I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH HOA
TộI TRốN THUế
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH HOA
TộI TRốN THUế
THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG
H NI - 2015
Các tình tiết định khung tăng nặng đối với tội trốn thuế ............. 25
1.2.1. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 2 Điều 161 BLHS ....................... 25
1.2.2. Các tình tiết tăng nặng theo khoản 3 Điều 161 BLHS ....................... 26
1.3.
Các hình phạt đối với tội trốn thuế ................................................ 27
1.3.1. Hình phạt tiền ..................................................................................... 29
1.3.2. Hình phạt cải tạo không giam giữ ...................................................... 30
1.3.3. Hình phạt tù có thời hạn ..................................................................... 30
1.4.
Phân biệt tội trốn thuế với một số tội phạm về kinh tế khác ....... 31
1.4.1. Phân biệt tội trốn thuế với tội buôn lậu .............................................. 31
1.4.2. Phân biệt tội trốn thuế với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản .................. 32
1.4.3. Phân biệt tội trốn thuế với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành séc giả, các giấy tờ có giá khác ................................................. 33
1.5.
Tổng quan về tội trốn thuế trong pháp luật hình sự Việt
Nam từ năm 1945 đến năm 1999 .................................................... 36
1.5.1. Từ năm 1945 đến năm 1985............................................................... 36
1.5.2. Từ năm 1985 đến năm 1999 ............................................................... 39
Chƣơng 2: THỰC TIẾN XÉT XỬ TỘI TRỐN THUẾ TRÊN ĐỊA
3.3.
Các giải pháp đảm bảo việc xét xử tội trốn thuế trên địa bàn
thành phố Hà Nội đúng pháp luật .................................................. 71
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn thi hành pháp luật...................... 71
3.3.2. Tăng cường công tác kiểm tra và phát triển án lệ .............................. 74
3.3.3. Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng và luật sư ................ 76
3.3.4. Một số giải pháp khác ........................................................................ 78
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 86
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABC:
Ngân hàng thương mại Á châu
BLHS:
Bộ luật hình sự
CAND:
Công an nhân dân
CTTP:
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Bảng 2.1. Tình hình thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội đối với tội trốn thuế từ năm 2010 đến năm 2014
Bảng 2.2. Hình phạt chính áp dụng đối với các bị cáo phạm tội
trốn thuế
Trang
86
86
Bảng 2.3. So sánh tội trốn thuế và các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến
năm 2014
87
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo pháp luật của mỗi người dân với
đất nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để trang trải
cho các chi phí vì lợi ích chung của toàn xã hội như đường xá, cầu cống, bệnh
viện, trường học… Bất kì một quốc gia nào tại bất kì thể chế chính trị nào
nhà nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Tuy nhiên, bên cạnh đa
số doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nhận
thức được nghĩa vụ đóng thuế của mình thì vẫn có không ít đối tượng trốn
thuế với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt. Tùy tính chất, mức độ vi
phạm mà người có hành vi trốn thuế phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc
phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 161 BLHS 1999 (đã sửa đổi, bổ sung
năm 2009) (sau đây gọi là BLHS năm 1999). Trên thực tế hiện nay các hành
vi trốn thuế chủ yếu là bị xử phạt hành chính, việc xử lý hình sự còn hạn chế.
Đồng thời việc xử lý hình sự bên cạnh những kết quả đạt được góp phần răn
đe, giáo dục người phạm tội trốn thuế cũng như những người có ý định trốn
thuế thì cũng còn bộc lộ một số hạn chế, sai lầm do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan nhất định.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Tội trốn thuế theo luật hình sự Việt
Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” mang tính
cấp thiết không những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi BLHS năm 1985 được ban hành, tội trốn thuế đã được đề cập
trong các giáo trình, sách pháp lý, đề tài nghiên cứu như: Giáo trình luật hình
sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam, tập II của trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
1998; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư
pháp, XNB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987 (tái bản năm 1992,1997).
