TRANG VN
H NI - 2015
1.1.
Ngƣời bào chƣ̃a , Ngƣời bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i cho đƣơng sƣ ̣ trong tố
tụng hình sự .................................................................................................8
1.1.1.
Người bào chữa .............................................................................................8
1.1.2.
Người bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i cho đương sự ........................................................13
1.2.
Ngƣời bào chƣ̃a , Ngƣời bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i cho đƣơng sƣ ̣ trong tố
tụng hình sự là trợ giúp viên pháp lý ......................................................15
1.2.1.
Khái quát chung về trợ giúp pháp lý và và trợ giúp pháp lý trong tố
tụng hình sự .................................................................................................15
1.2.2.
Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong tố tụng
hình sự là trợ giúp viên pháp lý ...................................................................24
1.3.
2.2.2.
Hoạt động bảo vệ quyền lợi cho đương sự của Trợ giúp viên pháp lý .......55
2.3.
Đánh giá chung về hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho
đƣơng sự trong tố tụng hình sự của Trợ giúp viên pháp lý tại tỉnh
Yên Bái .......................................................................................................57
2.3.1.
Kết quả đạt được .........................................................................................57
2.3.2.
Một số tồn tại, hạn chế ................................................................................58
2.3.3.
Nguyên nhân ...............................................................................................60
Tiểu kết chƣơng 2 ....................................................................................................62
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA, BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CHO ĐƢƠNG SỰ TRONG TTHS CỦA TGVPL
TẠI TỈNH YÊN BÁI .................................................................................63
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động
Nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp về tổ
chức, hoạt động trợ giúp pháp lý .................................................................72
3.3.2.
Tăng cường công tác phố i hơ ̣p về trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình........
sự 73
3.3.3.
Nâng cao chất lượng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý ...................................73
3.3.4.
Nâng cao nhận thức của nhân dân các dân tộc trong tỉnh về quyền
được trợ giúp pháp lý ..................................................................................74
3.3.5.
Tăng cường sự hợp tác quốc tế và trao đổi về kinh nghiệm .......................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
Số hiệu biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh
44
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ % hộ nghèo ở các địa phương trong tỉnh
44
Biểu đồ 2.3: Đặc điểm nhân thân của bị cáo trong các vụ án sơ thẩm
trên địa bàn tỉnh Yên Bái (2011 – 2013)
44
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ vụ việc trợ giúp pháp lý về hình sự trên địa bàn tỉnh
45
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ % vụ việc TGVPL và chuyên viên thực hiện TGPL
48
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ % vụ việc tham gia TTHS của TGVPL và Luật sư
lợi của đương sự. Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định người bào chữa có thể là
luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên
nhân dân; người bảo vệ quyền lợi của đương sự gồm luật sư, bào chữa viên nhân
dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận [32].
Đến năm 2006, có một đạo luật quy định thêm một số chủ thể chưa được quy
định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 nhưng được tham gia tố tụng hình sự
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Đó là Luật trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.
Các chủ thể này được tham gia tố tụng hình sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của những người được trợ giúp pháp lý theo quy định, gồm trợ giúp viên pháp lý và
luật sư là cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý [32].
Nếu xét hiểu theo nghĩa rộng, thì Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng đã đề cập
đến các chủ thể này vì có quy định một trong những người bào chữa, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự là “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo”, “người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận” [30].
1
Ngoài ra, để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Luật trợ giúp pháp lý
trong hoạt động tố tụng, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao đã có các Thông tư liên
ngành hướng dẫn. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt
động tố tụng nói chung và việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của trợ giúp viên
pháp lý, luật sư là cộng tác viên pháp lý khi tham gia tố tụng hình sự nói riêng còn
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Những khó khăn, vướng mắc này xuất phát từ cơ
chế, nhận thức của một số cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng
như do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Ở Việt Nam, Trợ giúp pháp lý được biết đến như là một trong những chính
sách xã hội rộng lớn thể hiện bản chất tốt đẹp của nền Tư pháp nhân dân. Trợ giúp
các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của trợ giúp
viên pháp lý, đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao
hiệu quả tham gia tố tụng hình sự của trợ giúp viên pháp lý, không chỉ có ý nghĩa lý
luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết để
tôi lựa chọn đề tài “Người bào chữa, người bảo vê ̣ quyền lợi cho đương sự là trợ
giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái )”
làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói Luật Trợ giúp pháp lý ra đời muộn và cũng là lĩnh vực mới chưa
được công nhận trong các Bộ luật và một số văn bản dưới luật. Luật trợ giúp pháp
lý được triển khai thi hành đã qua 1 lần tổng kết thực hiện 8 năm. Đội ngũ trợ giúp
viên pháp lý mới tham gia tố tụng hình sự theo quy định pháp luật cũng được từng
đó năm. Tuy nhiên, hiện nay không có nhiều nghiên cứu khoa học trợ giúp pháp lý
trong tố tụng hình sự nói chung và về vị trí, vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của trợ
giúp viên pháp khi tham gia tố tụng hình sự nói riêng.
Đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sỹ, thạc sỹ, đề tài cấp Bộ và các bài báo,
tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
về TGPL miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách. Đó là: “Điều chỉnh
pháp luật về TGPL ở Việt Nam trong điều kiện đổi mới”, Luận án tiến sỹ luật học
của Nghiên cứu sinh Tạ Thị Minh Lý, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009; “Quản
lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động TGPL ở Việt Nam hiện nay”, Luận
án tiến sỹ luật học của Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tùng, Học viện Chính trị -
3
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007; “Thực hiện pháp luật về TGPL”, Luận
án tiến sỹ luật học của Nghiên cứu sinh Nguyễn Huỳnh Huyện, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011; “Hoàn thiện pháp luật về người trợ giúp
pháp lý ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Hồng Tuyến,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2004; “Thực hiện pháp luật về TGPL cho người
Trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự (trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên
Bái)” à đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về nghĩa vụ,
quyền hạn của trợ giúp viên pháp lý khi tham gia bào và bảo vệ quyền lợi cho
đương sự trong các vụ án hình sự. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về vai trò và hoạt
động của trợ giúp viên pháp lý khi tham gia tố tụng hình sự tại tỉnh Yên Bái. Từ đó,
luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về của pháp luật về
nghĩa vụ, quyền hạn của trợ giúp viên pháp lý khi tham gia bào chữa và bảo vệ
quyền lợi cho đương sự trong các vụ án hình sự nói chung cũng như đề xuất những
giải pháp nâng cao vị trí, vai trò và hiệu quả hoạt động của trợ giúp viên pháp lý khi
tham gia tố tụng hình sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng được
trợ giúp pháp lý theo quy định của nhà nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong tố tụng hình sự TTHS
- Nghiên cứu các quy định pháp luật cụ thể về hoạt động bào chữa, bảo vệ
quyền lợi cho đương sự trong vụ án hình sự của TGVPL.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hoạt
động bào chữa, hoạt động bảo vệ quyền lợi cho đương sự vụ án hình sự của trợ giúp
viên pháp lý tại tỉnh Yên Bái. Đồng thời phân tích làm rõ những khó khăn, tồn tại,
hạn chế xung quanh việc áp dụng tại tỉnh Yên Bái.
- Từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt
động tham gia tố tụng hình sự của TGVPL nói chung và những giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động của trợ giúp viên pháp lý khi tham gia bào chữa, bảo vệ quyền
lợi cho đương sự trong TTHS trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
5
tụng hình sự để bào chữa, bảo vệ quyền lợi lợi cho đương sự là các đối tượng được
trợ giúp pháp lý ở tỉnh Yên Bái nói riêng và Việt Nam nói chung.
6
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành
cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng
dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên
ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn
còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn
đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Trợ giúp pháp lý
trong quá trình thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của mình.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về Người bào chữa, Người bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i
cho đương sự trong tố tụng hình sự là Trợ giúp viên pháp lý.
Chương 2: Thực tiễn hoa ̣t động người bào chữa , bảo vệ quyền lợi cho đương
sự trong trong tố tụng hình sự của Trợ giúp viên pháp lý ta ̣i tỉnh Yên Bái .
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong trong tố tụng hình sự của Trợ
giúp viên pháp lý tại tỉnh Yên Bái.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI BÀ O CHƢ̃ A, NGƢỜI BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CHO ĐƢƠNG SƢ̣ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀ
buô ̣c tô ̣i hoă ̣c giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m cho ho ̣ . Hay nói cách khác , quyề n bào chữa
hiể u theo đúng nghiã của từ này là quyề n của mô ̣t người đươ ̣c đưa ra các chứng cứ
để chứng minh cho sự vô tội (lỗi) hoă ̣c giảm nhe ̣ tô ̣i (lỗi của min
̀ h ) [22]. Như vâ ̣y,
những chủ thể nào liên quan trực tiế p đ ến viê ̣c buô ̣c tô ̣i và cầ n phải phản bác la ̣i
8
viê ̣c buô ̣c tô ̣i đó hoă ̣c để giảm nhe ̣ các trách nhiê ̣m hình sự do viê ̣c buô ̣c tô ̣i gây ra
thì mới có thể trở thành chủ thể của quyề n bào chữa .
Tóm lại, quyề n bào chữa của người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo là tổng hợp tất
cả các hành vi / phương thức mà pháp luâ ̣t quy đ ịnh cho người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị
cáo sử d ụng trong các giai đo ạn của quá trình TTHS để chố ng la ̣i sự buô ̣c tô ̣i hoă ̣c
làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ.
