I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN THU PHNG
NGƯờI BàO CHữA, NGƯờI BảO Vệ QUYềN LợI CHO ĐƯƠNG Sự
Là TRợ GIúP VIÊN PHáP Lý TRONG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái)
LUN VN THC S LUT
HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN THU PHNG
NGƯờI BàO CHữA, NGƯờI BảO Vệ QUYềN LợI CHO ĐƯƠNG Sự
Là TRợ GIúP VIÊN PHáP Lý TRONG Tố TụNG HìNH Sự
(Trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Yên Bái)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT
HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. CHU THI T
RANG VN
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
..........
......1
C
h
ƣ
ơ
n
g
1
:
M
Ộ
T
S
Ố
V
Ấ
N
o
o
L ỢI CHO
ch
ĐƢƠNG SỰ
ƣ
c
TRONG TỐ
a,
h
N
ữ
SỰ LÀ TRỢ GIÚP
g
a
trong tố
yề
NGƢỜI
TỤNG HÌNH
Ngƣời
ờ
i
n
tụng hình
sự ...................................
lơị
........................................
ch
......................8
o
1.1.1.
sƣ
q̣ uyền lơị cho đương
̣
sự .......................................
tr
.................13
on
1 2.
g
.
tố
u
y
ê
̀
n
l
c
ủ 4
a
.41
Sơ lƣợc lịch sử
YÊ
các quy định
N
đ pháp luật về
BÁ
ư Ngƣời bào
I ...
ơ chữa, Ngƣời
......
n bảo vệ quyền lợi cho
......
......
Chƣơng 2: THƢ ̣C
TIỄN HOAT
ĐỘNG BÀO
CHƢƢA , BẢO VỆ
QUYỀN
......
......
......
......
LỢI
......
CHO
......
ĐƢƠNG
SƢ ̣
.40
2.1.
TRONG
TTHS
2.2.1.
Hoạt động bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý ..........................................50 Hoạt
2.2.2.
động bảo vệ quyền lợi cho đương sự của Trợ giúp viên pháp lý .......55
2.3.
Đánh giá chung về hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho
đƣơng sự trong tố tụng hình sự của Trợ giúp viên pháp lý tại tỉnh
Yên Bái .......................................................................................................57
2.3.1.
Kết quả đạt được .........................................................................................57 Một
2.3.2.
số tồn tại, hạn chế ................................................................................58 Nguyên
2.3.3.
nhân ...............................................................................................60
Tiểu kết chƣơng
2 ....................................................................................................62
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA, BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CHO ĐƢƠNG SỰ TRONG TTHS CỦA
Hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền
bào
chữa, bảo vệ quyền lợi cho đƣơng sự trong tố tụng hình sự
cc
T
Mh
b
ữ
a
,
b
ả
o
v
ệ
q
u
y
ề
n
l
ợ
i
c
h
o
đ
ƣ
3.3.5.
Tăng cường sự hợp tác quốc tế và trao đổi về kinh nghiệm .......................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ Luật Tố tụng hình sự
CQTHTT
Cơ quan tiến hành tố tụng
NTHTT
Người tiến hành tố tụng
TGPL
Trợ giúp pháp lý
TGVPL
44
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ vụ việc trợ giúp pháp lý về hình sự trên địa bàn tỉnh Biểu đồ
45
2.5: Tỷ lệ % vụ việc TGVPL và chuyên viên thực hiện TGPL
48
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ % vụ việc tham gia TTHS của TGVPL và Luật sư
52
Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ % các đối tượng được TGPL trong TTHS
52
Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ án sơ thẩm trên địa bàn tỉnh có người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự
59
Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ án phúc thẩm trên địa bàn tỉnh có người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự
59
Ngoài ra, để thực hiện đúng và thống nhất các quy định của Luật trợ giúp pháp lý
trong hoạt động tố tụng, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao đã có các Thông tư liên ngành hướng
dẫn. Tuy nhiên, thực tế tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng nói
chung và việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng
tác viên pháp lý khi tham gia tố tụng hình sự nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc. Những khó khăn, vướng mắc này xuất phát từ cơ chế, nhận thức của một số cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Ở Việt Nam, Trợ giúp pháp lý được biết đến như là một trong những chính sách
xã hội rộng lớn thể hiện bản chất tốt đẹp của nền Tư pháp nhân dân. Trợ giúp pháp lý không
chỉ giúp người nghèo, đối tượng chính sách và những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt
được tiếp cận pháp luật, hỗ trợ họ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp mà còn góp phần xây
dựng và hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật. Đây cũng là một trong những hoạt động
thể hiện đậm nét truyền thống, đạo lý tương thân, tương ái "lá lành đùm lá rách", "đền ơn
đáp nghĩa" của dân tộc, phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
và xu thế phát triển của cộng đồng quốc tế. Trong các hình thức trợ giúp pháp lý cho các
đối tượng được trợ giúp pháp lý thì thực tiễn cho thấy tham gia tố tụng là hoạt động có
hiệu quả nhất trong việc bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng. Nên để tăng
cường hiệu quả hơn nữa chính sách về trợ giúp pháp lý, ngày càng nâng cao hiệu quả bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý thì việc xác định vị trí,
vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của trợ giúp viên pháp lý, luật sư là cộng tác viên trong
hoạt động tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng.
Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trong
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ
Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020"; và Nghị quyết số
bào chữa, hoạt động bảo vệ quyền lợi cho đương sự vụ án hình sự của trợ giúp viên pháp lý
tại tỉnh Yên Bái. Đồng thời phân tích làm rõ những khó khăn, tồn tại, hạn chế xung quanh
việc áp dụng tại tỉnh Yên Bái.
- Từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động
tham gia tố tụng hình sự của TGVPL nói chung và những giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của trợ giúp viên pháp lý khi tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho đương sự
trong TTHS trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
5
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh việc tham gia
bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong TTHS của TGVPL và thực tiễn tại tỉnh Yên
Bái; những tồn tại hạn chế, từ đó kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và
nâng hiệu quả hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong TTHS của
TGVPL tại tỉnh Yên Bái.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho
đương sự trong TTHS của TGVPL tại tỉnh Yên Bái từ 2006 đến 2013.
4. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử
và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự,
về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và
các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp
cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp;
phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp;
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI BÀO CHƢƢA, NGƢỜI BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CHO ĐƢƠNG SƢ ̣ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LÀ
TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ
1.1. Ngƣời bào chƣƢa, Ngƣời bảo vê q ̣ uyền lơị cho đƣơng sƣ ̣ trong tố tụng
hình sự
1.1.1. Người bào chữa
Hiêṇ nay có nhiều quan đ iểm khac nhau về quyền bao chưa . Có quan điểm
cho rằng: "quyền bào chữa làtổng hòa tất cảcác hành vi tốtụng hướng tới viêcbãi
c
bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm g
iảm trách nhiệm
của bị can" [22].
Có quan điểm cho rằng , "quyền bào chữa không chỉ thuộc về bi cc an , bị cáo
mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội , người bi kc ết án , người bào chưa , bị
đơn dân sự và người đại diên hợp pháp của họ" [47].
Quan điểm khác lại cho rằng:
Quyền bao chưa trong BLTTHS là tổng hòa cac hanh vi tố tung do
người bi ṭ am giữ, bị can, bị cáo, người bi ḳ ết án thưc hiêṇ trên cơ sở phù
hơp với quy điṇ h của phap luâṭ nhằm phủ nhâṇ môṭ phầ n hay toan bô ̣ sự
buôc tôị
̣ của cơ quan tiến hành tố tung , làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách
nhiêm hình sựcủa mình trong vu án
̣ hình sự[26].
cả các hành vi / phương thức mà phap luâṭ quy đ ịnh cho người bi ṭ am giữ , bị can, bị
cáo sử d ụng trong các giai đo ạn của quá trình TTHS để chống laị sự buôc ̣tôị hoăc ̣
làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ.
Để thực hiện quyền bào chữa người bị tạm giam, bị can, bị cáo có thể thực hiện
bằng một thông qua một hoặc cả hai phương thức là tự mình bào chữa và nhờ
người khac bao chữa.
