NGUYỄN HÙNG VĨ
NHỮNG KHẢO CỨU
tõ VĂN hãa TRUYỀN THỐNG
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
ĐỂ HIỂU RÕ HƠN BÀI “QUỐC TỘ” CỦA THIỀN SƯ PHÁP THUẬN .............. 71
TRẦM TÍCH PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN HÀ Ô LÔI ................................... 86
NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC “QUỐC ÂM THI TẬP”
CỦA NGUYỄN TRÃI (Phần 1) ....................................................................... 101
NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC "QUỐC ÂM THI TẬP" CỦA
NGUYỄN TRÃI (Phần 2) ................................................................................ 154
NGUYỄN TRÃI VÀ SEX................................................................................. 182
XEM XÉT BỘ VÁN KHẮC “THIỀN UYỂN TẬP ANH”
NĂM VĨNH THỊNH 11 (1715) ......................................................................... 195
CHỐN THỜ TỰ NÊN TRANG TRÍ LOẠI CHỮ GÌ? ......................................... 243
“CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM” NÓI NGƯỢC - NGỤ NGÔN - TRỮ TÌNH ............ 248
VỀ BÀI THƠ “VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ” TRONG SÁCH GIÁO KHOA .......... 256
KHẢO VỀ CHẰM VÀ TRẢI TRONG TIẾNG VIỆT CỔ QUA “CƯ TRẦN LẠC
ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG ............................................................ 264
QUAN SÁT CỘT ĐÁ CHÙA MỘT CỘT Ở NÚI DẠM...................................... 275
TIẾP TỤC QUAN SÁT CỘT ĐÁ CHÙA DẠM ................................................. 288
"LÁ TRÚC CHE NGANG MẶT CHỮ ĐIỀN".................................................... 296
trăm trứng, Mười tám đời các vua Hùng… đã trở thành vốn văn
hóa hiển nhiên của nhiều thế hệ nhân dân nước Việt. Tất cả
những điều đó có trong một tác phẩm cội nguồn của văn
chương: Lĩnh Nam chích quái. Tiếp cận nó, dù đứng dưới ngọn cờ
của bất cứ lí thuyết văn học nào cũng khó có thể hình dung được
ý nghĩa và giá trị của nó. Định vị nó trong tiến trình văn học, tiến
trình văn hóa của dân tộc luôn luôn là công việc của tương lai.
I. SỐ PHẬN
Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Lĩnh Nam chích
quái là một tác phẩm thiêng liêng. Các bậc đại nho tài cao học
5
rộng, tràn trề tinh thần ái quốc, tấm lòng hiếu cổ (yêu truyền
thống văn hóa dân tộc) từ Trần Thế Pháp qua Vũ Quỳnh, Kiều
Phú, Đặng Minh Khiêm đến Đoàn Vĩnh Phúc, và sau này là Lê
Quý Đôn, Phan Huy Chú… đều tiếp cận tác phẩm với một thái độ
thành kính, ngưỡng vọng. Số phận tác phẩm Lĩnh Nam chích
quái dường như tương đồng với số phận của nền văn hóa Đại Việt,
nền văn hóa dân tộc: thăng trầm, chìm nổi, đối diện với những
thử thách sống còn của thiên tai nhân họa, nhưng vẫn mang trong
mình một sức sống mãnh liệt, một khả năng tạo sinh ghê gớm và
cuối cùng sẽ vĩnh viễn trường tồn với non sông đất nước này. Đọc
những dòng cảm thán của nhà sử học, nhà thơ Đặng Minh Khiêm
trong bài Tựa ở sách Vịnh sử thi tập của ông đề vào mùa xuân năm
Quang Thiệu thứ 5 (1520), ta phần nào hiểu được điều đó: “Vào
xác nhận, có khi Lĩnh Nam chích quái được tục biên đến con số gần
80 truyện trong khoảng 15 văn bản hiện còn. Cái lí do sâu xa nào
để tác phẩm không ngừng phát triển qua thời gian như vậy?