Để thực hiện quyền bào chữa người bị tạm giam, bị can, bị cáo có thể thực
hiện bằng một thông qua một hoặc cả hai phương thức là tự mình bào chữa và nhờ
người khác bào chữa.
Về phương thức tự mình bào chữa: Đây là hình thức mà người bi ̣ta ̣m giữ , bị
can, bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật quy định cho họ trong việc chứng minh
sự vô tô ̣i hoă ̣c làm giả m nhe ̣ tô ̣i cho min
̀ h. Như vâ ̣y, người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo
đươ ̣c sử du ̣ng những hiể u biế t về pháp luâ ̣t của min
̀ h để chố ng la ̣i sự buô ̣c tô ̣i hoă ̣c
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình . Họ có thể thực hiện quyền tự b ào chữa của
mình bằng cách đề xuất chứng cứ , nhâ ̣n xét và đánh giá chứng cứ , đưa ra yêu cầ u ,
tranh luâ ̣n trước tòa, kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án .
Về phương thức nhờ người khác bào chữa: Đây là hin
̀ h thức mà ngườ i bi ̣ta ̣m
giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa thông qua người bào chữa .
Theo quy đinh
̣ , công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo
nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành
nghề Luật sư thì có thể trở thành Luật sư và muốn được hành nghề Luật sư phải có
Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư [31].
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ,
bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp
luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất
hoặc tinh thần. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu
không bào chữa cho bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham
gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với
người bào chữa. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất
thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cư
trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm
10
giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc
là người Việt Nam ở nước ngoài.
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để
bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay chế định bào chữa viên nhân dân chưa
được cụ thể hoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào. Do chưa có quy
định cụ thể nên hầu như chưa có sự tham gia của các bào chữa viên nhân dân tại các
phiên tòa kể cả hình sự lẫn dân sự, hành chính v.v.. Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của
Bộ luật TTHS quy định về người bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của bào
chữa viên nhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho bị can
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu
Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những
hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
- Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị
can để có mặt khi hỏi cung bị can;
- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của Bộ luật này;
- Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ
chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí
mật nhà nước, bí mật công tác;
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến
việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành
niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này.
Khi tham gia tố tụng, người bào chữa có các nghĩa vụ:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình
tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan
đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm
1.1.2. Người bảo vê ̣ quyền lợi cho đương sự
Bên cạnh sự tham gia bào chữa của Người bào chữa trong TTHS thì pháp
luật TTHS có quy định về sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự
trong các vụ án hình sự.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, đương sự là
13
“Người là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết” [49]. Như
vậy, đương sự bao gồm những chủ thể tham gia vào vụ việc được giải quyết mà vụ
việc đó có ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. BLTTHS không đưa ra khái
niệm về đương sự nhưng quy định đương sự gồm có 3 đối tượng là: Người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
BLTTHS quy định:
Người bảo vệ quyền lợi của đương sự
1. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư, bào chữa
viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà
án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình [30, Điều 59, Khoản 1].
Như vậy, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự là người được người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hình sự nhờ và được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ
quyền lợi cho mình. Người bảo vệ quyền lợi có thể là luật sư, bào chữa viên nhân
dân hoặc người khác được chấp nhận. Việc xác định một người có phải là người
bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hay không phải do Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự muốn nhờ người khác
bảo vệ quyền lợi cho mình thì người đó phải là nhờ luật sư, bào chữa viên nhân
điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, thì "trợ giúp" được hiểu là
"giúp đỡ", pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật" [49]. Theo Từ điển từ và ngữ
Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì
"trợ giúp” là “giúp đỡ", góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc
chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công, còn về "pháp lý" là "nguyên lý của
pháp luật" [25]. Theo Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp,
2006, thì pháp lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật
của một quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý
bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý
luận về pháp luật [48]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là “hỗ trợ” cũng có
thể được hiểu là "trợ giúp". Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang
gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ
15
đang cần ở đây là "pháp lý". Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau có cùng nghĩa
với thuật ngữ “TGPL” nhưng thuật ngữ “TGPL” có nghĩa chung nhất, rõ nhất nêu
bật được sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những trường hợp có khó khăn về mặt pháp lý
Ở Việt Nam, thuật ngữ “TGPL” được sử dụng trong các tài liệu nghiên cứu từ
năm 1995, bắt đầu là Đề án nghiên cứu về hoạt động TGPL ở Việt Nam của Bộ Tư
pháp. Đến năm 1996, thuật ngữ “TGPL” được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong
điều kiện hiện nay” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Năm 1997,
thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng
chính sách. Tiếp đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện Quyết định 734/TTg
và một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực khác cũng đề cập đến thuật ngữ “TGPL”
như Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư ban
hành kèm theo Quyết định số 356b/2002/QĐ-BT ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