SỬ DỤNG THUỐC GIẢM ĐAU AN THẦN TRONG cấp cứu hồi sức - Pdf 35

SỬ DỤNG THUỐC GIẢM ĐAU AN THẦN
TRONG CẤP CỨU HỒI SỨC

Có nhiều loại thuốc giảm đau, nhưng tốt nhất nên dùng một vài loại và biết rõ
tác dụng, liều lượng, tác dụng phụ và chống chỉ định của các thuốc này. Đa số
bệnh viện đều có phác đồ giảm đau và giới hạn sự chọn lựa thuốc

Các phương pháp giảm đau
Nhiều bệnh nhân đến phòng Cấp Cứu trong cơn đau dữ dội. Hiểu biết về vị trí và
tính chất của cơn đau rất quan trọng để chẩn đoán nguyên nhân. Giảm đau cũng là
một phần chủ yếu trong điều trị.
Giảm đau chủ yếu bằng thuốc giảm đau, nhưng còn nhiều cách điều trị khác cũng
hiệu quả để giảm đau. Nếu đau tăng lên ở bệnh nhân bị chấn thương có thể là triệu
chứng của nhiễm trùng hay chấn thương mạch máu. Vẫn còn đau nhiều dù đã cố
định nơi gẫy xương là gợi ý của chấn thương mạch máu, hội chứng chèn ép khoang


hay do bột bó quá chật. Phản xạ loạn dưỡng giao cảm có thể gây đau rất dữ dội vài
ngày sau khi bị một chấn thương nhẹ.
Bất động
Bất động ổ gẫy xương làm giảm đau và giảm nhu cầu thuốc giảm đau. Cho hít khí
mê Entonox (hỗn hợp N2O 50%: O2 50%) để giảm đau khi đặt nẹp hay bó bột.
Kê cao
Chi bị chấn thương sưng nề gây đau và co cứng. Kê cao chi có tác dụng giảm phù
nề, giảm đau và giúp bệnh nhân cử động lại sớm.
Chườm lạnh
Làm lạnh vùng bị phỏng ngay lập tức bằng nước lạnh có tác dụng giảm đau và
chấm dứt tình trạng tiếp tục bị phỏng do nhiệt độ cao. Phỏng do acid hydrofluoric
thường rất đau cần được làm lạnh lâu bằng nước đá. Đau do co thắt hay chấn
thương bắp thịt có thể giảm đau bằng cách bọc túi nước đá lạnh trong khăn và
chườm khoảng 15 phút mỗi lần.

dụng giảm đau. Tác dụng giảm đau không nhiều hơn paracetamol đơn thuần mà có
nhiều tác dụng phụ hơn như táo bón, chóng mặt, đặc biệt ở người già.
Paracetamol 500 mg/ codein 30 mg
Paracetamol 325 mg/ dextropropoxyphene 32,5 mg.
Thuốc kháng viêm giảm đau không Steroid (NSAID)
Aspirine và các thuốc NSAID ức chế men cyclooxygenase (COX) làm ngừng tổng
hợp prostaglandine từ acid arachidonic. Prostaglandine làm tăng nhậy cảm của đầu
tận cùng thần kinh với kích thích đau. Prostaglandine có vai trò quan trọng trong
cơ chế gây viêm, nóng và đau khi bị tổn thương mô.


Có 2 loại COX: COX-1 và COX-2. Phần lớn các thuốc NSAID ức chế đồng thời
COX-1 và COX-2. Ức chế COX -1 gây ra các tác dụng phụ của thuốc NSAID. Các
thuốc ức chế COX-2 được coi là ít tác dụng phụ trên dạ dày, thận, mạch máu.
Thuốc NSAID thường dùng trị đau cơ xương, có hay không có viêm. Trong lâm
sàng nên dùng NSAID khi các phương pháp giảm đau không dùng thuốc (chườm
nóng, lạnh, kê cao) và paracetamol không hiệu quả. NSAID gây kích thích bao tử,
tiêu chảy, xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày. Nguy cơ sẽ tăng cao nếu dùng liều
cao, bệnh nhân > 60 tuổi và có tiền căn loét bao tử. NSAID gây tăng cơn suyễn,
suy thận ở bệnh nhân bị suy tim, xơ gan, suy thận. Tướng tác thuốc với thuốc lợi
tiểu, warfarine, lithium và một số thuốc khác. Nên uống thuốc NSAID sau khi ăn
no để giảm bớt tác dụng phụ trên bao tử. Nếu bắt buộc phải dùng NSAID cho bệnh
nhân có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa cao phải dùng misoprostol để dự phòng.
Có nhiều loại thuốc NSAID và tất cả đều có thể gây các tác dụng phụ nặng, nhưng
ibuprofen, diclofenac và naproxen tương đối an toàn. Chọn thuốc ức chế COX -2
vì có tác dụng giảm đau hiệu quả như diclofenac, ít bị tác dụng phụ trên dạ dày. Ức
chế tiểu cầu không xảy ra với liều cao gấp 50 lần liều điều trị hiệu quả.
Thuốc NSAID chích dùng điều trị đau cơ xương (thí dụ đau thắt lưng cấp) hay cơn
đau quặn thận, quặn gan cấp. Chống chỉ định và tác dụng phụ như đường uống.
NSAID tiêm bắp rất đau và có thể gây áp xe vô trùng, vì vậy, đường uống và

