ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------------
HOÀNG THỊ NGỌC CHÂM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TÀI
NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO TẠI XÃ
KHÂU TINH, HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lí tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
: 2011- 2015
Thái Nguyên - 2015
: 2011- 2015
Giáo viên hướng dẫn
: TS. Đỗ Hoàng Chung
Thái Nguyên – 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Đỗ Hoàng Chung.
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực
và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào.
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được đăng tải
trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên,
tháng
năm 2015
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên
TS. Đỗ Hoàng Chung
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Ngọc Châm
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng
làm thuốc tại xã Khâu Tinh .....................................................................22
Bảng 4.2: Các bài thuốc được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng tại xã
Khâu Tinh ................................................................................................38
Bảng 4.3: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc
quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ............................................ 44
Bảng 4.4: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái học của một số loài cây thuốc cần được ưu
tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Dao.......................................47
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng. ..................................................18
Hình 4.1: Biểu đồ về bộ phận thu hái một số loài cây thuốc được cộng đồng dân tộc
Dao khai thác và sử dụng.........................................................................36
Hình 4.2: Tỷ lệ về cách sử dụng của các lòai thực vật được cộng đồng dân tộc Dao
sử dụng làm thuốc ....................................................................................56
i
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và mục tiêu ................................................................................. 2
1.2.1. Mục đích .......................................................................................... 2
1.2.2. Mục tiêu ........................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ............................... 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn .................................................................... 3
1.3.3. Yêu cầu ............................................................................................ 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 5
2.1. Cơ sở thực hiện đề tài................................................................................. 5
2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .......................... 6
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới .................................................. 6
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước .................................................... 8
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ........................................................... 14
2.3.1. Vị trí địa lý..................................................................................... 14
2.3.2. Địa hình địa thế ............................................................................. 14
2.3.3. Khí hậu- thuỷ văn .......................................................................... 14
2.3.4. Địa chất , thổ nhưỡng .................................................................... 15
2.3.5. Tài nguyên rừng ............................................................................ 15
2.3.6. Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội............................................. 15
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 17
3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu ........................................................... 17
3.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................... 17
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 17
vii
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống,
luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có
giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn
nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn
chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ
lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là nguồn tài
nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương trong việc
phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn nguồn gen, cung cấp
cho lĩnh vực dược học.
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên sinh
vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là khu vực
Trường Sơn. Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy qua 4000 năm
lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống từ ăn, mặc, ở,
chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Đó là một
ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có nguồn tài
nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống và sức khỏe của mọi người đặc biệt
là các đồng bào dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp
nhiều khó khăn phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng.
Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật nhất
Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao. Trong đó có 3.948 loài
được dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2004) [12] chiếm khoảng 37% số loài đã biết.
Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc Việt Nam, cho đến nay
chúng ta chỉ mới biết được có một phần. Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã
thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồn tại và
phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa con người
với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất ít khi
được ghi chép lại. Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra bởi một nhóm người qua
nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định. Tri
thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển
theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham gia của người dân và đạt được sự
bền vững. Các dự án phát triển dựa trên cơ sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều
người dân tham gia, vì nó hợp với suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và
làm như thế nào. Đó chính là cơ sở của sự thành công. Đặc điểm quan trọng của tri
thức bản địa là luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân
địa phương luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích
hợp với cộng đồng.
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các thành
phần khác gỗ. Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của các dự án lâm
nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến các lâm sản khác
ngoài gỗ. Và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là bao gồm tất cả các sản
phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng
đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ ở tất cả các hình thái của nó. Các
6
loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài
nguyên thực vật. Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các
thảm thực vật. Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu kỳ
dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trên trái đất. Tài nguyên thực vật
giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và
sinh vật nói chung. Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái
nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và
Nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển
- Đặc điểm sinh thái: Khí hậu và đất đai
- Kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh.
- Thu hoạch và chế biến, phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản.
- Công dụng: Làm thuốc trị các bệnh về đường ruột.
Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và có hệ
thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học (Phan Văn Thắng, 2002) [9].
Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của người Trung Quốc có giá tới 2000-5000
USD/ Kg. Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế khá lớn
cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này.
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua,
N. Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây
thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân
loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái
học của Thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo
vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Phan
Văn Thắng, 2002) [9].
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 –
70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên
toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân
tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn
bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay
có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh
viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng kiến
thức mà mình đã học được trong nhà trường. Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi
Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc; Ts. Võ Văn Chi có
cuốn “Từ Điển cây thuốc Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc
nhập nội… Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2002) thì Việt Nam có đến 3.948 loài
cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng
làm thuốc. Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên. Nhưng
qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của
một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ
ngỡ. Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai
thác một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ
riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã
chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn
nguyên liệu thô. [14]
Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ,
củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt. Để
tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã
khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa
hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể. Do khai thác bừa bãi
để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà
nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm. Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài
thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam (Viện
Dược Liệu, 2002). [13]
Theo Lê Trần Đức (1997), Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền
phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae). Trên
thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng
nhiệt đới núi cao. Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài.
