CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
………………………….
Bà Rịa Vũng Tàu, ngày 13 tháng 11 năm 2007
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Hội Đồng xét xử phúc thẩm
Tôi là Lê Hoàng Hà, luật sư của Văn phòng luật sư Hoàng Hà , theo yêu cầu
của thân chủ tôi là bà Võ Thị Hận và được sự chấp nhận của quý Tòa, hôm nay tại
phiên Tòa Sơ thẩm dân sự này, tôi xin được thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền lợi
chính đáng và hợp pháp của thân chủ tôi là bị đơn trong vụ kiện : “yêu cầu ly hôn,
tranh chấp tài sản”.
Thứ nhất: Về yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện của Nguyên đơn.
Trong hồ sơ vụ án có các đơn khởi kiện sau đây của Nguyên đơn:
- Đơn khởi kiện xin chia thừa kế ngày 16/6/2004
- Có 2 Đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2004
- Đơn xin chia thừa kế đề ngày 27/8/2004
- Đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 5/7/2005
- Đơn xin thay đổi nội dung khởi kiện ngày 6/9/2005.
Tại Đơn ngày 6/9/2005 có nội dung: Tôi làm đơn này đề nghị tòa án “phân chia tài
sản chung có nguồn gốc là di sản của bố mẹ để lại cho hai chị em (bà Phạm Thị
Lưu và ông Phạm Văn Thanh) gồm: ngôi nhà cấp 4, 2 cây nhãn trên diện tích đất
327m2 và 1 cái ao diện tích 388m2 tại tổ 9 phường Thượng Thanh, Long Biên, Hà
Nội”. Và “bằng đơn này tôi xin rút lại các đơn khởi kiện trước đây về thừa kế”. Tại
phiên tòa hôm nay Nguyên đơn cũng xác định rõ yêu cầu khởi kiện của mình là
chia tài sản chung. Do vậy chúng tôi xác định Đơn ngày 6/9/2005 là chính thức
thay thế các đơn khác trước đó của Nguyên đơn.
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 59 BLTTDS quy định về quyền và nghĩa vụ của
như sau:
-Một là về huyết thống: Bà Phạm Thị Lưu (Nguyên đơn) và ông Phạm Văn Thanh
(Bị đơn) là 2 chị em ruột. Bố mẹ của họ là cụ ông Phạm Văn Thông và cụ bà Phạm
Thị Lư. Ngòai 2 chị em họ ra bố mẹ của họ không có con nuôi con riêng nào khác.
Như vậy là cả Nguyên đơn và Bị đơn không có tranh chấp về hàng thừa kế.
- Hai là về di sản của bố mẹ để lại: Cả bà Lưu và ông Thanh đều thống nhất khai:
Tài sản của bố mẹ để lại (có nguồn gốc là của ông bà nội để lại cho bố mẹ) là 2 bất
động sản: 1 là thửa đất ở diện tích 357m2 (trên còn ngôi nhà cấp 4 và 2 cây nhãn)
và thửa đất ao có diện tích 378m2 tờ bản đồ sồ 9 Bản đồ địa chính xã Thượng
Thanh, Long biên, Hà Nội. Hiện nay thửa đất ao của bố mẹ họ để lại nằm trong
thửa ao số 99 bản đồ năm 1993 chung với các hộ liền kề là ông Nguyễn Văn Tề, bà
Phạm Thị Nhuận và bà Nguyễn Thị Khuy.
Cụ Thông mất năm 1975 còn cụ Lư mất năm 1993, cả hai không để lại di chúc
định đọat khối tài sản này, khi bố mẹ còn sống cũng chưa phân chia cho 2 chị em.
Sau khi bố mất năm 1975 mẹ là cụ Lư cũng không hề gọi 2 chị em đến để phân
chia tài sản. Sau khi mẹ chết đi năm 1993 hai chị em cũng không hề có sự phân
chia di sản của bố mẹ để lại.