kinh. Thuốc còn có tác dụng hạ sốt và kháng viêm nhẹ. Aspirine có tác dụng ức
chế tiểu cầu nên còn dùng làm thuốc chống kết dính tiểu cầu. Không dùng aspirine
cho trẻ < 12 tuổi hay phụ nữ đang cho con bú vì nguy cơ bị hội chứng Reye. Liều:
300 - 1000 mg uống mỗi 4 - 6 giờ, tối đa 4 g/ngày.
Nefopam (acupam, panagesic)


Nefopam là thuốc giảm đau không thuộc nhóm á phiện, có cấu trúc hóa học không
giống với các thuốc giảm đau khác. Nefopam dùng giảm đau sau mổ và trong ung
thư. Thuốc không có tác dụng kháng viêm hay hạ sốt, không ức chế hô hấp, không
làm chậm nhu động ruột. Tác dụng phụ: buồn nôn, vã mồ hôi, khó chịu, khô
miệng, nhịp tim nhanh, hồi hộp, bí tiểu, bứt rứt.
Liều: người lớn: 10 - 20 mg tĩnh mạch chậm trong 5 phút hay tiêm bắp mỗi 4 - 6
giờ. Người già: 10 mg tĩnh mạch hay tiêm bắp x 3 lần/ ngày. Liều tối đa 120
mg/ngày. Uống: 30 - 90 mg x 3 lần/ngày.
Thuốc giảm đau họ thuốc phiện
Thuốc giảm đau họ thuốc phiện có tác dụng chủ vận (agonist) hay đối vận
(antagonist) trên thụ thể thuốc phiện. Hai thụ thể quan trọng nhất là µ (mu) và k
(kappa). Kích thích các thụ thể này bằng chất chủ vận đơn thuần sẽ cho tác dụng:
giảm đau (µ, k), sảng khoái (µ), an thần (k), ức chế hô hấp (µ, k) và nghiện (µ).
Một số thuốc có tác dụng chủ vận một phần, một số khác có tác dụng hỗn hợp vừa
chủ vận vừa đối vận. Có thuốc chỉ có tác dụng đối vận và không có tác dụng giảm
đau.
Các thuốc đồng vận đơn thuần
Morphine
Morphine là thuốc giảm đau tự nhiên được trích từ cây á phiện. Morphine dùng
giảm đau cho các trường hợp đau nặng, đặc biệt trong chấn thương và nhồi máu cơ
tim. Morphine làm dãn tĩnh mạch nên rất tốt để điều trị phù phổi cấp do suy tim
trái. Morphine thường gây buồn nôn và ói mửa ở người lớn, nên cho kèm thuốc
chống ói (metoclopramide 10 mg tĩnh mạch). Không cần dùng kèm thuốc chống ói