II. TƯ TƯỞNG
Bất luận những người biên soạn đầu tiên Lĩnh Nam chích
quái theo một triết thuyết tôn giáo hay đạo đức xã hội nào. Bất
luận những người sao chép, tăng bổ, bình luận sau này suốt thời
kì trung đại theo chính kiến nào, quy thức văn chương nào, thì tư
tưởng thống soái của họ khi xây dựng, tiếp cận tác phẩm này đó là
tư tưởng ÁI QUỐC. Trong sự tồn tại tổng thể của nó, Lĩnh Nam
chích quái là một tượng đài kì diệu cho tư tưởng ái quốc. Chính
điều này sẽ là kim chỉ nam cho mọi học giả, dù tiếp cận tác phẩm
dưới bất cứ phương pháp khoa học ngữ văn nào, thì vẫn phải
đứng ở tư cách, ở nhân cách một người ái quốc.
Trong lời Tựa cho việc biên soạn của mình, Vũ Quỳnh từ
năm 1492 đã cho thấy: “Chính các bậc tài cao học rộng thời Lý –
Trần khởi thảo, được các bậc quân tử uyên bác, hiếu cổ đời nay
nhuận sắc thêm”, và ông cũng nói thêm “đó là sử trong truyện
chăng?”. Lĩnh Nam chích quái ra đời như là sự kết tụ của tinh thần
độc lập dân tộc chặng đầu của kỉ nguyên Đại Việt hào hùng. Trải
qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, tư tưởng độc lập dân tộc được
khởi phát từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng (thế kỉ I), Bà Triệu (thế kỉ
III) bắt đầu có thành quả bởi Lí Bôn (thế kỉ VI) và đã là hiện thực
lịch sử chắc chắn với Ngô Quyền (thế kỉ X), đất nước ta bước vào
7
‐ Quyển 1 gồm: 1) Truyện Hồng Bàng; 2) Truyện Ngư tinh;
3) Truyện Hồ tinh; 4) Truyện Mộc tinh; 5) Truyện Trầu cau; 6) Truyện
8
Nhất Dạ Trạch; 7) Truyện Đổng Thiên Vương; 8) Truyện Bánh chưng;
9) Truyện Dưa hấu; 10) Truyện Bạch trĩ.
‐ Quyển 2 gồm: 1) Truyện Lý Ông Trọng; 2) Truyện Giếng Việt;
3) Truyện Rùa Vàng; 4) Truyện Man Nương; 5) Truyện Nam Chiếu;
6) Truyện thần sông Tô Lịch; 7) Truyện thần núi Tản Viên; 8) Truyện hai
vị thần Long Nhãn – Như Nguyệt (hoặc Truyện Hai Bà Trưng thay cho
truyện này); 9) Truyện Từ Đạo Hạnh; 10) Truyện Dương Không Lộ ‐
Nguyễn Giác Hải; 11) Truyện Hà Ô Lôi; 12) Truyện Dạ Thoa Vương.
Với một trình tự chung như vậy, không khó gì chúng ta
phát hiện được ý đồ lịch sử chung của những người làm sách:
sắp xếp về cơ bản theo trình tự thời gian: những chuyện đầu là
thời tiền sử, những chuyện sau cùng thuộc về thời Trần. Nhưng
không nhất quán cho tất cả. Truyện thần núi Tản Viên lại đứng
tận thứ 17 sau những truyện khác ở thời Bắc thuộc. Truyện Rùa
Vàng lại sau Truyện Lý Ông Trọng… Một kiểu cấu trúc ngầm ẩn
nào chăng? Ta chưa tường được. Trong điều kiện hiện nay,
đành tạm cho rằng, quá trình các bản sưu tập cho đến Vũ
Quỳnh, Kiều Phú đã có sự xáo trộn nào đó nhất định và từ đó,
các nhà biên soạn tiếp theo cứ tôn trọng bản cổ hơn mà làm.
