Luận văn thạc sĩ khoa học
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
HÀ QUỐC DƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG HẠ GLUCOSE VÀ LIPID MÁU CỦA
DỊCH CHIẾT VỎ QUẢ MĂNG CỤT (Garcinia mangostana L.)
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. ĐỖ NGỌC LIÊN
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
Luận văn thạc sĩ khoa học
HÀ NỘI – 2011
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trung tâm Kiểm nghiệm Dược Bắc
Giang và Phòng Miễn dịch học thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học Sự
sống, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS. TS. Đỗ
Ngọc Liên, giảng viên cao cấp, Bộ môn Sinh lý Thực vật và Hoá sinh –
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giao đề
tài và luôn ở bên tôi trong suốt quá trình làm luận văn, chỉ bảo tôi về
chuyên môn cũng như động viên tôi trong cuộc sống, giúp tôi hoàn thành
Luận văn thạc sĩ khoa học
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BMI : chỉ số khối cơ thể
GOT: Glutamat Oxaloacetat Transaminase
GPT: Glutamat Pyruvat Transaminase
ĐTĐ: đái tháo đường
HDL: lipoprotein tỉ trọng cao (High Density Lipoprotein)
LDL: lipoprotein tỉ trọng thấp (Low Density Lipoprotein)
TG: triglycerid
LD50: Liều độc cấp
STZ: streptozotocin
IC50: Nồng độ ức chế 50% (của α-glucosidase)
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
Luận văn thạc sĩ khoa học
Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Chương 1. Tổng quan tài liệu
3
7
1.2.2. Tình hình nghiên cứu béo phì trên thế giới và trong nước
8
1.2.3. Các yếu tố gây thừa cân và béo phì
9
1.2.4. Tác hại và những nguy cơ của bệnh béo phì
10
1.2.5. Giải pháp phòng và điều trị bệnh béo phì
10
1.2.6. Một số chỉ tiêu hóa sinh liên quan đến rối loạn và trao đổi lipid và glucid
12
1.3 Bệnh đái tháo đường
13
1.3.1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường
14
1.4.2. Các cơ chế tác dụng chống béo phì và đái tháo đường của dịch chiết thực vật
hoặc hợp chất tự nhiên đã được nghiên cứu
19
1.5. Ức chế enzyme alpha-glucosidase
20
1.5.1. Enzyme alpha-glucosidase
20
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu ức chế enzym α-glucosidase
21
1.6. Vài nét về cây măng cụt
21
1.6.1. Đặc điểm thực vật học và phân bố hình thái
21
1.6.2. Thành phần hóa học của vở quả măng cụt
22
24
2.3. Phương pháp nghiên cứu
24
2.3.1. Xử lý mẫu
24
2.3.2. Định tính một số hợp chất tự nhiên trong vỏ quả măng cụt
24
2.3.2.1. Định tính flavonoids
2.3.2.2. Định tính tannins
2.3.2.3. Định tính các polyphenols khác
25
25
25
2.3.2.4. Định tính glycoside
26
2.3.2.5. Định tính alkaloids
26
2.3.4.6. Tiến hành lấy mẫu thử nghiệm sau khi kết thúc đợt thí nghiệm
30
2.3.5. Phương pháp xác định một số chỉ số hóa sinh trong máu chuột trước và
sau khi điều trị bằng dịch chiết trên máy phân tích tự động OLYMPUS AU640
31
2.3.5.1. Định lượng glucose huyết theo giai đoạn thực nghiệm
31
2.3.5.2. Định lượng Triglycerid huyết thanh
31
2.3.5.3. Định lượng cholesterol toàn phần trong huyết thanh
32
2.3.5.4. Kết quả thử hoạt tính α-glucosidase
32
2.3.6. Xác suất thống kê toán học xử lí số liệu
34
Chương 3. Kết quả và thảo luận
35
phì thực nghiệm
42
3.6.1. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết vỏ quả măng cụt lên khối lượng cơ
thể chuột
42
3.6.2. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết vỏ quả măng cụt lên một số chỉ số
hóa sinh trong máu chuột béo phì thực nghiệm
44
3.6.2.1. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết vỏ quả măng cụt lên một số chỉ
số hóa sinh trong máu chuột béo phì
44
3.6.2.1.1. Nồng độ glucose (mmol/l) máu chuột béo phì
44
3.6.2.1.2. Nồng độ cholesterol (mmol/l) máu chuột béo phì
45
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
3.7. Khảo sát hoạt tính của vỏ quả măng cụt trong việc ức chế enzyme
Glucosidase
57
Kết luận và kiến nghị
61
Tài liệu tham khảo
63
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
Luận văn thạc sĩ khoa học
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, tình trạng béo phì và thừa cân đang tăng lên với tốc độ báo động
không những ở các quốc gia phát triển mà cả các quốc gia đang phát triển. Đây là
mối đe dọa tiềm ẩn của các bệnh rối loạn trao đổi chất và tim mạch trong tương lai.
