Những khảo cứu từ văn hóa truyền thống (NXB đại học quốc gia 2010) nguyễn hùng vĩ, 336 trang - Pdf 35

NGUYỄN HÙNG VĨ
 
 
 
 
 
 
 

NHỮNG KHẢO CỨU
tõ VĂN hãa TRUYỀN THỐNG
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


2

 


 


™

ĐỂ HIỂU RÕ HƠN BÀI “QUỐC TỘ” CỦA THIỀN SƯ PHÁP THUẬN .............. 71

™

TRẦM TÍCH PHẬT GIÁO TRONG TRUYỆN HÀ Ô LÔI ................................... 86

™

NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC “QUỐC ÂM THI TẬP”
CỦA NGUYỄN TRÃI (Phần 1) ....................................................................... 101

™

NHỮNG GHI CHÉP CHỮ NGHĨA KHI ĐỌC "QUỐC ÂM THI TẬP" CỦA
NGUYỄN TRÃI (Phần 2) ................................................................................ 154

™

NGUYỄN TRÃI VÀ SEX................................................................................. 182

™

XEM XÉT BỘ VÁN KHẮC “THIỀN UYỂN TẬP ANH”
NĂM VĨNH THỊNH 11 (1715) ......................................................................... 195

™



CHỐN THỜ TỰ NÊN TRANG TRÍ LOẠI CHỮ GÌ? ......................................... 243

™

“CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM” NÓI NGƯỢC - NGỤ NGÔN - TRỮ TÌNH ............ 248

™

VỀ BÀI THƠ “VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ” TRONG SÁCH GIÁO KHOA .......... 256

™

KHẢO VỀ CHẰM VÀ TRẢI TRONG TIẾNG VIỆT CỔ QUA “CƯ TRẦN LẠC
ĐẠO PHÚ” CỦA TRẦN NHÂN TÔNG ............................................................ 264

™

QUAN SÁT CỘT ĐÁ CHÙA MỘT CỘT Ở NÚI DẠM...................................... 275

™

TIẾP TỤC QUAN SÁT CỘT ĐÁ CHÙA DẠM ................................................. 288

™

"LÁ TRÚC CHE NGANG MẶT CHỮ ĐIỀN".................................................... 296

™


trăm  trứng, Mười  tám  đời  các  vua  Hùng…  đã  trở  thành  vốn  văn 
hóa  hiển  nhiên  của  nhiều  thế  hệ  nhân  dân  nước  Việt.  Tất  cả 
những  điều  đó  có  trong  một  tác  phẩm  cội  nguồn  của  văn 
chương: Lĩnh Nam chích quái. Tiếp cận nó, dù đứng dưới ngọn cờ 
của bất cứ lí thuyết văn học nào cũng khó có thể hình dung được 
ý nghĩa và giá trị của nó. Định vị nó trong tiến trình văn học, tiến 
trình văn hóa của dân tộc luôn luôn là công việc của tương lai.  
I. SỐ PHẬN

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, Lĩnh Nam chích 
quái là  một  tác  phẩm  thiêng  liêng.  Các  bậc  đại  nho  tài  cao  học 

 

5


rộng,  tràn  trề  tinh  thần  ái  quốc,  tấm  lòng  hiếu  cổ  (yêu  truyền 
thống  văn  hóa  dân  tộc)  từ  Trần  Thế  Pháp  qua  Vũ  Quỳnh,  Kiều 
Phú,  Đặng  Minh  Khiêm  đến  Đoàn  Vĩnh  Phúc,  và  sau  này  là  Lê 
Quý Đôn, Phan Huy Chú… đều tiếp cận tác phẩm với một thái độ 
thành  kính,  ngưỡng  vọng.  Số  phận  tác  phẩm Lĩnh  Nam  chích 
quái dường như tương đồng với số phận của nền văn hóa Đại Việt, 
nền  văn  hóa  dân  tộc:  thăng  trầm,  chìm  nổi,  đối  diện  với  những 
thử thách sống còn của thiên tai nhân họa, nhưng vẫn mang trong 
mình một sức sống mãnh liệt, một khả năng tạo sinh ghê gớm và 
cuối cùng sẽ vĩnh viễn trường tồn với non sông đất nước này. Đọc 
những dòng cảm thán của nhà sử học, nhà thơ Đặng Minh Khiêm 
trong bài Tựa ở sách Vịnh sử thi tập của ông đề vào mùa xuân năm 
Quang  Thiệu  thứ  5  (1520),  ta  phần  nào  hiểu  được  điều  đó:  “Vào 