ngắn khoảng 30 - 40 phút.
Pethidine


Pethidine là thuốc giảm đau nhanh nhưng ngắn và yếu hơn morphine. Đôi khi dùng
giảm đau trong cơn đau quặn gan, quặn thận thay morphine (vì ít gây co thắt cơ
trơn). Pethidine gây buồn nôn, ói và tụt huyết áp nhiều hơn morphine. Chất chuyển
hóa là normeperidine gây kích thích hệ thần kinh trung ương làm run tay, rung cơ,
co giật, không hóa giải được bằng naloxone. Normeperidine thải qua thận nên sẽ bị
tích tụ nếu dùng thuốc lập lại trên người suy thận. Pethidine tĩnh mạch chậm, chọn
liều nếu cần: người lớn 50 mg tĩnh mạch hay tiêm bắp (50-100 mg) nhưng tác dụng
kém hơn tĩnh mạch. Dùng kèm với thuốc chống ói.
Tramadol
Tramadol là thuốc phiện chủ vận yếu trên thụ thể µ và ức chế sự bắt lại
noradrenaline và phóng thích 5-hydroxytriptamine (5-HT). Tiêm tĩnh mạch liều 1 2 mg/kg, có tác dụng giảm đau mạnh như pethidine. Tramadol ít ức chế hô hấp hơn
morphine. Tác dụng phụ của tramadol là buồn nôn, nôn ói, khô miệng, vã mồ hôi,
bí tiểu. Ít bị táo bón hơn các thuốc phiện khác.
Ketamine
Ketamine là thuốc gây mê phân ly có thể tiêm bắp và tĩnh mạch được. Khi dùng ở
liều nhỏ hơn liều gây mê, ketamine có tác dụng giảm đau mạnh. Trong bệnh viện,
thuốc ít được dùng cho người lớn vì gây ảo giác khi thức dậy, nhưng ít gây ảo giác
cho trẻ em. Ketamine có ích khi dùng ngoài bệnh viện, đặc biệt là khi cần gây mê
để mang bệnh nhân bị kẹt ra hay đoạn chi khẩn hoặc các thủ thuật ngắn gây đau
(thay băng phỏng, bất động xương gẫy).
Phản xạ bảo vệ đường thở được duy trì tốt hơn với ketamine so với các thuốc mê
khác. Tuy nhiên, tắc nghẽn đường thở và hít chất ói vẫn có thể xảy ra. Ức chế hô
hấp ít xảy ra nếu dùng ở liều bình thường, ngoại trừ khi chích thuốc quá nhanh.
Ketamine có tính dãn phế quản nên tốt khi dùng cho người bệnh suyễn. Ketamine
kích thích hệ tim mạch, gây nhịp tim nhanh và cao huyết áp, tăng áp lực nội sọ,
tránh dùng cho bệnh nhân chấn thương sọ não. Ketamine không nên dùng cho

cần đánh giá thần kinh, có thể hóa giải thuốc bằng naloxone. Gây tê thần kinh đùi
rất tốt khi bệnh nhân bị chấn thương sọ não kèm gẫy xương đùi vì giảm đau rất tốt
mà không cần dùng đến morphine.
Trẻ em khi bị chấn thương nhẹ đôi khi không than nhức đầu, nhưng trẻ thấy dễ
chịu hơn nếu cho paracetamol trong 24 giờ.
Chấn thương lồng ngực
Chấn thương lồng ngực thường rất đau. Giảm đau tốt sẽ giúp giảm suy thở và biến
chứng như viêm phổi hay suy hô hấp. Cho thở oxy nồng độ cao ngay và đo SaO2
và khí máu động mạch. Cho morphine tĩnh mạch từng liều nhỏ và theo dõi hô hấp.
Gây tê thần kinh liên sườn giảm đau rất tốt khi gẫy xương sườn nhưng có thể gây
tràn khí màng phổi, chỉ làm tại Bệnh viện. Chấn thương ngực nặng cần nhập vàp
Phòng Săn sóc đặc biệt, giảm đau bằng catheter trong khoang ngoài màng cứng
đoạn ngực có thể giúp tránh thở máy. Tuy nhiên, trước khi gây tê ngoài màng cứng
phải chụp X quang cột sống ngực để xem có gãy cột sống hay không.
Trẻ em
Khi bị chấn thương đôi khi trẻ em bị sợ hãi nhiều hơn đau. Giải thích, an ủi rất
quan trọng và khi cần, phải cho giảm đau.
Morphine tĩnh mạch liều nhỏ có thể dùng trong chấn thương nặng nhưng hết sức
cẩn thận khi có chấn thương đầu.
Morphine tiêm bắp cho giảm đau tốt khi bị phỏng nhẹ
Tê thần kinh đùi khi có gãy xương đùi.
Tê gốc ngón tay giảm đau rất tốt khi bị dập ngón tay, nên gây tê trước khi chụp X
quang để khi trẻ quay lại thì có thể rửa và thay băng ngón tay mà trẻ không đau.
Entonox (N2O 50%:O2 50%) cho giảm đau mà không cần chích.
Dùng các thuốc giảm đau uống như paracetamol, ibuprofen hoặc morphine uống.
Đau bụng cấp