2
Sau khi BLHS năm 1999 ra đời, tội trốn thuế được đề cập trong công
trình: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa luật –
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Giáo
phố Hà Nội và đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế những vi
phạm sai lầm ấy.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành của tội trốn thuế;
- Nghiên cứu, phân tích những dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế, so sánh
tội trốn thuế với một số tội khác có liên quan từ đó rút ra những tồn tại, hạn chế
của các quy định về tội trốn thuế trong luật thực định Việt Nam cần khắc phục;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
tội trốn thuế, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh
việc áp dụng;
- Từ đó đề xuất những hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của
pháp luật về tội trốn thuế trong Bộ luật hình sự Việt Nam cũng như các giải
pháp đảm bảo cho việc xét xử tội trốn thuế đúng pháp luật.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
tội trốn thuế, thực tiễn xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tội trốn thuế dưới góc độ pháp lý hình sự, và tình
hình tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
4
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
gồm 3 chương
Chương 1. Một số vấn đề chung về tội trốn thuế theo quy định của
luật hình sự Việt Nam.
Chương 2.
Thực tiễn xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3. Nguyên nhân của những vi phạm sai lầm và các giải pháp
bảo đảm việc xét xử tội trốn thuế trên địa bàn thành phố
Hà Nội đúng pháp luật.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỐN THUẾ
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế
1.1.1. Khái niệm tội trốn thuế
Theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế thì ta có thể thấy
bản chất của thuế là loại quan hệ phân phối gắn với Nhà nước, loại quan hệ
giữa Nhà nước với người nộp thuế. Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc
mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có các điều kiện nhất
định [36, tr.10]. Tuy nhiên trên thực tế, không phải ai cũng thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ thuế cho Nhà nước. Có nhiều hình thức vi phạm về nghĩa vụ thuế,
trong đó trốn thuế là một trong những hành vi vi phạm làm thất thu nguồn
ngân sách Nhà nước.Trốn thuế là không nộp thuế cho nhà nước theo quy định
của pháp luật [18, tr.111]. Là việc người có nghĩa vụ nộp thuế thực hiện các
phương thức mà pháp luật không cho phép để làm giảm số thuế phải nộp hoặc
không phải nộp thuế. Hành vi trốn thuế tùy vào mức độ khác nhau có thể bị
trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội thể hiện bằng việc không nộp thuế
cho Nhà nước theo quy định của pháp luật do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế của nhà nước.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trốn thuế
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cấu thành tội phạm là tổng hợp
những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy
định trong luật hình sự [37, tr.74]. Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm
pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định
trong luật hình sự.
Về mặt lý luận CTTP gồm bốn yếu tố là: khách thể của tội phạm, mặt
khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm.
8
Theo quy định tại điều 161 BLHS năm 1999, các dấu hiệu pháp lý của bốn
yếu tố cấu thành tội trốn thuế bao gồm:
1.1.2.1. Khách thể của tội trốn thuế
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại [37, tr.86]. Theo luật hình sự Việt Nam, khách thể của tội
phạm là các quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS 1999.
Mỗi một tội phạm đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một hoặc
một số khách thể nhất định. Khách thể của tội phạm là một trong những căn
cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Tội trốn thuế là một trong những tội được quy định tại Chương XVI
của BLHS với tên gọi: “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”. Do đó,
khách thể mà tội trốn thuế xâm hại là trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật
tự quản lý việc thu thuế, nộp ngân sách Nhà nước. Xâm hại đến nền kinh tế
quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước. Khách thể trực tiếp của tội
có những thủ đoạn gian dối khác để không phải nộp số tiền thuế mà theo quy
định của pháp luật họ phải nộp.
Hành vi trốn thuế chỉ bị coi là tội phạm khi số tiền trốn thuế từ 100
triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính
về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy
định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194,
195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm.
Tuy nhiên không phải mọi hành vi trốn tránh việc nộp thuế đều bị coi là
tội trốn thuế.Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn nhất định người có
nghĩa vụ nộp thuế phải đóng vào ngân sách nhà nước một khoản tiền nhất
định, người nộp thuế không có thủ đoạn gian dối để trốn thuế mà chỉ có hành
vi chây ỳ không chịu nộp thuế thì không phải là hành vi trốn thuế mà tùy theo
từng trường hợp mà người chây ỳ nộp thuế có thể bị xử phạt hành chính theo
quy định của pháp luật.
