PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ thúc
đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước nhưng đồng thời gây ra những áp lực
lớn tới môi trường. Đó là mức sống của người dân ngày một nâng cao và
nền kinh tế càng phát triển sâu rộng. Bên cạnh đó, lượng rác thải cũng được
tạo ra ngày càng nhiều với những thành phần phức tạp và đa dạng. Theo Báo
cáo diễn biến môi trường năm 2004, hàng năm trên toàn quốc có hơn 15
triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ các nguồn khác nhau, trong đó tổng lượng
chất thải sinh hoạt của cả nước là 12,8 triệu tấn và mới chỉ thu gom được
70%, chủ yếu tập trung ở các khu đô thị. Dự báo đến năm 2010 lượng chất
thải rắn sinh hoạt có thể tăng 60%. Lượng rác còn lại được thải xuống ao hồ,
sông ngòi, bên đường. Điều đó đã gây ra ô nhiễm môi trường, nguồn nước
mặt, nước ngầm, làm dịch bệnh phát sinh, phát triển và ảnh hưởng đến đời
sống của người dân, cảnh quan môi trường.[1]
Huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An là huyện có nhiều tiềm năng phát
triển kinh tế, dịch vụ, du lịch. Trong đó, thị trấn Cầu Giát là đô thị loại IV,
trung tâm thương mại – hành chính, thuộc hệ thống đô thị vệ tinh dự kiến
phát triển đến năm 2025 tại các huyện trong vùng. Bên cạnh đó, huyện còn
có tiềm năng du lịch ở các xã như xã Quỳnh Phương, xã Quỳnh Bảng, xã
Quỳnh Liên,... Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, sự gia tăng
dân số đã phát sinh khối lượng rác thải ngày càng nhiều, gây ra những áp lực
rất lớn cho môi trường và cảnh quan khu vực.
Như vậy, quá trình hình thành các khu đô thị, khu dân cư và công
nghiệp ở huyện sẽ tạo ra một lượng đáng kể chất thải rắn sinh hoạt và chất
thải rắn công nghiệp. Cũng tương tự như hầu hết các huyện của tỉnh Nghệ
An, huyện Quỳnh Lưu và các huyện phụ cận chưa có khu xử lý rác thải sinh
1
hoạt đảm bảo vệ sinh môi trường, do hạn chế về tài chính và hình thức tổ
Nghệ An về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh
Nghệ An;
Nghị quyết số 264/2009/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Nghệ An ngày
23/7/2009 thông qua đối tượng, mức thu, tỷ lệ trích nộp phí vệ sinh môi
trường và phí bảo vệ môi trường đối vơi chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Nghệ
An.
1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu.
- Điều tra, đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện
Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An.
- Đánh giá công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
và xử lý rác thải trên địa bàn huyện.
1.2.2. Yêu cầu
- Nguồn số liệu đảm bảo độ tin cậy.
- Kết quả nghiên cứu thu được trung thực.
- Phân tích để thấy rõ vấn đề nổi cộm trong quản lý và xử lý rác thải
sinh hoạt trên địa bàn huyện.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm, thuật ngữ về chất thải rắn.
2.1.1. Khái niệm.
Chất thải rắn - CTR (còn gọi là rác thải) là các chất rắn loại ra trong
quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật.
CTR phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu bệnh
viện, khu xây dựng, khu xử lý chất thải,... Trong đó, CTR sinh hoạt chiếm tỉ
Chất thải
rắn
Nơi vui
chơi, giải trí
Bệnh viện,
cơ sở y tế
Khu công
Nông
nghiệp, nhà
nghiệp, hoạt
máy, xí nghiệp
động xử lý
rác thải
Sơ đồ 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn.
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và cộng sự. Quản lý chất thải rắn. Nhà xuất bản
xây dựng, 2001).