xác nhận, có khi Lĩnh Nam chích quái được tục biên đến con số gần 
80 truyện trong khoảng 15 văn bản hiện còn. Cái lí do sâu xa nào 
để tác phẩm không ngừng phát triển qua thời gian như vậy? 
II. TƯ TƯỞNG

Bất  luận  những  người  biên  soạn  đầu  tiên Lĩnh  Nam  chích 
quái theo  một  triết  thuyết  tôn  giáo  hay  đạo  đức  xã  hội  nào.  Bất 
luận những người sao chép, tăng bổ, bình luận sau này suốt thời 
kì trung đại theo chính kiến nào, quy thức văn chương nào, thì tư 
tưởng thống soái của họ khi xây dựng, tiếp cận tác phẩm này đó là 
tư  tưởng  ÁI  QUỐC.  Trong  sự  tồn  tại  tổng  thể  của  nó, Lĩnh  Nam 
chích  quái là  một  tượng  đài  kì  diệu  cho  tư  tưởng  ái  quốc.  Chính 
điều này sẽ là kim chỉ nam cho mọi học giả, dù tiếp cận tác phẩm 
dưới  bất  cứ  phương  pháp  khoa  học  ngữ  văn  nào,  thì  vẫn  phải 
đứng ở tư cách, ở nhân cách một người ái quốc.  
Trong  lời Tựa cho  việc  biên  soạn  của  mình,  Vũ  Quỳnh  từ 
năm 1492 đã cho thấy: “Chính các bậc tài cao học rộng thời Lý – 
Trần  khởi  thảo,  được  các  bậc  quân  tử  uyên  bác,  hiếu  cổ  đời  nay 
nhuận  sắc  thêm”,  và  ông  cũng  nói  thêm  “đó  là  sử  trong  truyện 
chăng?”. Lĩnh Nam chích quái ra đời như là sự kết tụ của tinh thần 
độc lập dân tộc chặng đầu của kỉ nguyên Đại Việt hào hùng. Trải 
qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, tư tưởng độc lập dân tộc được 
khởi  phát  từ  khởi  nghĩa  Hai  Bà  Trưng  (thế  kỉ  I),  Bà  Triệu  (thế  kỉ 
III) bắt đầu có thành quả bởi Lí Bôn (thế kỉ VI) và đã là hiện thực 
lịch sử chắc chắn với Ngô Quyền (thế kỉ X), đất nước ta bước vào 

 

7


‐  Quyển  1  gồm:  1) Truyện  Hồng  Bàng;  2) Truyện  Ngư  tinh; 
3) Truyện Hồ tinh; 4) Truyện Mộc tinh; 5) Truyện Trầu cau; 6) Truyện 

8

 