10
Nếu sau khi đã nộp đủ số tiền thuế cho Nhà nước, nhưng sau đó lại
dùng thủ đoạn gian dối để được hoàn thuế thì hành vi của người phạm tội là
hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ví dụ: Lợi dụng chính sách hoàn thuế giá
trị gia tăng, một số cá nhân, doanh nghiệp đã dùng thủ đoạn gian dối làm thủ
tục hoàn thuế giá trị gia tăng.
Hành vi trốn thuế có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau
nhưng đều có chung một mục đích là không phải nộp một khoản tiền hoặc
nộp ít hơn nhiều số tiền thuế mà họ có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà
nước. BLHS Việt Nam không mô tả cụ thể hành vi trốn thuế nhưng trong các
văn bản dưới luật đã có hướng dẫn chi tiết thế nào là hành vi trốn thuế.
Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCATANDTC-VKSNDTC- BTC ngày 26/6/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa
án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn
- Cấu kết với người gửi hàng hóa để nhập khẩu hàng hóa
nhằm mục đích trốn thuế.
- Sử dụng hàng hóa được miễn thuế không đúng mục đích
quy định mà không khai thuế [23, Điều 108].
Với các hành vi trên mục đích cuối cùng của người trốn thuế là làm giảm
số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm.
Hành vi khai báo gian dối trong trốn thuế là hành vi để phân biệt tội trốn
thuế với hành vi vi phạm hành chính - dây dưa không nộp thuế. Cùng là việc
không nộp thuế theo quy định của pháp luật, xong dây dưa không nộp thuế là
hành vi vi phạm về thu nộp tiền thuế nhưng người phải nộp thuế không có hành
vi gian dối trong việc kê khai thuế, mở, ghi chép sổ sách kế toán cũng như sử
dụng hóa đơn chứng từ….Hành vi dây dưa không nộp thuế chỉ bị coi là hành vi
vi phạm hành chính và bị xử lý bằng các biện pháp hành chính.
Trên thực tế để trốn thuế, người phạm tội thường sử dụng nhiều thủ
đoạn khác nhau như:
12
- Không kê khai thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế thì kê khai thuế là một trong
những hoạt động mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ khai, nó giúp cơ quan
chức năng quản lý một cách hiệu quả về thuế của các cá nhân và doanh
nghiệp, nó là cơ sở để cơ quan chức năng tính thuế. Tuy nhiên một số doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, một số hoạt động lại không kê
khai thuế nhằm trốn thuế. Chẳng hạn như: Công ty xây dựng Bắc Hà, sau khi
đi vào hoạt động một thời gian, công ty này bán 50 % cổ phần cho một doanh
nghiệp khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng vốn. Tuy nhiên lợi nhuận từ
việc chuyển nhượng này không được công ty kê khai thuế. Việc không kê
khai đã giúp công ty trốn 590 triệu đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà
môi giới:
Theo bản án số 394/2013/HSST ngày 02/10/2014 của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội: Lê Quốc Quân đã thuê Phạm Thị Phương làm kế toán
ngoài giờ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam từ tháng 8
năm 2008 với công việc là làm sổ sách, cân đối sổ sách, báo cáo quyết toán
cho công ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam. Để trốn thuế Lê Quốc
Quân đã chỉ đạo Lê Thị Phương lập khống các hợp đồng tư vấn môi giới
thương mại, cụ thể là tìm những người quen có bằng kế toán, tài chính,
chuyên gia kinh tế… rồi lấy thông tin của họ để lập hợp đồng tư vấn môi giới
thương mại khống với công ty. Năm 2010 và 2011 Phương đã lập khống
nhiều hợp đồng với 09 chuyên gia tư vấn để họ ký khống cho công ty. Tại văn
bản số 32640 ngày 12/12/2012 của Cục thuế thành phố Hà Nội kết luận: Công
ty trách nhiệm hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã lập khống hồ sơ thuê chuyên
gia trong hai năm 2010 và 2011 với số tiền 1.750.000.000 đồng. Hành vi này
là trốn thuế thu nhập doanh nghiệp 437.500.000 đồng.