Tuy nhiên, cũng trừ đi những phần xáo trộn ít ỏi đó, nếu ta
nhìn theo cách nhìn dân gian, đặc biệt với quyển một, Lĩnh Nam
chích quái không khỏi gợi ý cho chúng ta một cấu trúc quen
lịch sử phức tạp nhưng đầy quyết tâm cho độc lập dân tộc, cho
văn hiến bản địa. Nó là văn xuôi nhưng không chỉ là nghệ thuật
ngôn từ, nó là tự sự nhưng đâu chỉ là các thiên truyện cổ. Đó là
một khối đa diện chứa đựng những yếu tố vừa hiện thực vừa kì
ảo và mãi mãi kêu gọi chúng ta tiếp cận, lí giải. Trước nó, không
chỉ người nay mà người xưa đã từng không khỏi băn khoăn. Sử
thần Ngô Sĩ Liên khi bàn về kỉ Hồng Bàng thị trong Đại Việt sử kí
toàn thư (cũng tương tự Truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích
quái) nói: “Trong buổi trời đất mới mở mang, có người do khí hóa
ra rồi mới có hình hóa, đều là hai khí âm và dương cả. Kinh Dịch
nói: “Trời đất hợp khí, vạn vật hóa thần, đực cái hợp tinh, vạn vật
hóa sinh”… Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương,
giẫm vết chân khổng lồ mà dấy lên nhà Chu, đều là ghi sự thực
như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên
mà sinh ra Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ Bách Việt. Vương
10
lấy con gái Thần Long mà sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân
lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh ra trăm con trai. Đó chẳng
là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét sách
Thông giảm ngoại kỉ nói: Đế Lai là con Đế Nghi, cứ theo sự ghi chép
ấy thì Kinh Dương Vương là em ruột Đế Nghi, thế mà có sự kết
hôn với nhau, có lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà
như thế chăng?”.
Vũ Quỳnh thì biện luận: “Sự việc tuy kì quái mà không đến
nỗi nhảm nhí, nhân vật tuy kì lạ mà không trở thành yêu tinh”.
Đoàn Vĩnh Phúc khuyên: “Chớ vì Khổng Tử nói mà đâm ra
hiểu nhầm”.
các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, đến nay đã bắt đầu kết tụ,
cho nên quốc sử ghi chép đặc biệt tường tận. Thế thì tập truyện
này làm ra, có lẽ là sử trong truyện chăng? Không biết sách soạn
vào thời nào, do ai hoàn thành? Người khởi thảo là các nhà nho tài
cao học rộng thời Lý – Trần, còn nhuận sắc thì do các bậc quân tử
hiếu nhã bác cổ ngày nay. Ngu tôi sau đây xin lần lượt khảo sát và
trình bày đầu đuôi các truyện, đồng thời nêu lên ý tưởng của tác
giả. Như Truyện Hồng Bàng nói rõ quá trình khai sáng nước Hoàng
Việt; Truyện Dạ Thoa Vương tóm lược sự manh nha của Chiêm
thành; Truyện Chim Trĩ trắng là để chép về họ Việt Thường; Truyện
Rùa Vàng là để viết sự tích An Dương Vương. Theo phong tục
phương Nam, đồ sính lễ không gì quan trọng bằng trầu cau; đưa
ra biểu dương cùng là nhằm làm cho nghĩa vợ chồng, tình cảm