Một số bác sĩ không cho thuốc giảm đau khi đau bụng cấp vì sợ khó chẩn đoán.
Tuy nhiên, không cho thuốc giảm đau cho bệnh nhân đau bụng cấp là thiếu nhân

Bệnh nhân cho thuốc an thần đường tĩnh mạch phải có đặt kim luồn nhỏ trong tĩnh
mạch, cho thở oxy và theo dõi SaO2. Theo dõi ECG nếu có vấn đề tim mạch.
Các thuốc an thần thường dùng
Các thuốc an thần đều có tác dụng gây mê nếu dùng liều cao. Nhưng nếu dùng liều
thấp sẽ có tác dụng an thần rất tốt.
Midazolam
Midazolam là thuốc benzodiazepine tốt nhất vì tác dụng ngắn. Midazolam có thời
gian bán hủy khoảng 2 giờ. Người lớn liều ban đầu là 2 mg midazolam tĩnh mạch
trong 30 giây. Sau 2 phút, nếu độ an thần không đủ, cho thêm từng liều nhỏ 0,5 - 1
mg (pha loãng thuốc 1 mg/ml). Khi an thần tốt, bệnh nhân buồn ngủ và nói lè nhè
nhưng vẫn làm đúng yêu cầu. Liều thường dùng là 2,5 - 7,5 mg. Người già liều
thấp, khởi đầu 1 mg. Liều thường dùng là 1 - 2 mg.
Trẻ em dùng midazolam uống 0,2 mg/kg (pha midazolam trong xirô) hay bơm qua
hậu môn 0,4 mg/kg (pha loãng liều midazolam trong 10 ml nước NaCl 0,9% bơm
vào hậu môn qua ống thông nhỏ). Nếu cần giảm đau cho paracetamol.
Diazepam
Diazepam không thích hợp cho bệnh nhân ngoại trú vì tác dụng kéo dài, thời gian
bán hủy là 72 giờ, và chất chuyển hóa có hoạt tính. Tuy nhiên, đây là thuốc được
chọn để cắt cơn động kinh, co giật. Liều 10 mg tĩnh mạch chậm trong 2-3 phút.
Nhóm thuốc phiện
Pethidine có thể dùng liều nhỏ tiêm tĩnh mạch phối hợp với midazolam, nhưng sẽ
có tác dụng cộng hưởng làm tăng nguy cơ suy hô hấp. Cho pethidine liều nhỏ
trước, sau đó cho từng liều nhỏ midazolam từ từ.
Hóa giải


Thuốc hóa giải flumazenil (cho benzodiazepine) và naloxone (thuốc phiện). Khi
bệnh nhân bị suy hô hấp, giữ thông đường thở và giúp thở quan trọng hơn là thuốc
hóa giải. Flumazenil và naloxone có thời gian tác dụng ngắn hơn các thuốc mà
chúng hóa giải nên vẫn phải theo dõi sát bệnh nhân sau khi cho thuốc hóa giải.

Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ để gây mê an toàn. Nếu đủ thời gian, nên chuẩn bị
bệnh nhân trước khi gặp bác sĩ gây mê để hẹn mổ. Tuy nhiên, nếu cần gây mê khẩn
nên gọi bác sĩ gây mê ngay. Bảng câu hỏi cần hỏi bệnh nhân trước khi gây mê để
biết về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Đánh giá nguy cơ phẫu thuật theo ASA (The American Society of
Anesthesiologist)
ASA 1: bệnh nhân khỏe mạnh và không có bệnh hệ thống.
ASA 2: bệnh nhân có bệnh hệ thống nhẹ và trung bình, nhưng không ảnh hưởng
đến sinh hoạt.
ASA 3: bệnh nhân có bệnh hệ thống nặng gây giới hạn sinh hoạt của bệnh nhân
(suy tim ứ huyết, suy hô hấp mãn).
ASA 4: Bệnh nhân có bệnh hệ thống nặng, đe dọa sinh mạng của bệnh nhân (viêm
phế quản nặng, suy gan nặng).
ASA 5: Bệnh nhân hấp hối không sống quá 24 giờ.
Nguy cơ bị biến chứng sau mổ tỉ lệ với độ ASA.
Xét nghiệm trước mổ
Lam các xét nghiệm trước mổ tùy theo tình trạng sức khỏe bệnh nhân và độ nặng
cuộc mổ. Công thức máu, Hb khi cuộc mổ có nguy cơ mất máu nhiều, bệnh nhân
xanh xao thiếu máu. Xét nghiệm đông máu khi có nghi ngờ bất thường đông máu.
Xét nghiệm sinh hóa khi có bệnh lý gan thận, tiểu đường hay bệnh nhân trên 60
tuổi. ECG khi có bệnh lý tim mạch, ở nam trên 40 tuổi, nữ trên 55 tuổi. Phim phổi