Nhất Dạ Trạch; 7) Truyện Đổng Thiên Vương; 8) Truyện Bánh chưng; 
9) Truyện Dưa hấu; 10) Truyện Bạch trĩ.  
‐ Quyển 2 gồm: 1) Truyện Lý Ông Trọng; 2) Truyện Giếng Việt; 
3) Truyện  Rùa  Vàng;  4) Truyện  Man  Nương;  5) Truyện  Nam  Chiếu; 
6) Truyện thần sông Tô Lịch; 7) Truyện thần núi Tản Viên; 8) Truyện hai 
vị thần Long Nhãn – Như Nguyệt (hoặc Truyện Hai Bà Trưng thay cho 
truyện  này);  9) Truyện  Từ  Đạo  Hạnh;  10) Truyện  Dương  Không  Lộ  ‐ 
Nguyễn Giác Hải; 11) Truyện Hà Ô Lôi; 12) Truyện Dạ Thoa Vương.  
Với  một  trình  tự  chung  như  vậy,  không  khó  gì  chúng  ta 
phát  hiện  được  ý  đồ  lịch  sử  chung  của  những  người  làm  sách: 
sắp xếp về cơ bản theo trình tự thời gian: những chuyện đầu là 
thời tiền sử, những chuyện sau cùng thuộc về thời Trần. Nhưng 
không  nhất  quán  cho  tất  cả.  Truyện  thần  núi  Tản  Viên lại  đứng 
tận thứ 17 sau những truyện khác ở thời Bắc thuộc. Truyện Rùa 
Vàng lại sau Truyện Lý Ông Trọng… Một kiểu cấu trúc ngầm ẩn 
nào  chăng?  Ta  chưa  tường  được.  Trong  điều  kiện  hiện  nay, 
đành  tạm  cho  rằng,  quá  trình  các  bản  sưu  tập  cho  đến  Vũ 
Quỳnh, Kiều Phú đã có sự xáo trộn nào đó nhất định và từ đó, 
các  nhà  biên  soạn  tiếp  theo  cứ  tôn  trọng  bản  cổ  hơn  mà  làm. 
Tuy  nhiên,  cũng  trừ  đi  những  phần  xáo  trộn  ít  ỏi  đó,  nếu  ta 
nhìn theo cách nhìn dân gian, đặc biệt với quyển một, Lĩnh Nam 
chích  quái không  khỏi  gợi  ý  cho  chúng  ta  một  cấu  trúc  quen 

lịch  sử  phức  tạp  nhưng  đầy  quyết  tâm  cho  độc  lập  dân  tộc,  cho 
văn hiến bản địa. Nó là văn xuôi nhưng không chỉ là nghệ thuật 
ngôn  từ,  nó  là  tự  sự  nhưng  đâu  chỉ  là  các  thiên  truyện  cổ.  Đó  là 
một khối đa diện  chứa đựng những yếu  tố  vừa hiện thực vừa kì 
ảo và mãi mãi kêu gọi chúng ta tiếp cận, lí giải. Trước nó, không 
chỉ  người  nay  mà  người  xưa  đã  từng  không  khỏi  băn  khoăn.  Sử 
thần  Ngô  Sĩ  Liên  khi  bàn  về  kỉ Hồng  Bàng  thị trong Đại  Việt  sử  kí 
toàn thư (cũng tương tự Truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích 
quái) nói: “Trong buổi trời đất mới mở mang, có người do khí hóa 
ra rồi mới có hình hóa, đều là hai khí âm và dương cả. Kinh Dịch 
nói: “Trời đất hợp khí, vạn vật hóa thần, đực cái hợp tinh, vạn vật 
hóa sinh”… Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh ra nhà Thương, 
giẫm  vết  chân  khổng  lồ  mà  dấy  lên  nhà Chu,  đều  là  ghi  sự  thực 
như thế. Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên 
mà  sinh  ra  Kinh  Dương  Vương,  tức  là  thủy  tổ  Bách  Việt.  Vương 

10   


lấy con gái Thần Long mà sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân 
lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh ra trăm con trai. Đó chẳng 
là  cái  đã  gây  nên  cơ  nghiệp  của  nước  Việt  ta  hay  sao?  Xét  sách 
Thông giảm ngoại kỉ nói: Đế Lai là con Đế Nghi, cứ theo sự ghi chép 
ấy  thì  Kinh Dương  Vương là em ruột Đế  Nghi,  thế  mà có sự  kết 
hôn với  nhau, có lẽ  vì đời ấy còn hoang sơ,  lễ nhạc  chưa đặt mà 
như thế chăng?”.  
Vũ Quỳnh thì biện luận: “Sự việc tuy kì quái mà không đến 
nỗi nhảm nhí, nhân vật tuy kì lạ mà không trở thành yêu tinh”.  
Đoàn Vĩnh Phúc khuyên: “Chớ vì Khổng Tử nói mà đâm ra 
hiểu nhầm”.  