anh em được tỏ rõ. Vào mùa hè, hoa quả phương Nam không gì
quý bằng quả dưa hấu; nêu lên để nói, là nhằm phê phán thái độ
cậy vào mình mà coi thường ơn chúa. Truyện Bánh chưng ngợi
khen lòng hiếu thảo; Truyện Ô Lôi răn dạy thói dâm bôn. Đổng
Thiên Vương phá giặc Ân, Lý Ông Trọng diệt Hung Nô, qua đó
biết nước Nam có người tài giỏi. Chử Đồng Tử tình cờ mà lấy Tiên
Dung, Thôi Vĩ không hẹn mà gặp tiên khách, qua đó thấy âm đức
của việc thiện. Truyện Đạo Hạnh, Không Lộ đáng khích lệ ở chỗ báo
được thù cha, mà sự tích hai vị thiền sư qua đó cũng không thể
nào mai một. Truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh đáng ngợi khen ở chỗ trừ
được yêu quái, mà ân đức của Long Vương qua đó cũng không
thể nào quên. Hai vị họ Trương sống trung nghĩa, chết thành thổ
thần, nêu lên để biểu dương, ai bảo là không được? Thần Tản Viên
linh thiêng, có khả năng diệt loại thủy tộc, làm rõ để soi sáng, ai
12
Tiếp tục là diễn biến cốt truyện theo hành trạng và các mối quan
hệ, các sự kiện, chi tiết của nhân vật chính. Kết thúc truyện nhằm
13
giải thích một hiện tượng, một hoạt động thờ cúng, một tập tục
hay một dấu tích để lại, một sự ghi nhận phong tặng của triều
đình, một hành vi âm phù. Phần kết thường bắt đầu từ hai chữ
“Từ đấy…” như kết thúc của truyện cổ dân gian. Nói chung, cốt
truyện, cấu tạo truyện đã tự do hơn nhiều so với Việt điện u linh
của Lý Tế Xuyên. Điều đáng lạ là dù truyện mang tên là Lĩnh Nam
chích quái (Sưu tập, lượm lặt những sự lạ trong cõi Lĩnh Nam)
song hành trình truyện dường như không lấy cái kì ảo cái quái dị
hay kinh dị làm mục tiêu mà một ý đồ rõ ràng trái lại: mọi yếu tố
được coi là quái lại được trình bày minh bạch và duy lí. Tất cả đều
sáng sủa, rõ ràng. Nếu ai muốn chờ đợi ở đây một thế giới như
Chí quái thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, truyền kì đời Đường, Liêu
trai chí dị đời Thanh thì sẽ thất vọng. Truyện đọc dễ hiểu. Mọi chi
tiết đều sắp xếp có logic giữa nguyên nhân và kết quả, thật đơn
giản và mạch lạc, không hướng đến cái kì như một mục đích tự
thân. Nó là sử trong truyện, là sử hóa các thần thoại và truyền thuyết
dân gian. Với những người được đào tạo theo lí thuyết tự sự châu
Âu, sẽ không có ai sau khi đọc Lĩnh Nam chích quái mà lại kêu lên
rằng là truyện khó hiểu.
Vậy thì kiểu tự sự nào khiến các thế hệ tri thức trung đại
ngưỡng vọng nó và khiến chúng ta không khỏi băn khoăn. Một
vài tranh luận rằng đó là một tác phẩm sáng tạo của văn học
thành văn, rằng đó thuần túy là một sưu tập dân gian; rằng đó là
quen thuộc và hiển nhiên như một danh từ riêng chỉ về một thời
đại đầu tiên, thời đại cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Một lúc
nào đó, chợt chúng ta tự hỏi đó là gì nhỉ? Ai phát hiện ra nó?