Hiện nay ông Thanh quản lý sử dụng cả thửa ao lẫn thửa đất thổ cư. Còn bà Lưu
thì ở trên đất của nhà chồng.
Như vậy là cả bà Lưu và ông Thanh đều thừa nhận di sản của bố mẹ để lại chưa
chia.
Qua các văn bản là chứng cứ do Tòa án quận Long Biên thu thập được trong quá
trình giải quyết vụ án cho thấy thỏa mãn các điều kiện để chuyển hóa di sản do
người chết để lại trở thành tài sản chung của những người thừa kế thụôc hàng thứ
nhất của người chết theo quy định của Nghị quyết số 02 ngày 10/8/2004 của
HĐTP-TANDTC. Căn cứ khoản 2 điều 80 BLTTDS quy định những tình tiết sự
kiện không phải chứng minh là “sự thừa nhận của các đương sự”. Do đó không
phải chứng minh nhiều về các điều kiện chuyển di sản thành tài sản chung.
mẹ đứng tên. Chứ tại địa phương không hề có tên Dư và từ trước đến nay không có
ai tranh chấp 2 thửa đất này. Bà Lưu còn cho rằng việc thửa đất ở ghi tên Lưu là có
thể theo địa phương quen ghi tên con lớn.
Lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án do
Nguyên đơn xuất trình cụ thể là xác nhận của ông Bành Ty tổ trưởng tổ dân phố và
của ông Ngô Văn Đường nguyên là cán bộ địa chính xã Thượng Thanh thời kỳ
năm 1985, và phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án quận Long Biên tại UBND
phường Thượng Thanh.Căn cứ xác nhận của ‘các ông bà Phạm Thị Nhuận,
Nguyễn Văn Tề, Nguyễn Thị Khuy do bà Lưu cung cấp cho tòa án và căn cứ các
kết quả xác minh ngày 7/9/2006 của Tòa án quận Long Biên đối với bà Phạm Thị
Nhuận và bà Nguyễn Thị Khuy là hai chủ sử dụng ao liền kề với thửa ao của cụ Lư
thì họ đều khai thửa ao 388m2 là của cụ Phạm Thị Lư -mẹ của bà Lưu và ông
Thanh và giấy tự khai ngày 26/5/2006 của ông Nguyễn Văn Tề cũng thống nhất
với bà Nhuận và bà Khuy. Từ trước đến nay tại địa phương cũng không có ai tên là
Dư tranh chấp quyền sử dụng thửa ao này.
Tóm lại: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định về sử dụng đất như sau:
Tuy trong sổ mục kê ghi là Dư và Lưu nhưng căn cứ xác nhận của các chủ sử dụng
ao liền kề, kết quả xác minh của Tòa án quận Long Biên tại UBND phường
Thượng Thanh ngày 23/8/2006 thì đó là sự nhầm lẫn chứ thực tế tên chủ sử dụng
Phạm Thị Lư-là mẹ của ông Thanh và bà Lưu. Lý do nhầm lẫn là năm 1985 (lúc đó
cụ Thông đã mất) chính quyền xã mời Trường đại học nông nghiệp I tiến hành đo
vẽ bản đồ và cán bộ dẫn đạc đã sơ suất ghi nhầm tên chủ sử dụng đất. Tình trạng
này là phổ biến tại địa phương.
Tại Biên bản xác minh ngày 23/8/2006 tại UBND phường Thượng Thanh cung cấp
cho tòa án như sau: ” thửa ao số 465 diện tích 378m2. Do sổ mục kê chủ sử dụng
đất năm 1960 đã bị thất lạc địa phương không còn lưu giữ nhưng thửa ao này địa
phương thừa nhận là của cha ong ông Thanh chết đi để lại. Vẫn thửa ao này tại
bản đồ địa chính năm 1985 thể hiện thửa số 279 diện tích 388m2 tờ bản đồ số 8, sổ
Ghi chú: Mục đích viện dẫn và phân tích như nêu trên là để chứng minh tòa án giải
quyết yêu cầu của Nguyên đơn mà không cần áp dụng quy định thời hiệu khởi kiện
về quyền thừa kế (10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế).