các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, đến nay đã bắt đầu kết tụ, 
cho  nên  quốc  sử  ghi  chép  đặc  biệt  tường  tận.  Thế  thì  tập  truyện 
này làm ra, có lẽ là sử trong truyện chăng? Không biết sách soạn 
vào thời nào, do ai hoàn thành? Người khởi thảo là các nhà nho tài 
cao học rộng thời Lý – Trần, còn nhuận sắc thì do các bậc quân tử 
hiếu nhã bác cổ ngày nay. Ngu tôi sau đây xin lần lượt khảo sát và 
trình bày đầu đuôi các truyện, đồng thời nêu lên ý tưởng của tác 
giả. Như Truyện Hồng Bàng nói rõ quá trình khai sáng nước Hoàng 
Việt; Truyện  Dạ  Thoa  Vương tóm  lược  sự  manh  nha  của  Chiêm 
thành; Truyện Chim Trĩ trắng là để chép về họ Việt Thường; Truyện 
Rùa  Vàng là  để  viết  sự  tích  An  Dương  Vương.  Theo  phong  tục 
phương Nam, đồ sính lễ không gì quan trọng bằng trầu cau; đưa 
ra  biểu  dương  cùng  là  nhằm  làm  cho  nghĩa  vợ  chồng,  tình  cảm 
anh  em  được  tỏ  rõ.  Vào  mùa  hè,  hoa  quả  phương Nam không  gì 
quý bằng quả dưa hấu; nêu lên để nói, là nhằm phê phán thái độ 
cậy  vào  mình  mà  coi  thường  ơn  chúa.  Truyện  Bánh  chưng ngợi 
khen  lòng  hiếu  thảo;  Truyện  Ô  Lôi răn  dạy  thói  dâm  bôn.  Đổng 
Thiên  Vương  phá  giặc  Ân,  Lý  Ông  Trọng  diệt  Hung  Nô,  qua  đó 
biết nước Nam có người tài giỏi. Chử Đồng Tử tình cờ mà lấy Tiên 
Dung, Thôi Vĩ không hẹn mà gặp tiên khách, qua đó thấy âm đức 
của việc thiện. Truyện Đạo Hạnh, Không Lộ đáng khích lệ ở chỗ báo 
được  thù  cha,  mà  sự  tích  hai  vị  thiền  sư  qua  đó  cũng  không  thể 
nào mai một. Truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh đáng ngợi khen ở chỗ trừ 
được  yêu  quái,  mà  ân  đức  của  Long  Vương  qua  đó  cũng  không 
thể nào quên. Hai vị họ Trương sống trung nghĩa, chết thành thổ 
thần, nêu lên để biểu dương, ai bảo là không được? Thần Tản Viên 
linh thiêng, có khả năng diệt loại thủy tộc, làm rõ để soi sáng, ai 

12   


Tiếp tục là diễn biến cốt truyện theo hành trạng và các mối quan 
hệ, các sự kiện, chi tiết của nhân vật chính. Kết thúc truyện nhằm 
 

13 


giải  thích  một  hiện  tượng,  một  hoạt  động  thờ  cúng,  một  tập  tục 
hay  một  dấu  tích  để  lại,  một  sự  ghi  nhận  phong  tặng  của  triều 
đình,  một  hành  vi  âm  phù.  Phần  kết  thường  bắt  đầu  từ  hai  chữ 
“Từ  đấy…” như  kết  thúc  của  truyện  cổ  dân  gian.  Nói  chung,  cốt 
truyện,  cấu  tạo  truyện  đã  tự  do  hơn  nhiều  so  với Việt  điện  u  linh 
của Lý Tế Xuyên. Điều đáng lạ là dù truyện mang tên là Lĩnh Nam 
chích  quái (Sưu  tập,  lượm  lặt  những  sự  lạ  trong  cõi  Lĩnh  Nam) 
song hành trình truyện dường như không lấy cái kì ảo cái quái dị 
hay kinh dị làm mục tiêu mà một ý đồ rõ ràng trái lại: mọi yếu tố 
được coi là quái lại được trình bày minh bạch và duy lí. Tất cả đều 
sáng  sủa,  rõ  ràng.  Nếu  ai  muốn  chờ  đợi  ở  đây  một  thế  giới  như 
Chí  quái thời  Ngụy  Tấn  Nam  Bắc  triều, truyền  kì đời  Đường,  Liêu 
trai chí dị đời Thanh thì sẽ thất vọng. Truyện đọc dễ hiểu. Mọi chi 
tiết  đều  sắp  xếp  có  logic  giữa  nguyên  nhân  và  kết  quả,  thật  đơn 
giản  và  mạch  lạc,  không  hướng  đến  cái kì như  một  mục  đích  tự 
thân. Nó là sử trong truyện, là sử hóa các thần thoại và truyền thuyết 
dân gian. Với những người được đào tạo theo lí thuyết tự sự châu 
Âu, sẽ không có ai sau khi đọc Lĩnh Nam chích quái mà lại kêu lên 
rằng là truyện khó hiểu.  
Vậy  thì  kiểu  tự  sự  nào  khiến  các  thế  hệ  tri  thức  trung  đại 
ngưỡng  vọng  nó  và  khiến chúng  ta không  khỏi  băn khoăn.  Một 
vài  tranh  luận  rằng  đó  là  một  tác  phẩm  sáng  tạo  của  văn  học 
thành văn, rằng đó thuần túy là một sưu tập dân gian; rằng đó là 