Hồng chữ Hán so nghĩa là to lớn, cũng có nghĩa là trận lụt lớn
bao trùm toàn cầu, đồng nghĩa với hồng thủy (theo Hán – Việt tự
điển của Thiều Chửu). Bàng chữ Hán có nghĩa là to lớn mênh
mông, rộng trùm vũ trụ. Đồng âm với những chữ Bàng chỉ mưa
to lụt lớn. Điều gì đã xảy ra khi hai chữ Hồng và Bàng này kết hợp
lại để chỉ thời kì khởi nguyên của dân tộc. Không gì khác hơn đó
chính là biểu tượng thần thoại phổ biến toàn thế giới: Vũ trụ
Khaox: Vũ trụ khởi nguyên mênh mông mù mịt và hỗn mang, bắt
đầu của mọi bắt đầu. Ở các cộng đồng khác nhau trên thế giới, ở
các cộng đồng khác nhau trong khối Bách Việt, phía nam Dương
Tử, đều có biểu tượng này, nằm dưới cách diễn đạt vừa trực
15
quan sinh động vừa khái quát. Mọi thần thoại đều hướng về hỗn
mang theo tư duy suy nguyên. Mọi lịch sử đều bắt đầu bằng
thần thoại. Trước mắt các trí thức Lý – Trần là kho tàng thần
thoại phong phú của miền Lĩnh ngoại khác Hán. Trong tim họ là
tấm lòng yêu nước thiết tha. Trong óc họ là yêu cầu khái quát
lịch sử. Trong tay họ lúc đó là những quy thức từ chương học
chữ Hán. Một phát kiến không thể súc tích hơn: ba chữ Hồng –
Bàng – Thị. Nó tích lũy như một symbol, một biểu tượng, một
phù hiệu cao quý mãi mãi theo trang trọng đầu nguồn lịch sử
dân tộc, mà không một thế lực nào từ đó có thể hạ xuống. Trong
lòng nó, tích lũy cả một kho tàng thần thoại. Nó chính là phát
Mặt trời. Lại một tích hợp thần thoại khởi nguyên của cư dân
phương Nam. Người phương Nam nghĩ gì khi khắc khuôn mặt
trống đồng trên bàn xoay: bắt đầu bằng mặt trời và cuộc sống sẽ
xoay quanh, sẽ lan tỏa từ mặt trời. Sử thi Mường, Thái kể sau buổi
hồng hoang sẽ là gì nếu không là sự ra đời của trời, đất, mặt trời,
mặt trăng. Nếu người Việt nói “Vua mặt trời”, người Mường nói
“Mặt trời mặt sáng” thì kí tự chữ Hán sẽ là gì nếu không lựa chọn
Viêm Đế ‐ Thần Nông. Lại một sự lựa chọn biểu tượng nữa.
Chúng ta vốn dân phương Nam, ở đó có Bách Việt mà hai Việt đại
biểu trong đó là Việt của Đế Nghi (Bắc của phương Nam) và Việt
của Kinh Dương Vương (Nam của phương Nam). Kinh Dương
Vương là vua của đất Kinh đất Dương vùng hồ Động Đình. Vấn
đề Đông Nam Á phía Nam sông Dương Tử không chỉ bây giờ mới
có mà các bậc túc nho đầu thời Đại Việt đã từng đặt ra. Chỉ có
điều họ kí tải một cách súc tích dưới dạng biểu tượng mà thôi.
Dòng dõi Mặt Trời sẽ sản sinh Mặt Trời. Đế Minh: vị đế của ánh
sáng không gì khác hơn là một phân thân của Mặt Trời. Trong một
văn hóa, ở cấp độ biểu tượng hoa văn hình học, mặt trời tồn tại
dưới nhiều hình vẽ khác nhau thì trong ngôn ngữ (hiện thực trực
tiếp của tư duy) cũng vậy (hiện tượng đồng nghĩa thường thấy
trong bất cứ ngôn ngữ nào). Đế Minh cũng là Mặt Trời. Đế Minh
lấy Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương Vương. Vụ Tiên là tên chòm
sao vẫn gọi là sao Vụ Nữ nằm ngay đỉnh bầu trời Bắc Bộ
Việt Nam. Vua lấy Sao để sản sinh ra các bậc kế nghiệp. Ta hãy
thử so sánh với sử thi thần thoại người Mường Đẻ đất đẻ nước thì
thấy sự trùng hợp lạ lùng. Đó là các chương về lang Cun Cần lấy
17
thuật ngôn từ. Trường hợp đặc biệt của lịch sử biến họ thành
những người luyện đan. Sản phẩm của họ sẽ trường tồn và luôn
luôn kêu gọi sự khám phá vì trong đó còn nhiều quy luật sáng
tạo chưa được phát hiện.