thẳng khi có vấn đề hô hấp và bệnh nhân sống trong vùng có bệnh lao. Làm xét
nghiệm thử thai cho các phụ nữ trẻ trong độ tuổi sinh sản khi có đau bụng cấp.
Chuẩn bị bệnh nhân trước khi gây mê
Trước khi gây mê, bệnh nhân phải nhịn uống ít nhất 4 giờ và nhịn ăn 6 giờ. Giải
thích cho bệnh nhân vì sao phải nhịn ăn uống trước khi gây mê. Tuy nhiên, nhịn
đói cũng không bảo đảm dạ dày trống, vì đau, có thai, dùng thuốc phiện sẽ làm
chậm nhu động ruột và sự làm trống dạ dày. Nếu bệnh nhân bị đau, cho thuốc giảm

đầu và cổ để dễ đặt.
Nếu được, cho bệnh nhân tự thở oxy 100% qua mặt nạ trong 3 phút. Nếu thở kém,
bóp bóng thông khí qua mặt nạ oxy 100% trong 2 phút với người phụ tá nhấn sụn
nhẫn: đè sụn nhẫn bằng ngón trỏ và ngón cái trong khi dùng bàn tay kia đỡ dưới
cổ.
Cho thuốc dẫn đầu thiopental 2 - 5 mg/kg (tùy thể trạng bệnh nhân). Sau khi chích
thuốc dẫn đầu người phụ tá bít thực quản bằng cách đè sụn nhẫn liên tục cho đến
khi đặt xong ống nội khí quản (nghiệm pháp Sellick).
Chích thuốc dãn cơ suxamethonium 1,5 mg/kg.
Giữ chặt mặt nạ cho đến khi thuốc mê và thuốc dãn cơ có tác dụng. Đặt ống nội
khí quản và bơm túi hơi lên ngay.
Kiểm tra khí vào đều hai bên phổi. Ngưng đè sụn nhẫn. Cố định ống nội khí quản.
Các thuốc sử dụng trong gây mê
Thuốc mê tĩnh mạch
Các thuốc mê tĩnh mạch dùng để dẫn đầu gây mê, để làm các thủ thuật ngắn (như
sốc điện chuyển nhịp tim), điều trị cơn động kinh không đáp ứng với các thuốc
chống động kinh khác, hay để gây mê tĩnh mạch hoàn toàn, và an thần khi thở
máy. Chống chỉ định khi bệnh nhân bị tắc đường hô hấp trên hay bị giảm thể tích
máu.


Thiopental
Thiopental là barbituric, và là thuốc được dùng nhiều nhất. Thiopental là thuốc
dạng bột và chỉ pha ngay sau khi dùng thành dung dịch 2,5% (25 mg/ml). Liều dẫu
đầu ở người lớn là 5 mg/kg (trẻ em 2 - 7 mg/kg). Dẫn đầu gây mê nhanh và êm dịu
trong vòng 20 giây, ngoại trừ trường hợp mà tuần hoàn não bị chậm lại như người
già, giảm thể tích tuần hoàn hay bệnh tim. Tri giác hồi phục sau 4 - 15 phút.
Tụt huyết áp do ức chế cơ tim và dãn tĩnh mạch. Tụt huyết áp càng nặng khi có
giảm thể tích tuần hoànhay giảm dự trữ tim.
Ngưng thở do ức chế hô hấp.