10
Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng
30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định
11
cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa
dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu,
có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền. Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền
với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng
bền vững và phát triển cây thuốc. [10]
Nguyễn Văn Thành (2004) khi nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân
gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng-Phốk vùng lõi vườn Quốc gia
Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăc Lắc đã chỉ ra các bài thuốc, cây thuốc dân
gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài
thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển, nhân rộng dựa trên cơ sở
sự lựa chọn có sự tham gia của người dân. Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với
tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị
từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9
nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh. [7]
Trong 2 năm 2004-2005 Ngô Qúy Công (2005) đã tiến hành điều tra việc khai
thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu
kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển
cho mục đích gây trồng thương mại. Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ
chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ
phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do
bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây
cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các
cây thuốc. Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có
thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm
áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những
giải pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển. [3]
Theo Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến
hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây
thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị
chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế.
Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở
nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công
dụng làm thuốc. Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng
làm thuốc tại xã Khâu Tinh .....................................................................22
Bảng 4.2: Các bài thuốc được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng tại xã
Khâu Tinh ................................................................................................38
Bảng 4.3: Các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác và sử dụng làm thuốc
quan trọng cần được ưu tiên bảo tồn và nhân rộng ............................................ 44
Bảng 4.4: Mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái học của một số loài cây thuốc cần được ưu
tiên bảo tồn và nhân rộng ở cộng đồng dân tộc Dao.......................................47
14
cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên cuả cộng đồng dân tộc địa phương
nơi đây.
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1. Vị trí địa lý
Xã Khâu Tinh cách trung tâm huyện lỵ Na Hang 75km về phía Bắc, có tổng
diện tích đất tự nhiên là 8.445,8 ha, có vị trí tiếp giáp với các đơn vị sau:
- Phía Bắc giáp các xã: Côn Lôn, Yên Hoa
- Phía Nam giáp với thị trấn Na Hang
- Phía Đông giáp các xã: Sơn Phú, Đà Vị
- Phía Tây giáp với xã Năng Khả.
2.3.2. Địa hình địa thế
- Đất Feralit vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày, có mùn.
- Đất Feralit màu sẫm chân núi đá vôi.
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét.
2.3.5. Tài nguyên rừng
Theo tài liệu điều tra, thống kê của Cục Bảo vệ Môi trường, Viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật năm 2007, xã Khâu Tinh là một trong 4 xã thuộc Khu Bảo tồn
thiên nhiên Na Hang. Về động vật: Thú có 87 loài thuộc 25 họ, 8 bộ, có 24 loài ghi
tên trong sách đỏ Việt Nam; chim có 277 loài thuộc 45 họ, 13 bộ, có 19 loài ghi tên
trong sách đỏ Việt Nam; bò sát, ếch nhái có 48 loài thuộc 17 họ, 3 bộ, có 11 loài ghi
tên trong sách đỏ Việt Nam; côn trùng có 463 loài thuộc 50 họ, 11 bộ, có 3 loài ghi
tên trong sách đỏ Việt Nam; động vật thủy sinh có 76 loài thuộc 14 họ, 5 bộ, có 5
loài ghi tên trong sách đỏ Việt Nam. Về thực vật có 844 loài thuộc 127 họ, có 7 loài
ghi tên trong sách đỏ Việt Nam.
Diện tích đất lâm nghiệp 7.270 ha, chiếm 86 % diện tích đất tự nhiên của toàn
xã, trong đó diện tích đất có rừng 6.908,1 ha: Rừng đặc dụng 6.183,2 ha, rừng
phòng hộ 582,9 ha, rừng sản xuất 142,0 ha; diện tích đất trống quy hoạch cho lâm
nghiệp 361,9 ha. Độ che phủ của rừng đạt 82 %.
2.3.6. Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội
Xã Khâu Tinh có tổng dân số 1434 nhân khẩu, gồm 306 hộ gia đình, được phân
chia thành 04 thôn, bản: Khâu Phiêng, Nà Tạng, Khâu Tinh, Tát Kẻ. Thành phần dân
tộc trên địa bàn xã không phức tạp, có 3 dân tộc chính là Tày ưu thế chiếm 39% số hộ,
16
H'mông chiếm 43 % số hộ, Dao chiếm 16 % số hộ, ngoài ra là dân tộc Kinh, Mường,
Hoa chiếm 2%.
Về tình hình kinh tế - xã hội tại các thôn, bản trong xã tốc độ phát triển tương đối
chậm, cơ cấu nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Đa phần là lao động nông nghiệp, thất
nghiệp theo thời vụ lớn, mức thu nhập bình quân thấp. Nguồn thu nhập chính của
người dân nơi đây dựa chủ yếu vào các hoạt động nông nghiệp (với Lúa và Ngô là các