Theo tổ chức quốc tế theo dõi bệnh béo phì (International Obesity Tast Force –
IOTF) nghiên cứu, hiện nay trên thế giới có khoảng 1,7 tỷ người thừa cân và mắc
bệnh béo phì. Các kết quả điều tra được tiến hành gần đây cho thấy, Mỹ là nước có
số dân béo phì nhiều nhất trên thế giới với khoảng 60 triệu người. Theo thống kê
của Liên Đoàn Đái tháo đường quốc tế (1991), tỉ lệ người bị thừa cân và béo phì ở
một số nước Châu Á như sau: Thái Lan 3,58%, Philipin 4,27%, Malaysia 3,01%,
tháo đường, tim mạch,...Vỏ quả măng cụt là một phương thuốc trị bệnh tại các nước
vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam,...nhưng chưa có tài liệu nào
trên thế giới và trong nước nghiên cứu về tác dụng chống béo phì và đái tháo đường
của nó. Chính vì những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu khoa học là:
“Nghiên cứu tác dụng hạ glucose và lipid máu của dịch chiết vỏ quả Măng cụt
(Garcinia mangostana L.)”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xác định được khả năng hạ glucose và lipid máu của các cao phân đoạn
dịch chiết vỏ quả măng cụt trên mô hình chuột béo phì.
- Xác định được khả năng hạ glucose của các cao phân đoạn dịch chiết vỏ
quả măng cụt trên mô hình chuột ĐTĐ typ 2.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các cao phân đoạn dịch chiết vỏ quả măng cụt
lên các chỉ số enzym gan GOT và GPT trên mô hình chuột ĐTĐ typ 2.
- Khảo sát hoạt tính của vỏ quả măng cụt trong việc ức chế enzym
glucosidase.
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
2
Luận văn thạc sĩ khoa học
NỘI DUNG
Chương 1. Tổng quan tài liệu
1.1. Các hợp chất phenol và polyphenol
Hợp chất thực vật thứ sinh là các sản phẩm của các qúa trình trao đổi chất
được sinh ra ở thực vật. Chúng là các chất hoá học được tổng hợp và chuyển hoá từ
các chất trao đổi bậc nhất như axit amin, axit nucleic, carbonhydrate, lipid, peptid,
hoặc từ các sản phẩm trung gian của chu trình đường phân, chu trình pentosephosphate, chu trình axit citric,…Khác với các chất trao đổi bậc nhất, giữ vai trò
nhóm hợp chất phenolics thường gặp trong tự nhiên, chúng thường là những sắc tố,
phần lớn có màu vàng (flavon, flavonol, chancol), không màu (izoflavon, catechin)
hoặc có màu đỏ hoặc màu vàng (anthocyane). Tuy nhiên màu sắc của các loại
flavonoid còn thay đổi theo pH của môi trường.
Trong cây, flavonoid thường tồn tại dưới 2 dạng là dạng tự do (aglycon) và
dạng liên kết (glycoside). Dạng aglycon tan nhiều trong các dung môi hữu cơ như
ether, ethanol, acetone,…và hầu như không tan trong nước. Dạng glycoside liên kết
với đường tan nhiều trong nước và hầu như không tan trong các dung môi hữu cơ.
a. Cấu trúc hoá học và phân loại
Bộ khung carbon của flavonoid là C6-C3-C6, gồm 15 nguyên tử carbon, 2
vòng benzene A và B nối với nhau qua vòng pyren C, trong đó A kết hợp với C tạo
thành khung chroman.