2.1.2.2. Phân loại chất thải rắn
- Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt CTR (còn gọi là rác thải)
trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ,…
- Theo thành phần hóa học và vật lý: Người ta phân biệt theo các
thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim
loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo,…
- Theo bản chất nguồn tạo thành: CTR được chia thành các loại:
Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt
động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ
quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt
có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá,
lệ phát sinh rác thải cũng tăng lên tính theo đầu người. Quá trình phát sinh
rác thải ở mỗi quốc gia là khác nhau; tuỳ theo điều kiện kinh tế, mức sống.
và phụ thuộc vào cơ chế chính sách của quốc gia đó.
6
Tại các nước phát triển quy định đối với việc thu gom và vận chuyển
rác thải rất rõ ràng. Công tác thu gom, phân loại rác tại nguồn mang lại
nhiều thuận lợi cho công tác xử lý.
Công tác quản lý CTR tại Nhật Bản.
Nhật Bản được nhận định là một nước đi đầu trong vấn đề bảo vệ môi
trường, với khung pháp lý quốc gia hướng tới giảm thiểu chất thải nhằm xây
dựng một xã hội tái chế bao gồm hệ thống luật và quy định của Nhà nước:
Luật quản lý rác thải và giữ vệ sinh công cộng (1970); Luật quản lý rác thải
(1992); Luật thúc đẩy sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái chế (1991);
Luật tái chế vỏ hộp và bao bì (1996); Luật tái chế thiết bị điện (1998).
Theo đó, Nhật chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với
dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý
nguyên liệu theo mô hình công nghệ 3R.
Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân
chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể
cháy và rác có thể tái chế. Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến
nhà máy sản xuất phân compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế
không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng
lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các nhà máy tái chế. Các loại rác này
được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ
gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định,
dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư. Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho
ô tô đến đem các túi rác đó đi. Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn
lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia
rất hiệu quả. Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà
thầu. Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn
cụ thể trong thời hạn 7 năm.
8
Singapore có 9 khu vực thu gom rác. Rác thải sinh hoạt được đưa về
một khu vực bãi chứa lớn. Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa
đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế
Quốc gia. Trong số các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn
nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân. Các nhà thầu tư
nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng
50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom, chủ yếu là rác của các cơ
sở thương mại, công nghiệp và xây dựng. Chất thải của khu vực này đều
thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày.
Nhà nước quản lý các hoạt động này theo luật pháp. Cụ thể, từ năm
1989, chính phủ ban hành các qui định y tế công cộng và môi trường để
kiểm soát các nhà thầu tư nhân thông qua việc xét cấp giấy phép. Theo qui
định, các nhà thầu tư nhân phải sử dụng xe máy và trang thiết bị không gây
ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân, phải tuân thủ các qui định về phân
loại rác để đốt hoặc đem chôn nhằm hạn chế lượng rác tại bãi chôn lấp. Qui
định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ được thuê mướn các dịch
vụ từ các nhà thầu được cấp phép.
Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công
khai để người dân có thể theo dõi. Bộ môi trường Singapore qui định các
khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đôla/tháng, tùy theo
phương thức phục vụ (15 đôla đối với các dịch vụ thu gom trực tiếp, 6 đôla
đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác công cộng ở các
chung cư). Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom
được tính tùy vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235
cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang
thiết bị còn thô sơ và thiếu thốn dẫn đến chi phí thu gom tăng lên. Do vậy,
các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng cần học hỏi công
10
tác quản lý chất thải rắn ở các nước phát triển trên một cách hợp lý và phù
hợp với điều kiện của quốc gia mình.
2.3. Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt
Nam.
2.3.1. Hiện trạng CTR sinh hoạt ở Vịêt Nam.
Mỗi năm có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam, trong
đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh
doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước. Lượng
còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp. Chất thải nguy hại công nghiệp
và các nguồn thải đáng lưu ý do chúng có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ và
môi trường rất cao nếu như không được xử lý theo cách thích hợp.
Hầu hết, các thành phố ở Việt Nam là nguồn phát sinh chủ yếu của
chất thải sinh hoạt. Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả
nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng
với 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước). Ước tính mỗi
người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 2/3kg chất thải
mỗi ngày, gấp đôi lượng bình quân đầu người ở vùng nông thôn (Bảng 1).