quen thuộc và hiển nhiên như một danh từ riêng chỉ về một thời 
đại  đầu  tiên,  thời  đại  cội  nguồn  của  dân  tộc  Việt Nam.  Một  lúc 
nào  đó,  chợt  chúng  ta  tự  hỏi  đó  là  gì  nhỉ?  Ai  phát  hiện  ra  nó? 
Hồng chữ  Hán  so  nghĩa  là  to  lớn,  cũng  có  nghĩa  là  trận  lụt  lớn 
bao trùm toàn cầu, đồng nghĩa với hồng thủy (theo Hán – Việt tự 
điển của  Thiều  Chửu).  Bàng chữ  Hán  có  nghĩa  là  to  lớn  mênh 
mông, rộng trùm vũ trụ. Đồng âm với những chữ Bàng chỉ mưa 
to lụt lớn. Điều gì đã xảy ra khi hai chữ Hồng và Bàng này kết hợp 
lại  để  chỉ  thời  kì  khởi  nguyên  của  dân  tộc.  Không  gì  khác  hơn  đó 
chính  là  biểu  tượng  thần  thoại  phổ  biến  toàn  thế  giới:  Vũ  trụ 
Khaox: Vũ trụ khởi nguyên mênh mông mù mịt và hỗn mang, bắt 
đầu của mọi bắt đầu. Ở các cộng đồng khác nhau trên thế giới, ở 
các cộng đồng khác nhau trong khối Bách Việt, phía nam Dương 
Tử,  đều  có  biểu  tượng  này,  nằm  dưới  cách  diễn  đạt  vừa  trực 
 

15 


quan sinh động vừa khái quát. Mọi thần thoại đều hướng về hỗn 
mang  theo  tư  duy  suy  nguyên.  Mọi  lịch  sử  đều  bắt  đầu  bằng 
thần  thoại.  Trước  mắt  các  trí  thức  Lý  –  Trần  là  kho  tàng  thần 
thoại phong phú của miền Lĩnh ngoại khác Hán. Trong tim họ là 
tấm  lòng  yêu  nước  thiết  tha.  Trong  óc  họ  là  yêu  cầu  khái  quát 
lịch  sử.  Trong  tay  họ  lúc  đó  là  những  quy  thức  từ  chương  học 
chữ  Hán. Một phát kiến không thể súc tích hơn:  ba  chữ  Hồng  – 
Bàng  –  Thị.  Nó  tích  lũy  như  một  symbol,  một  biểu  tượng,  một 
phù  hiệu  cao  quý  mãi  mãi  theo  trang  trọng  đầu  nguồn  lịch  sử 
dân tộc, mà không một thế lực nào từ đó có thể hạ xuống. Trong 
lòng  nó,  tích  lũy  cả  một  kho  tàng  thần  thoại.  Nó  chính  là  phát 