kéo dài 4-6 phút. Suxamethonium gây nhịp tim chậm do cường phó giao cảm, nên
cần cho kèm atropine. Thuốc gây tăng áp lực nội sọ, tăng nhãn áp. Chống chỉ định
khi tăng kali máu, phỏng, liệt hai chân hay chấn thương do vùi lấp vì gây tăng kali
máu nếu dùng suxamethonium trong vòng 5-120 ngày sau chấn thương.
Thuốc dãn cơ không khử cực
Các thuốc dãn cơ không khử cực gắn vào thụ thể của acetylcholine trên tấm động
thần kinh-cơ va ngăn cản không cho acetylcholine gắn vào thụ thể nên làm dãn cơ
mà không gây rung cơ, Thời gian tiềm phục dài 1,5-3 phút, kéo dài 30-45 phút tùy
theo thuốc và liều dùng. Hóa giải bằng thuốc kháng cholinesterase. Neostigmine
liều 2,5 mg cho người lớn và phải cho kèm atropine để tránh mạch chậm.
Atracurium
Atracurium là thuốc được chọn cho bệnh nhân suy thận, suy gan do thuốc bị hủy tự
nhiên ở pH và nhiệt độ sinh lý (con đường Hoffman), tác dụng thuốc kéo dài khi
bệnh nhân bị hạ thân nhiệt. Atracurium có tính phóng thích histamine nhưng chỉ
gây đỏ da, ít gây tụt huyết áp. Liều: 0,5 mg/kg.


Vecuronium
Vecuronium có tính ổn định tim mạch cao, không gây phóng thích histamine.
Thuốc thải qua mật. Liều: 0,1 mg/kg.
Rocuronium
Vecuronium là thuốc dãn cơ trung bình, có tính ổn định tim mạch cao. Sau liều 0,6
mg/kg, dãn cơ sau 60 giây (gần bằng suxamethonium), kéo dài 20-30 phút.
Rocuronium được dùng cho bệnh nhân cần đặt nội khí quản nhanh mà không dùng
được suxamethonium.
Thuốc mê hô hấp
Thuốc mê hô hấp dùng để giảm đau, dẫn đầu gây mê (khibị tắc đường hô hấp trên,
khi chống chỉ định thuốc mê tĩnh mạch), duy trì mê.
Nitrous oxide (N2O) (xem phần thuốc giảm đau).
Các thuốc mê họ halogen

quản, máu, chất ói và dị vật trong khí đạo.
Hoàn cảnh và kinh nghiệm
Đặt nội khí quản trong hoàn cảnh chuẩn bị tốt tại phòng mổ dễ hơn là trong phòng
Cấp Cứu hay ngoài BV. Có người phụ tá có kinh nghiệm. Thực hành đều đặn trên
mô hình.
Thực hành
Trước khi đặt nộikhí quản, nên thông khí với bóng và mặt nạ. Hít một hơi thở sâu
khi bắt đầu đặt: nếu không đặt được nội khí quản khi bạn bắt đầu thở lại nên lấy
đèn ra và bóp bóng giúp thở cho bệnh nhân với oxy trong 1-2 phút trước khi đặt lại
lần nữa. Thử thay đổi tư thế bệnh nhân, thay đổi cỡ đèn và cỡ ống nội khí quản,
dùng ống thông nòng. Nhấn sụn nhẫn có thể giúp thấy rõ thanh quản hơn.


Đặt nội khí quản vào thực quản
Đặt nội khí quản vào thực quản sẽ gây tử vong nếu không phát hiện ngay. Cách tốt
nhất để xác định vị trí ống nội khí quản là nhìn thấy ống đi qua hai dây thanh. Đôi
khi đặt lầm vào thực quản nhưng vẫn nghe thấy tiếng thở và lồng ngực di động.
Nếu nghi ngờ, lấy ống ra và giúp thở qua bóng và mặt nạ. Hiện nay, dùng máy đo
CO2 cuối kỳ thở ra (capnography) để xác định vị trí ống nội khí quản. Nếu ống nội
khí quản ở trong thực quản, sẽ không có thán đồ.
Xử trí khi đặt ống nội khí quản thất bại
Đặt nội khí quản không thành công nhiều lần gây thiếu oxy và tăng nguy cơ hít
chất ói chấn thương lưỡi và miệng hầu. Nếu đã đặt ống nội khí quản nhiều lần
không được, làm theo phác đồ sau:
Ngừng đặt, và mời bác sĩ có kinh nghiệm đến giúp.
Thông khí O2 100% cho bệnh nhân với bóng và mặt nạ, airway mũi hay miệng,
trong lúc người phụ tá đè sụn nhẫn.
Nếu không thông khí được, cho nằm nghiêng sang trái, hạ thấp đầu xe trong lúc
vẫn đè sụn nhẫn. Nếu vẫn không thông khi được, ngưng đè sụn nhẫn và vẫn tiếp
tục thông khí. Dùng mặt nạ thanh quản. Ít khi cần mở màng sụn giáp nhẫn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status