Các vấn đề tiếp theo cần phải xác định trong việc giải quyết vụ án này bao gồm:
*Về xác định bản đồ địa chính nào làm căn cứ để tòa án giải quyết đối với các thửa
đất
- Thửa đất ao: Ngày 16/8/2005 tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đã
thống nhất lấy bản đồ địa chính năm 1960 để xác định ranh giới vì có 3 hộ đã san
lấp ao chỉ còn phần ao của cụ Lư chưa san lấp diện tích đo thực tế là 378m2 chứ
không theo số đo của bản đồ 1985 (388m2).
- Thửa đất ở: Theo bản đồ 1985 số đo là 327m2, bản đồ địa chính năm 1993 lại
tách thành 2 thửa: số 117 và 250 và chỉ có 253m2. Tức là trích lục bản đồ năm
1993 so với trích lục bản đồ năm 1985 bị hụt đi mất 75 m2.
Theo lời khai của bà Lưu và ông Thanh thống nhất đó là sai sót do đo đạc của địa
chính chứ hiện trạng đất vẫn nguyên từ xưa của bố mẹ để lại, không có việc ông
Thanh bán bớt hay lấn chiếm. Mặt khác việc ghi sai tên, sai diện tích ở tại địa
phương trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính là có thật. Do vậy bà Lưu đề
nghị tòa án căn cứ Biên bản xem xét tại chỗ ngày 16/8/2005 để xác định diện tích
thực tế là 357m2 là có cơ sở. Theo UBND phường Thượng Thanh cung cấp “có thể
ông Thanh lấn 29m2 do xây tường ra phía ngõ”. Theo quan điểm của luật sư cung
cấp như vậy là không có cơ sở vì UBND địa phương không khẳng định mà cho là
“có thể”. Bản thân bà Lưu cũng không thừa nhận việc ông Thanh tôn tạo thêm diện
tích này (29m2) cụ thể tại phiên tòa bà Lưu phản bác việc địa phương cho rằng ông
Thanh lấn ra ngõ là: ” Vì bản thân tường ở ngõ cũng bị xây thụt vào thì không thể
bảo là lấn ra ngõ được”. Mặt khác chính ông Thanh cũng thừa nhận tại phiên tòa là
“không có gì thay đổi về hiện trạng đất từ trước đến nay” nên luật sư đề nghị tòa án
như sau: Căn cứ khoản 8 điều 83 BLTTDS về xác định chứng cứ thì “kết quả định
gía tài sản cũng được coi là chứng cứ”. Do đó đề nghị tòa án căn cứ Biên bản định
di sản của bố mẹ để lại.
Thứ năm: Về căn cứ để phân chia tài sản chung:
Để giải quyết yêu cầu phân chia khối tài sản chung tôi đề nghị tòa án căn cứ tiểu
mục a3 tiểu mục 2.4 phần I Nghị quyết số 02 quy định các trường hợp giải quyết
về chia tài sản chung là: “Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không
có thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc
chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định pháp luật về chia tài sản
chung”.
Vì hai chị em bà Lưu và ông Thanh chưa có sự bàn bạc về chia tài sản chung nên
hai thửa đất và ao nêu trên được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Căn cứ khoản 2 điều 217 BLDS quy định: “ Các chủ sở hữu chung hợp nhất có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung”.
Như vậy theo nguyên tắc thì Tòa án chia đôi tài sản chung.