Mặt  trời.  Lại  một  tích  hợp  thần  thoại  khởi  nguyên  của  cư  dân 
phương  Nam.  Người  phương Nam nghĩ  gì  khi  khắc  khuôn  mặt 
trống đồng trên bàn xoay: bắt đầu bằng mặt trời và cuộc sống sẽ 
xoay quanh, sẽ lan tỏa từ mặt trời. Sử thi Mường, Thái kể sau buổi 
hồng hoang sẽ là gì nếu không là sự ra đời của trời, đất, mặt trời, 
mặt trăng. Nếu người Việt nói “Vua mặt trời”, người Mường nói 
“Mặt trời mặt sáng” thì kí tự chữ Hán sẽ là gì nếu không lựa chọn 
Viêm  Đế  ‐  Thần  Nông.  Lại  một  sự  lựa  chọn  biểu  tượng  nữa. 
Chúng ta vốn dân phương Nam, ở đó có Bách Việt mà hai Việt đại 
biểu trong đó là Việt của Đế Nghi (Bắc của phương Nam) và Việt 
của  Kinh  Dương  Vương  (Nam  của  phương Nam).  Kinh  Dương 
Vương là vua của đất Kinh đất Dương vùng hồ Động Đình. Vấn 
đề Đông Nam Á phía Nam sông Dương Tử không chỉ bây giờ mới 
có  mà  các  bậc  túc  nho  đầu  thời  Đại  Việt  đã  từng  đặt  ra.  Chỉ  có 
điều  họ  kí  tải  một  cách  súc  tích  dưới  dạng  biểu  tượng  mà  thôi. 
Dòng dõi Mặt Trời sẽ sản sinh Mặt Trời. Đế Minh: vị đế của ánh 
sáng không gì khác hơn là một phân thân của Mặt Trời. Trong một 
văn  hóa,  ở  cấp  độ  biểu  tượng  hoa  văn  hình  học,  mặt  trời  tồn  tại 
dưới nhiều hình vẽ khác nhau thì trong ngôn ngữ (hiện thực trực 
tiếp  của  tư  duy)  cũng  vậy  (hiện  tượng  đồng  nghĩa  thường  thấy 
trong bất cứ ngôn ngữ nào). Đế Minh cũng là Mặt Trời. Đế Minh 
lấy Vụ Tiên mà sinh ra Kinh Dương Vương. Vụ Tiên là tên chòm 
sao  vẫn  gọi  là  sao  Vụ  Nữ  nằm  ngay  đỉnh  bầu  trời  Bắc  Bộ 
Việt Nam.  Vua  lấy  Sao  để  sản  sinh  ra  các  bậc  kế  nghiệp.  Ta  hãy 
thử so sánh với sử thi thần thoại người Mường Đẻ đất đẻ nước thì 
thấy sự trùng hợp lạ lùng. Đó là các chương về lang Cun Cần lấy 

 

17 

thuật  ngôn  từ.  Trường  hợp  đặc  biệt  của  lịch  sử  biến  họ  thành 
những người luyện đan. Sản phẩm của họ sẽ trường tồn và luôn 
luôn  kêu  gọi  sự  khám  phá  vì  trong  đó  còn  nhiều  quy  luật  sáng 
tạo chưa được phát hiện.  