2'
8
7
9
1
2
10
5
B
1'
C
Luận văn thạc sĩ khoa học
HO
OH
OH
Glucose
OH
O - Rhamnose - glucose
O
O
Saponin
Rutin
Flavonoid có thể tham gia vào nhiều phản ứng hoá học khác nhau như phản
ứng của nhóm hydroxyl (OH), phản ứng của vòng thơm (diazo hoá), phản ứng của
nhóm cacbonyl (phản ứng shinoza) và phản ứng tạo phức với kim loại. Hiện nay đã
có hơn 4500 các loại flavonoid khác nhau tồn tại trong thực vật đã được nhận dạng.
b. Tác dụng sinh học của flavonoid
Trong cây, flavonoid giữ rất nhiều vai trò mang chức năng sinh lý, sinh thái
có ý nghĩa sống còn như: điều chỉnh sự phân bố năng lượng ánh sáng ở lá cây
(flavonol, anthocyanes), làm tăng hiệu quả quang hợp, bảo vệ cây tránh được những
Tannin được cấu tạo dựa trên acid tannic và acid gallic, phổ biến trong cây ở
dạng tự do hoặc ở dạng glycoside kết hợp với đường. Tannin thường là các hợp
chất vô định hình, có màu trắng, màu vàng nhạt hoặc gần như không màu, có hoạt
tính quang học, có vị chát, dễ bị oxy hoá khi đun nóng và khi để ngoài ánh sáng và
có trọng lượng phân tử dao động từ 5.000 đến 20.000. Tannin tan nhiều trong nước
(tốt nhất là trong nước nóng), tan trong các dung môi hữu cơ như ethanol, hoà tan
một phần trong axetone, ethylaxetat và hầu như không tan trong các dung môi kém
phân cực như chloroform, benzene,…Tannin tạo phức màu đặc trưng với các kim
loại nặng, tạo phức với protein, tinh bột, cellulose và muối khoáng.
Procyanidin
Pistafolin A
b. Tác dụng sinh học
Tannin là các chất bảo vệ cho cây trước sự tấn công của vi sinh vật gây bệnh,
các loài động vật và côn trùng ăn lá. Về tác dụng y học, tannin được sử dụng làm
thuốc cầm máu, thuốc chữa đi ngoài, chữa ngộ độc kim loại nặng, thuốc chống ung
thư, thuốc chữa trĩ, viêm miệng, viêm xoang, điều trị cao huyết áp và chứng đột
quỵ.
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
6
Luận văn thạc sĩ khoa học
1.1.3. Ứng dụng của các hợp chất phenol và polyphenol
- Công nghệ Y- Dược: rất nhiều hợp chất thứ sinh được sử dụng để sản xuất nhiều
Luận văn thạc sĩ khoa học
Người gầy: BMI < 18,5
Bình thường: BMI từ 18,5 đến 22,9
Béo phì độ 1: BMI từ 23 đến 24,9
Béo phì độ 2: BMI từ 25 đến 29,9
Béo phì độ 3: BMI ≥ 30
1.2.2. Tình hình nghiên cứu béo phì trên thế giới và trong nước [2]
Theo tổ chức y tế thế giới, hiện nay số người béo phì trên thế giới đã lên đến
hơn 1,7 tỉ người. Trên thế giới cứ 4 người trưởng thành thì có một người béo phì,
tức là số người béo phì ở độ tuổi trưởng thành trên thế giới chiếm 25% . Tình trạng
béo phì đang tăng lên với tốc độ báo động, không những ở các quốc gia phát triển
mà ở cả các quốc gia đang phát triển. Tỉ lệ người béo phì ở Mỹ chiếm tới hơn 30%,
Trung Quốc có hơn 20% số người thừa cân và béo phì. Số người béo phì cũng đang
báo động ở châu âu, đứng đầu bảng là nước Anh với hơn 23% số người béo phì, và
châu âu hiện có tới hơn 14 triệu trẻ em thừa cân và béo phì. Còn ở châu mỹ thì
Braxin cũng là nước có tỉ lệ người dân bị béo phì cao (chiếm 16%) .