Bảng 1. Lƣợng phát sinh chất thải theo đầu ngƣời
Lượng phát sinh
% so với tổng % thành
CTR
lượng thải
phần hữu cơ
(kg/người/ngày)
phân huỷ được như nhựa, kim loại và thuỷ tinh (Bảng 2, 3, 4)).
Bảng 2. Số liệu quan trắc về thành phần rác thải (Nguồn: CEETIA 1998).
TT
1
2
3
4
5
6
T
Thành phần (%
khối lượng)
Chất hữu cơ
Cao su, nhựa
Giấy, giẻ vụn
Kim loại
Thuỷ tinh, sành sứ
Đất, đá, cát, gạch
vụn
Hà
Nội
Hải
Phòng
Hạ Long
41,25
8,78
8,78
24,83
5,59
35,9
36,53
47,5-36,1
36
18
Bảng 3. Số liệu quan trắc tại Hà Nội (Nguồn: CEETIA - 1998)
T
T
1
2
3
4
5
6
Thành phần (%KL)
Giấy vụn
Lá cây, rác hữu cơ
Túi nilon, đồ nhựa
1997
2,30
53,0
4,10
5,50
3,80
31,30
100
50,0
21,40
1998
4,20
50,10
5,50
2,50
1,80
35,90
100
47,70
15,90
Tỷ trọng TB, T/m3
0,432
0,416
0,42
CT y tế nguy hại
Tổng CT phi nông nghiệp
CT nông nghiệp (Trồng trọt,
chăn nuôi
64.560.000
64.560.000
(Nguồn: Khảo sát của các nhóm tư vấn 2004; Báo cáo HTMT 2002;
Bộ Y tế 2004, Cục MT 1999; Bộ CN 2002-2003).
Qua số liệu quan trắc thể hiện rõ khối lượng, thành phần rác thải khác
nhau tương đối nhiều giữa các vùng do một số yếu tố ảnh hưởng như:
- Mức sống, mùa, thói quen, tín ngưỡng, chính sách quản lý chất thải
và tăng trưởng kinh tế.
- Tăng dân số.
- Đô thị hoá.
Do đó mà tính chất rác thải ở các vùng khác nhau thì khác nhau.
Bên cạnh rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp cũng chiếm thị phần
không nhỏ, số liệu sau đây thể hiện chất thải rắn phát sinh tính trên đơn vị
sản phẩm của một số ngành công nghiệp đặc trưng.
Bảng 5. CTR của một số nghành công nghiệp ở Vịêt Nam [8]
Loại hình công nghiệp
Công nghiệp rượu bia
Công nghiệp mía đường
Sản xuất hoa quả hộp
Chất thải
Bã rượu: 300-560 kg/1000lit cồn;
Xỉ than: 600-700 kg/1000lit cồn.
2600-2700 kg bã mía tơi/ tấn đường;
300-400 kg rỉ đường, 250 kg bùn,
75 kg xỉ than/tấn đường.
Công tác bảo vệ môi trường được Đảng, Chính phủ và các cấp chính
quyền quan tâm từ rất sớm. Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 199/TTg
ngày 03/04/1997 về các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải
rắn ở các đô thị và khu công nghiệp. Theo đó, các Bộ, Ngành có chức năng
14
quản lý chất thải rắn và các địa phương phải đề ra các biện pháp, chương
trình hữu hiệu cho công tác quản lý chất thải rắn, giữ gìn môi trường trong
sạch.
Việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nước ta do các cơ quan sau chịu
trách nhiệm, đó là: [1]
Cơ quan Bộ chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực môi trường là Bộ
Tài nguyên và Môi trường. Bộ này có 3 Cục/Vụ liên quan chính đóng vai trò
chủ chốt trong quản lý chất thải:
+ Vụ Môi trường: Hoạch định các chính sách, chiến lược và pháp luật
ở các cấp trung ương và địa phương. Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn Việt
Nam.
+ Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường: Thẩm định các
báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án xây dựng các hệ thống quản
lý chất thải rắn, các khu chôn lấp, xử lý.
+ Cục Bảo vệ môi trường: Phối hợp thực hiện thanh tra môi trường
đối với các bãi chôn lấp. Thực hiện giám sát và phối hợp, cưỡng chế về mặt
môi trường đối với các khu đô thị. Nâng cao nhận thức cộng đồng, thẩm
định công nghệ xử lý và phối hợp quy hoạch các khu chôn lấp.
- Bộ Xây dựng: Hoạch định các chính sách, kế hoạch, quy hoạch và
xây dựng các cơ sở quản lý chất thải rắn. Xây dựng và quản lý các kế hoạch
xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng liên quan đến chất thải rắn ở cả cấp trung
ương và địa phương.
mức độ tham gia của người
dân
2010
90%
30% hộ gia
đình
70% doanh
nghiệp
80% tổng
lượng CTR
ở các đô thị và
khu CN
CTRCN: chưa xác định hoá
chất trong NN tồn lưu:
42%,
CTR y tế nguy hại:
nước
với CC ISO 14021
Về ngân sách và tài chính cho QLCTR:
Bảng 7. Ngân sách và tài chính cho QLCTR. Đầu tƣ cho QLMT trƣớc
đây và theo dự báo, 1999-2020.
Đầu tư quản lý chất thải trước đây và theo dự báo, 1999-2020
Đầu tư (nghìn tỉ VNĐ)
1999-2003
2004-2010
2011-2020
Đã đầu tư và có KH đầu tư
3,3
5,2
21,2
Tổng đã đầu tư và có KH đầu tư
3,3
8,6
29,8
Tổng nhu cầu đầu tư để đạt
3,3
10,4
40
được các mục tiêu của CLBVMT
giai đoạn 2010-2020.
Nguồn: Báo cáo diễn biến MT Việt Nam 2004, CTR. Đầu tư giai đoạn 1999-2003
dựa trên thống kê của Chính Phủ và các nhà tài trợ. Ước tính nhu cầu đầu tư theo
Chiến lược Quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp đên 2020, Bộ Công
nghiệp, 1999.
sống của các hộ gia đình ở Việt Nam, 2003).
17
2.3.3. Một số biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam.
Việc xử lý rác thải sinh hoạt phụ thuộc vào tính chất, thành phần chất
thải, điều kiện địa lý, kinh tế của từng địa phương. Mỗi phương pháp xử lý
rác thải sinh hoạt đều có ưu, nhược điểm khác nhau, khả năng ứng dụng
cũng như giá thành xử lý khác nhau.
2.2.4.1. Xử lý rác thải thành phân hữu cơ vi sinh
Một trong những đặc điểm dễ thấy nhất ở rác thải sinh hoạt của Việt
Nam là thành phần chất hữu cơ chiếm tỷ lệ rất cao 55- 65% . Ở các nước
phát triển, do mức sống của người dân cao, tỷ lệ thành phần hữu cơ trong rác
thải sinh hoạt trường chỉ chiếm 35- 40%. Như vậy so với thế giới thì rác thải
sinh hoạt ở Việt Nam có tỷ lệ chất hữu cơ cao hơn rất nhiều. Chính nhờ đặc
điểm này, nên việc xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam bằng công nghệ vi
sinh vật để sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
rất thuân lợi.