18   


Đưa  ra  một  truyện  là  để  minh  họa,  nhưng  không  chỉ  một 
Hồng  Bàng  thị mà  thôi.  Ta  thử  tiếp  cận  một  truyện  ở  quyển  II: 
Truyện  thần  núi  Tản  Viên.  Câu  chuyện  là  sự  tích  hợp  cả  một  hệ 
thống  thần  thoại,  truyện  cổ  tích,  truyền  thuyết  trên  một  địa  bàn 
văn hóa rộng lớn xung quanh núi Tản Viên, Tam Đảo, Hi Cương. 
Những sưu tầm hồi cố  văn học dân gian  trên  các tỉnh Vĩnh Phú, 
Hà Tây, Hòa Bình trước đây cho ta sự phong phú kì lạ của các dị 
bản,  biến  thể  câu chuyện  này.  Ngay  theo  dõi  các  dị  bản  của Lĩnh 
Nam chích quái cũng cho ta thấy điều đó. Có hai cốt lõi thần thoại 
chủ yếu của câu chuyện: thần thoại về thần núi Ba Vì và thần thoại 
giải  thích  nạn  lụt  định  kì  trên  không  gian  vùng  quanh  chân  núi. 
Người Mường, cư dân chủ thể vùng chân núi Ba Vì trước đây, dù 
cho  đã  di  chuyển  đi  các  nơi  vẫn  thường  nhờ  thần  Tản  Viên  làm 
Thành hoàng. Giáo sư Nguyễn Từ Chi, nhà nghiên cứu Mường số 
một của Việt Nam, qua thời kì lâu dài điều tra dân tộc học, cung 
cấp cho chúng ta hai cốt truyện cơ bản: 
‐  Cốt  truyện  giải  thích  nạn  lũ  lụt  định  kì:  Bên  cạnh  thế  giới 
Đất  (Mường  Bằng)  của  người  ở,  có  thế  giới  Nước  của  Long 
Vương. Long  Vương  (còn gọi là Vua Khú) là  một  loại rắn  lớn  có 
mào đỏ. Tuy là hai thế giới nhưng vẫn có quan hệ giao lưu. Công 
tử con Vua Khú thường biến thành các chàng trai tuấn tú lên hỏi 
vợ  ở  Mường  Bằng.  Mỗi  năm  một  lần,  mỗi  khi  đưa  đồ  sính  lễ  là 

của nó vẫn giữ được những biểu tượng cơ bản nhất theo kiểu tự 
sự trầm tích.  
Sự phân chia Việt – Mường và các tộc người khác chắc chắn 
đã rõ nét vào đầu thời Đại Việt. Cũng theo một dị bản Lĩnh Nam 
chích  quái ghi  lại,  cư  dân  vùng  Tản  Viên  sơn  là  người  “Bạch  Y 
Man” (Man áo trắng). Vấn đề là tại sao các tác giả thời đó lại vượt 
qua kì thị, gộp thần Tản Viên vào điện thờ Đại Việt. Và Tản Viên 
có vai trò như thế nào với tư cách là một biểu tượng trong lịch sử 
cội  nguồn.  Địa  linh  nhân  kiệt.  Một  quốc  gia  độc  lập,  có  truyền 
thống  thì  phải  có  sông  núi  linh  thiêng.  Trung  Hoa  có  Thái  Sơn, 
Ngũ Nhạc. Nhật Bản có Đại  Phú Sĩ thì Đại Việt đã lựa chọn Tản 
Viên  sơn,  phía  Tây  kinh  thành  làm  tổ  sơn,  chứa  đựng  “linh  khí 
phương Nam, vượng khí… sao có thể diệt được” như lời từ miệng 
nhân  vật  Cao  Biền.  Tản  Viên  sơn  trở  thành  đệ  nhất  linh  sơn  của 
cõi Lĩnh Nam. Thần Tản Viên vốn được cư dân bản địa thờ cúng 
đã được nhận thức như dòng dõi của Lạc Long Quân – Âu Cơ về 

20   


biển rồi lại lên núi. Cuộc hội tụ dân tộc để làm nên Đại Việt hôm 
nay. Chỉ có thể nói rằng, cùng với xu hướng độc lập dân tộc, các 
trí thức Lý – Trần – Lê qua kinh nghiệm điền dã dân gian, đã có 
những  dự  báo thiên tài  về vấn đề Việt ‐ Mường  chung, không đợi 
đến bộ môn dân tộc học hiện đại. Ngụ ngôn của lịch sử nằm trong 
trầm tích Lĩnh Nam chích quái là vậy. Đây lại cũng là điều, với mặt 
bằng tự sự hiển minh qua văn bản, chúng ta khó lòng mà nhận ra 
nếu không so sánh văn hóa.  
Hai câu chuyện trên chỉ là ví dụ, với những Truyện trầu cau, 
Truyện Man Nương, Truyện Mộc Tinh, Truyện Ngư Tinh, Truyện Hồ 