Theo tiêu chuẩn châu á, Việt Nam hiện có 16,8% số người ở độ tuổi từ 25 –
64 đã thừa cân, béo phì. Theo đó thì cứ 100 người trong độ tuổi trưởng thành thì có
17 người béo phì, và tỉ lệ người béo phì ở thành phố gấp 3 lần ở nông thôn. Tình
trạng thừa cân béo phì tăng nhanh ở tuổi ngoài 45 (chiếm 2/3 số người béo phì) và
nữ giới có tỉ lệ béo phì cao hơn nam giới. Còn đối với trẻ em thì tình trạng béo phì
cũng ở mức đáng ngại. Theo kết quả điều tra của Viện dinh dưỡng: ở Hà Nội có tới
4,9% số trẻ ở độ tuổi từ 4 – 6 bị thừa cân béo phì. ở Thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ
này còn cao hơn nhiều, có tới 6% số trẻ dưới 5 tuổi và 22,7% số trẻ đang học ở cấp
I bị thừa cân béo phì. Đây thật sự là mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai, ảnh hưởng
lớn đến sức khỏe của mỗi người và sự phát triển của kinh tế và xã hội [9].
1.2.3. Các yếu tố gây thừa cân và béo phì [3, 9]
này giải thích béo phì biểu hiện ở tuổi trung niên, hiện tượng béo phì ở các vận
động viên sau khi giải nghệ và công nhân lao động chân tay có xu hướng béo phì
khi về hưu.
Yếu tố di truyền: Đáp ứng phát sinh nhiệt kém có thể do yếu tố di truyền.
Yếu tố di truyền có vai trò nhất định đối với những trẻ béo phì thường có cha mẹ
béo, tuy vậy nhìn trên đa số cộng đồng thì yếu tố này không lớn.
Yếu tố kinh tế xã hội: ở các nước đang phát triển, tỉ lệ người béo phì ở tầng
lớp nghèo thường thấp (thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó
khăn) và béo phì thường được coi là một đặc điểm của người giàu có. ở các nước đã
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
9
Luận văn thạc sĩ khoa học
phát triển, khi thiếu ăn không còn phổ biến nữa thì tỉ lệ béo phì lại thường cao ở
tầng lớp nghèo, do thói quen ăn uống thiếu khoa học của họ.
1.2.4. Tác hại và những nguy cơ của bệnh béo phì
Mất thoải mái trong cuộc sống: Người béo phì thường có cảm giác khó chịu
về mùa hè do lớp mỡ dày như một hệ thống cách nhiệt. Người béo phì cũng thường
xuyên cảm thấy mệt mỏi chung toàn thân, hay nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho
cuộc sống thiếu thoải mái.
Giảm hiệu suất lao động: Người béo phì làm việc chóng mệt, nhất là ở môi
trường nóng. Mặt khác do khối lượng cơ thể quá nặng nề nên để hoàn thành một
động tác, một công việc trong lao động, người béo phì mất nhiều thì giờ hơn và mất
nhiều công sức hơn. Hậu quả là hiệu suất lao động của người béo phì giảm rõ rệt
hơn so với người bình thường.
Kém lanh lợi: Người béo phì thường phản ứng chậm chạp hơn so người bình
dụng hiện nay là:
+ Metformin: có tác dụng giảm mỡ máu dẫn đến giảm trọng lượng, tuy nhiên
nó cũng hay gây tác dụng phụ là buồn nôn, tiêu chảy, gây toan máu...
+ Orlistat (Xenical): làm ức chế lipase và sự hấp thu mỡ ở ruột, tác dụng phụ
của orlistat là làm suy giảm khả năng hấp thụ vitamin tan trong mỡ.
+ Các thuốc ức chế sự thèm ăn như: ephedrine, caffeine.
Tuy nhiên sử dụng thuốc cũng thường gây ra những tác dụng phụ không
mong muốn, nên cần hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc.