Về phương thức tự mình bào chữa: Đây là hình thức mà người bi ṭ am giữ , bị
can, bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật quy định cho họ trong việc chứng minh
sự vô tôị hoăc ̣lam giảm nhe ṭ ôị cho minh. Như vâỵ , người bi ṭ am giữ, bị can, bị cáo
đươc sử dung nhưng hiểu biết về phap luâṭ của minh để chống laị sự buôc tôị
̣ hoăc ̣
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình . Họ có thể thực hiện quyền tự b ào chữa của
mình bằng cách đề xuất chứng cứ , nhâṇ xét và đánh giá chứng cứ , đưa ra yêu cầu ,
tranh luâṇ trước tòa, kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án .
Về phương thức nhờ người khác bào chữa: Đây là hinh thức mà người bi ṭ am giư,,̃ bị
can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa thông qua người bào chữa .
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ghi nhận hai phương thức bào chữa trên.
Điều 11 BLTTHS quy định:
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của
Bộ luật này [30, Điều 11].
Tuy nhiên, BLTTHS chưa đưa ra khái niệm về người bào chữa chỉ đưa ra các
đối tượng được thực hiện bào chữa. Khoản 1 Điều 56 BLTTHS quy định:
9
10
giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch hoặc
làngười Việt Nam ở nước ngoài.
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào
chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay chế định bào chữa viên nhân dân chưa được cụ thể
hoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào. Do chưa có quy định cụ thể nên hầu
như chưa có sự tham gia của các bào chữa viên nhân dân tại các phiên tòa kể cả hình sự
lẫn dân sự, hành chính v.v.. Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của Bộ luật TTHS quy định về
người bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của bào
chữa viên nhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho bị can
, bị cáo ,
người bị hại... Thực tế hiêṇ nay hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không
được tổ chức thành một hệ thống, chưa có quy định nào cụ thể, chi tiết về điều kiện, tiêu chuẩn để
được công nhận là bào chữa viên nhân dân, hiện nay trong xã hội có nhiều người có trình độ
pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp vào đoàn Luật sư và
họ lại được bị can, bị cáo nhờ bào chữa.
Có thể nói , viêc bao
đam q uyền bao chưa thông qua người bao chưa là môṭ
̣
đảm bảo rất quan trong vì nhiều trường hơp người bi ṭ am giữ , bị can, bị cáo không
hiểu biết về phap luâṭ thì ho ̣ không thể tự minh sử dung hết cac quyền mà phap luâṭ
quy điṇ h cho ho ̣ để có thể bảo vê q̣ uyền lơị cho minh
, họ cũng không thể biết và
nắm bắt hết đươc các hoaṭđông tốtung của cơ quan tiến hành tốtung cóvi pham
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến
việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng;
- Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của
Bộ luật này.
Khi tham gia tố tụng, người bào chữa có các nghĩa vụ:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình
tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ
án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải
được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này;
12
- Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ;
- Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình
đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;
- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi
giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
- Có mặt theo giấy triệu tập của Toà án;
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc
bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên
nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận
bảo vệ quyền lợi cho mình [30, Điều 59, Khoản 1].
Như vậy, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự là người được người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự nhờ
và được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình.
Người bảo vệ quyền lợi có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được
chấp nhận. Việc xác định một người có phải là người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong
vụ án hình sự hay không phải do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định.
Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án hình sự muốn nhờ người khác
bảo vệ quyền lợi cho mình thì người đó phải là nhờ luật sư, bào chữa viên nhân
dân hoặc người khác và người đó phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà
án chấp nhận. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự được tham gia tố tụng từ
khi khởi tố bị can. Khi tham gia TTHS, người bảo vệ quyền lợi của đương sự được
pháp luật đảm bảo các quyền để đảm bảo hoạt động bảo vệ quyền lợi cho đương sự, đồng
thời phải tuân thủ đúng các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Theo quy định, khi tham gia tố tụng, Người bảo vệ quyền lợi cho đương sự có
quyền: a) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; b) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ
sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự sau khi kết thúc điều tra theo
quy định của pháp luật; c) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
14