phải xây dựng một quốc thống đến tận thời hồng hoang của lịch 
sử,  và  nó  đã  hoàn  thành  xuất  sắc  sứ  mạng  này  qua  con  đường 
tổng kết huyền tích, thần thoại cho các bộ lịch sử đời sau. Những tri 
thức  về  cội  nguồn  dân  tộc  mà  Lĩnh  Nam  chích  quái phát  ngôn  dù 
mang hạn chế lịch sử nhưng cũng chứa đựng những cốt lõi lịch sử 
(vấn đề Đông Nam Á, vấn đề Việt – Mường chung, vấn đề đoàn kết 
tộc người trong không gian Đại Việt…) mà ngày nay vẫn cần khám 
phá, vẫn là vấn đề thời sự. Đọc kĩ ở đây, chúng ta nhận ra một chất 
lượng tư duy đặc biệt siêu phàm của các tri thức  nho  học  ái  quốc 
thời Lý – Trần – Lê. Một thái độ đúng trước Lĩnh Nam chích quái hãy 
là một thái độ trân trọng, cầu thị để mong hiểu biết nó hơn.  
2. Lĩnh Nam chích quái có một tính chất đặc biệt, đó là khả năng 
trường  tồn  và  khả  năng  tạo  sinh  mãnh  liệt.  Điều  này  chỉ  có  ở 
những  tác  phẩm  có  giá  trị  mới  có.  Với  những  tác  phẩm  tầm 
thường,  chắc  chắn  sẽ  đơn  độc  mà  tàn  lụi.  Còn Lĩnh  Nam  chích 
quái thì không thế. Tình trạng dị bản của tác phẩm không nên chỉ 
quan  sát  dưới  góc  độ  tiêu  cực  của  quá  trình  ấn  loát  và  lưu  hành 
mà hãy lí giải sức sống của chính nó. Những người chăm sóc, gìn 
giữ, tu bổ cho tác phẩm không phải vì vinh danh, vì hiếu cổ mà đó 
là  những người thiết tha  với văn hóa, với  dân  tộc. Lĩnh Namchích 
quái là tác phẩm có khả năng quy tụ nhân tâm, những nhân tâm có 
trách nhiệm với sự tồn vong của đất nước này.  
3. Lĩnh Nam chích quái là một kiểu tự sự đặc biệt mà không phải 
tác phẩm văn xuôi nào cũng có. Một số học giả trước đây từng đề 
cập  tới  kiểu,  chất  văn  xuôi,  tự  sự  nghệ  thuật  của  tác  phẩm.  Đinh 
Gia Khánh, người có công trình chuyên khảo đầu tiên về Lĩnh Nam 
chích  quái,  cũng  là  người  đầu  tiên  viết  trong  một  tập  văn  học  sử: 

22   


nếu yêu cầu chỉ ra bản nguyên của nó.  
4.  Với  những  điều  đặc  biệt  nói  trên,  ta  thấy Lĩnh  Nam  chích 
quái tồn tại như một hiện tượng hi hữu, độc nhất vô nhị trong văn 
 

23 


học  trung  đại.  Trên  mặt  bằng  hiển  minh  của  văn  bản,  nhiều  nhà 
nghiên  cứu  có  thế  xếp  loại  nó  cùng  một  tập  hợp  các  tác  phẩm 
tương đồng này khác. Điều đó có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, 
Lĩnh  Nam  chích  quái vẫn  vượt  lên  như  một  tác  phẩm  độc  đáo,  có 
một không hai.  
Vượt qua chức năng một tác phẩm văn chương, một lần nữa 
chúng ta hãy quan sát Lĩnh Nam chích quái như một tượng đài văn 
hóa  tinh  thần  cổ  kính,  thiêng  liêng  và  kì  diệu.  Lĩnh  Nam  chích 
quái dạy  chúng  ta  lòng  yêu  nước,  yêu  truyền  thống  dân  tộc,  yêu 
văn hóa mà nhân dân sáng tạo ra trong trường kì lịch sử.  
Hà Nội, 2006 
Tạp chí Nghiên cứu văn học, số VIII năm 2006, trang 98‐112

24   


 

“DI TÍCH ĐÀN XÃ TẮC”
CHÍNH LÀ NƠI THỜ HẬU TẮC, THỦY TỔ
NHÀ CHU
Để dễ theo dõi vấn đề, tôi nói ngay rằng: Đời Lý, đời Trần, người 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status