- Phẫu thuật để giảm cân: áp dụng đối với những bệnh nhân có BMI trên 35,
kèm theo các bệnh lý và rối loạn liên quan. Phẫu thuật mang lại thành công rất lớn,
nhiều người giảm được đến 50% cân nặng trong vòng 1 – 2 năm đầu sau phẫu thuật,
tuy nhiên nó cũng gây ra nhiều tác dụng phụ như suy nhược, khô da, rụng tóc tạm
thời…
Vì vậy, chiến lược phòng và chống bệnh béo phì lâu dài hiện nay được tập
trung theo các hướng sau:
- Nghiên cứu cơ chế hóa sinh và dược lý của các dược phẩm nhằm giảm
nồng độ lipid máu ở người bị bệnh béo phì theo hướng: gây giảm mức tiêu thụ thức
ăn (gây cảm giác chóng no), kìm hãm sự hấp thụ lipid từ ruột, tăng cường khả năng
tiêu phí năng lượng, kìm hãm tổng hợp triglycerid.
- Nghiên cứu, sản xuất các dạng thực phẩm chức năng hoặc các thực phẩm
thuốc “Alicament” từ các nguồn dược thảo trong thiên nhiên có tác dụng giảm
cholesterol máu,...
Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng các
hợp chất tự nhiên từ thực vật để chữa bệnh béo phì, đái tháo đường và các bệnh
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
11
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
12
Luận văn thạc sĩ khoa học
ở người bình thường, hàm lượng Cholesterol máu luôn hằng định, khi vì một lý do
nào đó mà nó tăng quá cao thì gây hiện tượng “tăng mỡ máu”.
Cholesterol thực chất không hoà tan trong máu, nên khi lưu thông trong máu
chúng được bao quanh bởi một lớp áo protein (còn gọi là lipoprotein), chúng giống
như những chiếc xe vận tải chuyên chở Cholesterol. Có hai loại lipoprotein quan
trọng là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDLC) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDLC). LDLC
có vai trò vận chuyển Cholesterol một chiều từ gan đến các mô của cơ thể. Và khi
lượng LDL trong máu cao, thành động mạch sẽ bị đóng mỡ gây xơ vữa thành mạch,
do đó chúng được gọi là Cholesterol “xấu”. Ngược lại, HDL C có vai trò vận chuyển
Cholesterol dư thừa từ các mô và trong mạch máu đưa trở về gan, chuyển giao cho
mật để thải ra ngoài, ngăn cho chúng không xâm nhập vào thành động mạch, do đó
chúng được gọi là Cholesterol “tốt” [3, 32].
Ngoài ra ta cũng cần quan tâm tới một loại lipid khác đó là các Triglycerid,
chúng được cung cấp từ thức ăn. Sự sinh tổng hợp Triglycerid nội sinh diễn ra ở
gan và mô mỡ. Trong mô mỡ, chúng là nguồn dự trữ năng lượng chính của cơ thể. ở
những người béo phì, nồng độ acid béo tự do và Triglycerid thường tăng cao trong
máu gây ra hiện tượng “nhiễm độc mỡ”, điều này có thể gây chết cho các tế bào
không phải là tế bào mỡ (trong đó có tế bào β tuyến tuỵ) liên quan đến bệnh ĐTĐ.
1.3. Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) [4, 13, 12]
Danh từ bệnh ĐTĐ (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp
(diabetes: nước chảy trong ống siphon) và tiếng La tinh (mellitus – ngọt). ĐTĐ là
bệnh phổ biến nhất và đang ngày càng phát triển trên toàn cầu. Biểu hiện của bệnh
là sự tăng đường huyết, không dung nạp glucose dẫn đến ĐTĐ. ĐTĐ cũng là
2,7%; riêng tại các thành phố, tỷ lệ mắc bệnh là 4,4% trong khi ở các khu vực khác
dao động từ 2,1 – 2,7%, và hiện nay có khoảng 2 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, nhưng
có tới 65% người bệnh không biết mình đã mắc căn bệnh này. Trong 10 năm qua,
số bệnh nhân ĐTĐ đă tăng 3 – 4 lần ở khu vực thành thị, khu vực nông thôn trước
đây thường rất ít thì nay bệnh đã trở nên phổ biến [3, 4, 13].