* Về yêu cầu của ông Thanh đề nghị tòa án chia thửa đất thổ cư chứ không chia
thửa ao: Trong vụ án này ông Thanh là bị đơn, căn cứ điểm c khoản 1 điều 60 và
điều 176 BLTTDS quy định Bị đơn có quyền phản tố hoặc có yêu cầu đối trừ đối
với yêu cầu của Nguyên đơn và phải có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí theo quy định
của pháp luật (khoản 1 điều 130 BLTTDS). Theo quy định tại điều 178 BLTTDS
nếu ông Thanh có đơn phản tố thì phải làm thủ tục khởi kiện như Nguyên đơn và
phải gửi kèm theo đơn kiện các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Nhưng ông Thanh không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng này nên tòa án
không thể giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và kể cả tính công sức trông nom,
duy trì tôn tạo phát triển khối tài sản chung (nếu có) của ông và công san lấp ao.
* Về công sức: Căn cứ lời khai và tài liệu trong hồ sơ chỉ thể hiện vợ chồng con cái
ông Thanh có công sức đối với thửa đất thổ cư ông đang ở. Nhưng gia đình ông
cũng sử dụng thửa đất này và bà Lưu không yêu cầu chia đối với thửa đất này nên
không cần thiết xét công sức.
Đối với thửa ao, ông Thanh không có tài liệu gì để chứng minh có công sức duy trì,
định giá là trái quy định của pháp luật.
Mặt khác như trên đã phân tích nếu ông Thanh không có đơn yêu cầu và không
nộp dự phí thì tòa án không xem xét yêu cầu tính công sức của ông.
Về tính cụ thể: Căn cứ Biên bản định giá ngày 16/8/2005, Hội đồng định giá trị
giá quyền sử dụng đất là 4.500.000 đồng/m2, phần đất ao giá trị là
3.000.000đồng/m2.
Nếu tính tổng giá trị thì thửa đất thổ cư có giá trị hơn thửa đất ao. Cụ thể :Giá trị
thửa đất thổ cư là: 4.500.000đ/1m2 x 357m2= 1.606.500.000 đồng. Ngoài ra trên
thửa đất này còn có giá trị di sản nhà và 2 cây nhãn. Gía trị thửa đất ao là:
3.000.000đ/1m2 x 378m2= 1.134.000.000 đồng. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của bà
Lưu thì từ trước đến nay bà Lưu chỉ đề nghị chia thửa ao để sử dụng. Như vậy giá
trị tài sản mà bà Lưu được ít hơn ông Thanh, và bà Lưu phải bỏ tiền ra để thuê san
lấp ao (và vì ao sâu nên sẽ rất tốn kém). Nhưng bà Lưu tự nguyện xin hưởng cái ao
và không đề nghị ông Thanh thanh toán chênh lệch. Xét đây là sự tự nguyện và
không trái pháp luật của bà Lưu đề nghị HĐXX chấp nhận.
Căn cứ biên bản hòa giải tại phường Thượng Thanh và sau này tại tòa án thì ông
Thanh chỉ chấp nhận chia cho bà Lưu được sử dụng 1 nửa ao là chưa thỏa đáng và
thiệt thòi cho bà Lưu nên yêu cầu của bà Lưu về chia cho sử dụng tòan bộ ao là
hợp lý.
Theo quan điểm của luật sư việc chia cho bà Lưu sử dụng cái ao còn hợp lý ở chỗ:
Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2005 thể hiện thửa ao nằm
độc lập riêng rẽ. không nằm chung với thửa đất thổ cư mà ông Thanh và gia đình
đang ở do đó chia cho bà Lưu sử dụng tòan bộ ao là hợp lý. Mặt khác trên đất thổ
cư của ông Thanh có công sức của vợ ông Thanh và các con nên việc chia vào đất
này sẽ phức tạp có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên quan.,
Xét thực tế thì ông Thanh đã ở ổn định trên thửa đất thổ cư và đã có công sức tôn
tạo nên đề nghị tòa án chia cho ông Thanh sử dụng nguyên trạng thửa đất thổ cư.
Còn thửa ao đến nay vẫn chưa san lấp, thì cả ông Thanh và bà Lưu chưa có đóng