Hiện nay, ở nước ta chỉ có khoảng hơn 9% các đô thị (từ thị xã trở
lên) có nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải sinh hoạt. Theo xuất xứ
công nghệ, hiện Việt Nam đang có một số công nghệ điển hình như công
nghệ Tây Ban Nha tại Cầu Diễn (Hà Nội), công nghệ Việt Nam – Trung
Quốc tại Việt Trì, Công nghệ Pháp – Tây Ban Nha tại Nam Định, công nghệ
DANO tại Hóc Môn (TP.HCM),.. Do nguồn vốn đầu tư tương đối lớn, nên
chủ yếu các nhà máy xử lý rác thải này được xây dựng từ nguồn vốn ODA
cũng có không ít những khó khăn đó là vốn đầu tư cao và thường thi công
chậm; công nghệ không hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam, khó
khăn sửa chữa, thay thế thiết bị,…
Chẳng hạn, năm 1992 đã xây dựng được nhà máy chế biến rác làm
Vo viên
Trộn
N, P, K
Phủ áo bằng
than bùn dày
10 – 20cm
Vun đống ủ
tiếp 2 tuần
Ủ 2–3
tháng
Sàng
khô
Sơ đồ 3: Công nghệ SERAPHIN trong xử lý rác thải sinh hoạt
(Nguồn: Lê Văn Nhương. Báo cáo đề tài cấp nhà nước mã 02- 04).
Các công nghệ này được hình thành từ năm quy trình công nghệ
chính: phân loại, ủ sinh học, tái chế chất dẻo, công nghệ thiêu huỷ và chôn
lấp. Sản phẩm sau khi xử lý rác thải là phân vi sinh và những sản phẩm nhựa
như: ống nước, balet nhựa, dải phân cách, thùng rác, bàn ghế ngoài trời, xô
nhựa và gạch lát đường,… Công nghệ SERAPHIN đang được ứng dụng tại
Nhà máy xử lý rác Đông Vinh (thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An); nhà máy xử
lý rác thải tại thị xã Sơn Tây (nay là Hà Nội) và công nghệ An Sinh – ASC
19
Phân loại rác tại nguồn - sự khởi đầu của công nghệ tái chế chất thải.
Các loại rác hữu cơ đã và đang sử dụng làm phân bón. Các loại rác như
nilon, giấy bìa loại, nhựa,… sẽ được tái chế dùng làm nguyên liệu. Còn các
loại rác vô cơ khác được tái chế thành vật liệu xây dựng nhẹ cấp thấp được
dùng cho các công trình cảnh quan đô thị. Như vậy phần rác chôn lấp sẽ
giảm đi.
2.3.4.3. Xử lý rác thải bằng phương pháp chôn lấp.
Bên cạnh các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt trên. Ở các tỉnh và
thành phố như Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình hoặc là đang xây
dựng khu xử lý CTR, hoặc là đang làm các thủ tục quy hoạch xây dựng khu
xử lý chất thải rắn. Do chưa xây dựng xong khu xử lý (bãi chôn lấp CTR)
hợp vệ sinh, chất thải rắn vẫn thải đổ và xử lý theo phương pháp lộ thiên,
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; ví dụ như Bãi Thia tại thị xã Hoà
Bình, bãi thải lộ thiên ở Trung Hầm (Hà Nam), Thung Quèn Khó (Ninh
Bình) là bãi thải lộ thiêngây ô nhiễm môi trường nơi đây, đặc biệt là ô nhiễm
môi trường sông Nhuệ - Đáy.
Các thị trấn, thị tứ và các huyện ở một số tỉnh (như Thanh Hóa, Nghệ
An,..) mặc dù đã quy hoạch xây dựng các bãi chôn lấp CTR nhưng mới chỉ ở
mức xác định vị trí và quy mô bãi rác, mà chưa quy hoạch xây dựng hoàn
chỉnh (do thiếu kinh phí) nên CTR vẫn chưa được xử lý và thu gom đúng nơi
quy định. Lượng chất thải rắn không nhỏ vẫn phát tán ra môi trường trên
những địa bàn này.
2.4. Tình hình chung về quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh
Nghệ An.