Rõ ràng ĐTĐ đang có chiều hướng phát triển nhanh chóng nhất là khu vực
châu á. Mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng– lối sống và bệnh ĐTĐ, từ lâu đã
được nhiều nhà khoa học trên thế giới công nhận. Dinh dưỡng không hợp lý dẫn
đến thừa cân, béo phì và rối loạn chuyển hoá là một trong những cơ chế quan trọng
trong sinh học bệnh của rối loạn dung nạp glucose và bệnh ĐTĐ. Hơn nữa bệnh
ĐTĐ lại có nhiều biến chứng về tim mạch, thần kinh, gây đột quỵ, mù loà, tổn
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
14
Luận văn thạc sĩ khoa học
thương thận, giảm tuổi thọ…Vì thế, ĐTĐ không chỉ là mối quan tâm của ngành y tế
mà còn thu hút cả sự chú ý của các nhà quản lý xã hội.
1.3.2. Cơ chế phát sinh bệnh đái tháo đường
1.3.2.1. Cơ chế phát sinh bệnh đái tháo đường typ 1
ĐTĐ typ 1: là kết quả của sự phá huỷ tế bào β tuyến tuỵ. Vào lúc ĐTĐ xuất
hiện, thì hầu hết các tế bào β tuyến tuỵ đã bị phá huỷ, quá trình phá huỷ này là do
cơ chế tự miễn. Bản thân cơ thể sinh sản ra các kháng thể chống lại tổ chức tuyến
tuỵ, chống lại glutamic acid decarboxylase (GAD), chống lại insulin (IAAS). Loại
tiểu đường này xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường xảy ra ở trẻ em và thanh
niên.
Nguyên nhân chính của ĐTĐ typ 1 là do tế bào β của đảo tuỵ Langerhan bị
bệnh ĐTĐ typ 2 là khiếm khuyết chức năng tế bào β tuyến tuỵ và hiện tượng kháng
insulin [17, 23, 30, 43, 50]. Kháng insulin do tổn thương của thụ thể và khiếm
khuyết chức năng bài tiết insulin là hai yếu tố tác động qua lại lẫn nhau. Giữa hai
yếu tố này, yếu tố nào chiếm ưu thế và yếu tố nào xuất hiện trước cho đến nay vẫn
chưa xác định được [17, 23]. Khi có sự suy giảm bài tiết insulin thì nồng độ glucose
máu sẽ tăng cao, và khi nồng độ glucose máu tăng cao sẽ ức chế hoạt động của
insulin. Còn khi hiện tượng kháng insulin xuất hiện trước sẽ làm tăng nồng độ
glucose máu, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng cách tiết ra nhiều insulin hơn để hạ thấp
nồng độ glucose, quá trình này diễn ra lâu dài sẽ dẫn đến sự suy yếu của tế bào β
tuyến tuỵ [3].
Sinh bệnh học của ĐTĐ typ 2 diễn biến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Mặc dù nồng độ glucose trong máu vẫn ở mức bình thường,
nhưng có hiện tượng kháng insulin vì mức insulin tăng cao hơn mức bình thường
trong máu.
- Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần và xuất hiện
tăng glucose máu sau bữa ăn.
- Giai đoạn 3: Sự kháng insulin không thay đổi, nhưng bài tiết insulin suy
giảm và gây tăng glucose máu lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
Béo phì là một trong những nguyên nhân đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển
bệnh được đề cập nhiều nhất. Chính béo phì làm gia tăng tình trạng kháng insulin,
do làm gia tăng hoạt động của yếu tố hoại tử TNFỏ và nồng độ acid béo tự do, đây
là hai nhân tố ức chế hoạt động của insulin.
1.3.4. Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
16
Luận văn thạc sĩ khoa học
chi trong 183 họ được sắp xếp từ tảo biển đến thực vật bậc cao. Con số này hiện nay
vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu và tìm kiếm và hiện nay sẽ tăng lên. Tuy nhiên
đến nay mới chỉ có khoảng 400 loài trong số các cây thuốc đã được chứng minh
bằng các công trình khoa học. Một số họ thực vật có nhiều loài có tác dụng hạ lipid
và glucose huyết đã được nghiên cứu như: họ Đậu (Fabaceae, 76 loài), họ Hoa hồng
(Rosaceae, 18 loài), Họ thuốc phiện (Papaveraceae, 11 loài), họ Sim (Myrtaceae, 11
Hà Quốc Dương - K17 Sinh học
17