18
Đưa ra một truyện là để minh họa, nhưng không chỉ một
Hồng Bàng thị mà thôi. Ta thử tiếp cận một truyện ở quyển II:
Truyện thần núi Tản Viên. Câu chuyện là sự tích hợp cả một hệ
thống thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết trên một địa bàn
văn hóa rộng lớn xung quanh núi Tản Viên, Tam Đảo, Hi Cương.
Những sưu tầm hồi cố văn học dân gian trên các tỉnh Vĩnh Phú,
Hà Tây, Hòa Bình trước đây cho ta sự phong phú kì lạ của các dị
bản, biến thể câu chuyện này. Ngay theo dõi các dị bản của Lĩnh
Nam chích quái cũng cho ta thấy điều đó. Có hai cốt lõi thần thoại
chủ yếu của câu chuyện: thần thoại về thần núi Ba Vì và thần thoại
giải thích nạn lụt định kì trên không gian vùng quanh chân núi.
Người Mường, cư dân chủ thể vùng chân núi Ba Vì trước đây, dù
cho đã di chuyển đi các nơi vẫn thường nhờ thần Tản Viên làm
Thành hoàng. Giáo sư Nguyễn Từ Chi, nhà nghiên cứu Mường số
một của Việt Nam, qua thời kì lâu dài điều tra dân tộc học, cung
cấp cho chúng ta hai cốt truyện cơ bản:
‐ Cốt truyện giải thích nạn lũ lụt định kì: Bên cạnh thế giới
Đất (Mường Bằng) của người ở, có thế giới Nước của Long
Vương. Long Vương (còn gọi là Vua Khú) là một loại rắn lớn có
mào đỏ. Tuy là hai thế giới nhưng vẫn có quan hệ giao lưu. Công
tử con Vua Khú thường biến thành các chàng trai tuấn tú lên hỏi
vợ ở Mường Bằng. Mỗi năm một lần, mỗi khi đưa đồ sính lễ là
của nó vẫn giữ được những biểu tượng cơ bản nhất theo kiểu tự
sự trầm tích.
Sự phân chia Việt – Mường và các tộc người khác chắc chắn
đã rõ nét vào đầu thời Đại Việt. Cũng theo một dị bản Lĩnh Nam
chích quái ghi lại, cư dân vùng Tản Viên sơn là người “Bạch Y
Man” (Man áo trắng). Vấn đề là tại sao các tác giả thời đó lại vượt
qua kì thị, gộp thần Tản Viên vào điện thờ Đại Việt. Và Tản Viên
có vai trò như thế nào với tư cách là một biểu tượng trong lịch sử
cội nguồn. Địa linh nhân kiệt. Một quốc gia độc lập, có truyền
thống thì phải có sông núi linh thiêng. Trung Hoa có Thái Sơn,
Ngũ Nhạc. Nhật Bản có Đại Phú Sĩ thì Đại Việt đã lựa chọn Tản
Viên sơn, phía Tây kinh thành làm tổ sơn, chứa đựng “linh khí
phương Nam, vượng khí… sao có thể diệt được” như lời từ miệng
nhân vật Cao Biền. Tản Viên sơn trở thành đệ nhất linh sơn của
cõi Lĩnh Nam. Thần Tản Viên vốn được cư dân bản địa thờ cúng
đã được nhận thức như dòng dõi của Lạc Long Quân – Âu Cơ về
20
biển rồi lại lên núi. Cuộc hội tụ dân tộc để làm nên Đại Việt hôm
nay. Chỉ có thể nói rằng, cùng với xu hướng độc lập dân tộc, các
trí thức Lý – Trần – Lê qua kinh nghiệm điền dã dân gian, đã có
những dự báo thiên tài về vấn đề Việt ‐ Mường chung, không đợi
đến bộ môn dân tộc học hiện đại. Ngụ ngôn của lịch sử nằm trong
trầm tích Lĩnh Nam chích quái là vậy. Đây lại cũng là điều, với mặt
bằng tự sự hiển minh qua văn bản, chúng ta khó lòng mà nhận ra
nếu không so sánh văn hóa.