Tình hình chung về quản lý chất thải rắn nói chung và quản lý RTSH
nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghệ An được tóm tắt trong văn kiện Dự án “Cải
thiện công tác quản lý chất thải rắn tại tỉnh Nghệ An” như sau:
21
Thực phẩm
48,0
6,4
37,6
2,6
0,4
5,0
Giấy vụn
34,4
6,0
44
0,3
0,2
6,0
Bìa cac-ton
6,6
31,2
1,6
0,15
0
Cao su
78,0 10,0
0
2,0
0
10,0
Da
60,0
8,0
11,6 10,0
1,5
22
(Nguồn: Nguyễn Xuân Thành ,2004. Giáo trình Công nghệ vi sinh vật
trong nông nghiệp và xử lý ô nhiễm môi trường. NXB Nông nghiệp)
Qua bảng 9 ta thấy rằng: Các loại chất thải khác nhau sẽ có thành
phần hóa học (TPHH) khác nhau. Các TPHH trong RTSH chủ yếu là
Cacbon và Oxy. Tỷ lệ cacbon rất lớn, dao động từ 41,0% - 78,0%; còn Oxy
11,6% - 42,7%; còn lại là các thành phần khác. Độ trơ của chất dẻo, cao su
là cao nhất (10%), độ trơ của gỗ là thấp nhất (1,5%).
Tóm lại, RTSH là một hỗn hợp không đồng nhất và mỗi thành phần
trong đó có TPHH, cấu trúc hóa học khác nhau. Do đó, việc xử lý chúng
cũng rất khác nhau, bởi vậy mà công việc phân loại RTSH là khâu quan
trọng để tiết kiệm kinh phí cho vấn đề xử lý RTSH.
2.5.2. Cơ sở khoa học và quy trình công nghệ xử lý rác thải hữu cơ.
Hiện nay, Việt Nam đã và đang áp dụng 4 phương pháp xử lý rác thải
sinh hoạt. Trong đó phương pháp sinh học được đánh gía là tối ưu hiện nay.
Bốn phương phương pháp là phương pháp chôn lấp, phương pháp thu khí
sinh học, phương pháp thiêu đốt, phương pháp ủ phân hữu cơ.
* Phương pháp chôn lấp.
Đây là phương pháp phân hủy kỵ khí với khối lượng chất hữu cơ
lớn. Đây là phương pháp lâu đời, khá đơn giản và hiệu quả đối với lượng rác
thải ở các thành phố đông dân cư.
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là phân giải yếm khí các
hợp chất hữu cơ có trong rác thải. Và các chất dễ bị thối rữa tạo ra sản phẩm
cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất
amon và các khí CO2, CH4. [2]
Một hiện trạng hiện nay, hầu hết các bãi rác đều chưa đạt tiêu
sử dụng
(tấn/năm)
(năm)
Loại nhỏ
5-10
2.000
5
nhiễm nước mặt các vùng lân cận. Do vậy, cần có những biện pháp giảm tối
thiểu lượng nước thải sinh ra từ bãi rác.
Ưu điểm:
+ Công nghệ này có giá vận hành đầu tư thấp và chi phí vận
chuyển thấp hơn so với các phương pháp khác.
+ Xử lý được nhiều loại rác khác nhau.
Nhược điểm:
+ Tốn nhiều diện tích đất.
+ Sinh khí CO2 và CH4 đóng góp một phần vào sự nóng nên của
trái đất.
+ Nếu bãi chôn lấp không được thiết kế và vận hành tốt sẽ là
nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường khu vực bãi rác.
+ Việc chôn lấp gây mùi khó chịu. [3]
* Phương pháp đốt
Xử lý rác thải bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng làm
giảm tới mức thấp nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu sử dụng
công nghệ đốt rác tiên tiến có ý nghĩa trong bảo vệ môi trường. Nhưng đây
cũng là phương pháp xử lý tốn kém nhất và so với phương pháp chôn lấp
hợp vệ sinh chi phí có thể cao gấp 10 lần. [2]
Công nghệ đốt thường được sử dụng ở các quốc gia phát triển và
phải có một nền kinh tế đủ mạnh bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như
là một hoạt động phúc lợi xã hội của toàn dân.
Cơ sở khoa học:
Cơ sở của phương pháp này là oxy hóa ở nhiệt độ cao, với sự có
mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hóa thành
dạng khí và các chất thải rắn không cháy. Các chất khí được làm sạch hoặc
25