Đồng thời, để trốn thuế Quân đã chỉ đạo Phạm Thị Phương mua hóa
14
đơn GTGT khống hàng để kê khai nhằm tăng chi phí của doanh nghiệp để
trốn thuế. Thực hiện hành vi này, từ năn 2009 đến 2011 Công ty trách nhiệm
hữu hạn Giải pháp Việt Nam đã sử dụng 61 tờ hóa đơn GTGT khống hàng,
khống doanh số để kê khai, làm tăng chi phí cho công ty với số tiền:
859.050.789 đồng. Toàn bộ số hóa đơn này đã được Phạm Thị Phương đưa
vào kê khai chi phí của Công ty tại Chi cục thuế quận Cầu Giấy và đã trốn
212.262.697 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên 01 hóa đơn
GTGT năm 2009 với số tiền là 18.150.000 đồng (4.537.500 tiền thuế), do tài
liệu giám định không có báo cáo tài chính, quyết toán thuế thu nhập doanh
nghiệp, do đó không đủ cơ sở để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải
thu, phải trả; bán phế liệu không xuất hóa đơn, không ghi nhận doanh thu
hoặc hạch toán giảm chi phí sản xuất.
Các dạng hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập
doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chủ yếu là: hạch toán
toàn bộ chi phí mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản vào chi phí quản lý
doanh nghiệp; hạch toán vào chi phí được trừ các khoản chi từ thiện…
- Khai sai chủng loại hàng hoá
Để trốn thuế nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp cố tình khai sai tên hàng
hóa, chủng loại hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm số thuế phải nộp.
Chủ yếu là khai sai mã số hàng từ mã hàng có thuế suất cao sang mã hàng có
thuế suất thấp. Nhiều trường hợp, người nộp thuế lợi dụng sự phức tạp của
các hàng hóa là các hỗn hợp, các hóa chất khó phân biệt, xác định bằng cảm
quan để khai theo hướng có lợi cho mình. Hay người nộp thuế, trốn thuế bằng
cách nhập khẩu hàng hóa là sản phẩm hoàn chỉnh nhưng lại tháo bớt một số
bộ phận để trở thành hàng hóa chưa hoàn thiện nhằm hưởng thuế suất thấp
của hàng linh kiện;
- Khai sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu
Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 87/2010/NĐ- CP ngày
16
13/8/2010 thì thuế suất thuế nhập khẩu của Việt Nam được phân biệt theo
xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Các doanh nghiệp lợi dụng việc áp dụng thuế
suất ưu đãi đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc
vùng lãnh thổ có thoả thuận ưu đãi đặc biệt với Việt Nam, theo thể chế khu
vực thương mại tự do, liên minh thuế quan …, các chủ hàng hóa cố tình khai
sai xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và làm các giấy chứng nhận xuất xứ giả để
được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt.
- Ký nhiều hợp đồng kinh tế lòng vòng để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp
Với hành vi nêu trên Nguyễn Đức Kiên đã trốn thuế thu nhập doanh
nghiệp với số tiền 25.011.723.928 đồng.
* Ngoài ra tội phạm còn sử dụng nhiều thủ đoạn khác để trốn thuế như:
Xin tạm nghỉ kinh doanh, thông báo ngừng hoạt động để được miễn giảm
thuế nhưng trên thực tế vẫn kinh doanh.
Về hậu quả
Hậu quả của hành vi trốn thuế là những thiệt hại cho xã hội bao gồm cả
thiệt hại vật chất và phi vật chất như: những thiệt hại về tài sản, chính trị, văn
hóa xã hội…. Trong đó: hậu quả trực tiếp của hành vi trốn thuế là gây thiệt
hại cho ngân sách nhà nước, làm Nhà nước không thu được một khoản ngân
sách mà lẽ ra phải thu được; các thiệt hại khác khó có thể xảy ra. Hậu quả
gián tiếp có thể xảy ra, vì kính tế quyết định mọi vấn đề chính trị, xã hội nên
việc hao hụt ngân sách Nhà nước có thể kéo theo những hệ quả: chế độ phục
vụ nhân dân bị giảm sút về các mặt như chế độ y tế, giáo dục, đường xá…
làm chậm quá trình phát triển và đi lên của đất nước.
Đối với tội trốn thuế thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc phải
có trong CTTP. Việc người phạm tội đã trốn được số tiền định trốn hay chưa
không phải là yếu tố bắt buộc.
18