Hai câu chuyện trên chỉ là ví dụ, với những Truyện trầu cau,
Truyện Man Nương, Truyện Mộc Tinh, Truyện Ngư Tinh, Truyện Hồ
phải xây dựng một quốc thống đến tận thời hồng hoang của lịch
sử, và nó đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng này qua con đường
tổng kết huyền tích, thần thoại cho các bộ lịch sử đời sau. Những tri
thức về cội nguồn dân tộc mà Lĩnh Nam chích quái phát ngôn dù
mang hạn chế lịch sử nhưng cũng chứa đựng những cốt lõi lịch sử
(vấn đề Đông Nam Á, vấn đề Việt – Mường chung, vấn đề đoàn kết
tộc người trong không gian Đại Việt…) mà ngày nay vẫn cần khám
phá, vẫn là vấn đề thời sự. Đọc kĩ ở đây, chúng ta nhận ra một chất
lượng tư duy đặc biệt siêu phàm của các tri thức nho học ái quốc
thời Lý – Trần – Lê. Một thái độ đúng trước Lĩnh Nam chích quái hãy
là một thái độ trân trọng, cầu thị để mong hiểu biết nó hơn.
2. Lĩnh Nam chích quái có một tính chất đặc biệt, đó là khả năng
trường tồn và khả năng tạo sinh mãnh liệt. Điều này chỉ có ở
những tác phẩm có giá trị mới có. Với những tác phẩm tầm
thường, chắc chắn sẽ đơn độc mà tàn lụi. Còn Lĩnh Nam chích
quái thì không thế. Tình trạng dị bản của tác phẩm không nên chỉ
quan sát dưới góc độ tiêu cực của quá trình ấn loát và lưu hành
mà hãy lí giải sức sống của chính nó. Những người chăm sóc, gìn
giữ, tu bổ cho tác phẩm không phải vì vinh danh, vì hiếu cổ mà đó
là những người thiết tha với văn hóa, với dân tộc. Lĩnh Namchích
quái là tác phẩm có khả năng quy tụ nhân tâm, những nhân tâm có
trách nhiệm với sự tồn vong của đất nước này.
3. Lĩnh Nam chích quái là một kiểu tự sự đặc biệt mà không phải
tác phẩm văn xuôi nào cũng có. Một số học giả trước đây từng đề
cập tới kiểu, chất văn xuôi, tự sự nghệ thuật của tác phẩm. Đinh
Gia Khánh, người có công trình chuyên khảo đầu tiên về Lĩnh Nam
chích quái, cũng là người đầu tiên viết trong một tập văn học sử:
22
nếu yêu cầu chỉ ra bản nguyên của nó.
4. Với những điều đặc biệt nói trên, ta thấy Lĩnh Nam chích
quái tồn tại như một hiện tượng hi hữu, độc nhất vô nhị trong văn
23
học trung đại. Trên mặt bằng hiển minh của văn bản, nhiều nhà
nghiên cứu có thế xếp loại nó cùng một tập hợp các tác phẩm
tương đồng này khác. Điều đó có thể chấp nhận được. Tuy nhiên,
Lĩnh Nam chích quái vẫn vượt lên như một tác phẩm độc đáo, có
một không hai.
Vượt qua chức năng một tác phẩm văn chương, một lần nữa
chúng ta hãy quan sát Lĩnh Nam chích quái như một tượng đài văn
hóa tinh thần cổ kính, thiêng liêng và kì diệu. Lĩnh Nam chích
quái dạy chúng ta lòng yêu nước, yêu truyền thống dân tộc, yêu
văn hóa mà nhân dân sáng tạo ra trong trường kì lịch sử.
Hà Nội, 2006
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số VIII năm 2006, trang 98‐112
24
“DI TÍCH ĐÀN XÃ TẮC”
CHÍNH LÀ NƠI THỜ HẬU TẮC, THỦY TỔ
NHÀ CHU
Để dễ theo dõi vấn đề, tôi nói ngay rằng: Đời Lý, đời Trần, người