Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Để Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Huyện Định Hoá, Tỉnh Thái Nguyên Hiện Nay - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: T2012 - 53

Tên đề tài:
“ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐỊNH HOÁ,
TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY”

Chủ nhiệm đề tài: Ths Nguyễn Thị Thúy

Thái Nguyên - 2013

1


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ SỰ
CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC ......................................................................................... 5

1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng cộng sản Việt Nam
về vấn đề dân tộc ............................................................................ 5
1.1.1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc ............ 5

chính sách dân tộc trong thời kì đổi mới ....................................... 42
3.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở
huyện Định Hoá ............................................................................ 45
3.2.1. Nhóm giải pháp phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho đồng
bào các dân tộc ở huyện Định Hóa ................................................ 45
3.2.2. Nhóm các giải pháp phát triển đời sống văn hoá, tinh thần, nâng
cao dân trí ..................................................................................... 48
3.2.3. Nhóm các giải pháp thực hiện các vấn đề xã hội ...................... 50
3.2.4. Nhóm các giải pháp phát huy vai trò hệ thống chính trị ở huyện
Định Hóa ...................................................................................... 52
KẾT LUẬN ................................................................................................ 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 57
PHỤ LỤC ................................................................................................... 59

3


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: Nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc để phát triển
kinh tế - xã hội huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Mã số đề tài: T - 2012 - 53
Chủ đề tài:

ĐT: 0936 102 508

Nguyễn Thị Thúy

Cơ quan chủ quản: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian thực hiện: Tháng 3/2012 đến tháng 3/2013
Mục tiêu đề tài:

Implementing Institution: Thai Nguyen university of agriculture and
forestry.
Duration : 03/2012 to 03/2013
Objectives:
- Clarify the status of the implementation of the national policy on
Dinh Hoa district; then propose solutions to enhance the effective
implementation of the national policy of the Party and State on Dinh Hoa
district.
Contents:
- General theoretical basis of Marxism-Leninism, the Party's policy on
ethnic issues and people, the concept of effective implementation of
national policies of the Party and State.
- To study the current status of the implementation of national
policies on Dinh Hoa district.
- Propose solutions to help improve the efficiency of the
implementation of the national policy of the Party and State in Dinh Hoa
district.
Results:
- Collectibles sufficient documentation and information for topics
- Complete article topics
- Report of the council before the Faculty of Science base.

5


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, việc giải quyết một cách đúng đắn
các quan hệ dân tộc, hoạch định và thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc là
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất to lớn của Đảng và Nhà nước trong sự

to lớn và toàn diện, đời sống nhân dân cơ bản ổn định và có vùng được cải thiện
rõ rệt, an ninh trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, so với các huyện trong cả nước thì đời sống của nhân dân trong
huyện còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn kém phát triển, trình độ dân trí
thấp... Nói cách khác, hiện nay đang còn nhiều vấn đề cần giải quyết như: việc
phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc ít
người, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng. Những hạn chế trên
đây của địa phương có nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta tại Định Hóa. Vì thế, đòi hỏi Đảng, Nhà
nước và các cấp chính quyền địa phương cần đưa ra những chính sách bám sát
cuộc sống của nhân dân trong huyện, đưa ra những chính sách phù hợp với đặc
thù của dân tộc ít người và phải phù hợp với phong tục, tập quán của từng dân
tộc, đồng thời triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước nhằm góp phần giải quyết tốt hơn những mặt còn hạn chế để nâng cao
không ngừng đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc ở Định Hóa.
Từ những nhận thức trên đây, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả
thực hiện chính sách dân tộc để phát triển kinh tế - xã hội huyện Định Hóa
tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan
Vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc là một trong những
nội dung có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Đây còn là vấn đề thực tiễn lớn đòi hỏi phải giải quyết một cách khoa học,
đúng đắn và thận trọng. Vì thế, trong những năm vừa qua vấn đề dân tộc luôn
được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm cụ thể hóa bằng các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng, bằng chính sách và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Trên tinh thần
đó, các nhà nghiên cứu đã có rất nhiều công trình khoa học, những đề tài, bài báo

7



3.2. Nhiệm vụ
- Khái quát cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, của Đảng ta về vấn đề
dân tộc và chính sách dân tộc, quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta.
- Nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn
huyện Định Hoá.
- Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trên địa bàn huyện Định Hoá.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở huyện Định Hóa tỉnh Thái
Nguyên từ năm 2000 tới nay, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương Định Hóa - Thái Nguyên
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận và phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vấn đề dân tộc và quan hệ lợi ích giữa dân tộc và giai cấp .
+ Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, trừu tượng
hoá - khái quát hoá, lôgíc - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, kết hợp gắn lý luận với
thực tiễn để làm rõ các luận cứ lý luận, thực tiễn mà luận văn đặt ra.

9


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC

1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng cộng sản Việt

tạp, khi xem xét giải quyết nó cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể. Trong tác
phẩm “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra
rằng: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội
dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình
thức đấu tranh dân tộc” [15, tr.93] và các ông đã đặt ra yêu cầu đối với giai cấp
công nhân mỗi nước: “...giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính
quyền, phải vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” [15,
tr.105].
Trong việc giải quyết những quan hệ cơ bản của dân tộc hình thành cùng
với sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đề cập đến công bằng bình đẳng giữa các dân tộc, tộc người trong
mối quan hệ với vấn đề giai cấp trong xã hội và hai ông đã nhất trí cho rằng vấn
đề công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc chỉ được thực hiện khi thủ tiêu mọi áp
bức giai cấp. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ “Khi mà sự đối kháng giữa các giai
cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng
đồng thời mất theo” [15, tr.106]. Từ đó, hai ông khẳng định “Hãy xóa bỏ tình
trạng bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa
bỏ” [159, tr.106].
Tư tưởng đoàn kết giai cấp công nhân toàn thế giới, đấu tranh chống áp
bức bóc lột, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người để từ đó xóa bỏ tình trạng dân
tộc này nô dịch dân tộc khác là nguyên tắc lý luận, đồng thời cũng là nền tảng
của chính sách dân tộc mác xít của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp tư sản. Điều đó đã thể hiện thái độ chính trị của những người cộng
sản, thái độ của giai cấp công nhân nói chung trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm
đánh đổ chủ nghĩa tư bản. Quan điểm đó cũng chỉ rõ chiến lược, giải pháp cơ bản
tập hợp lực lượng giai cấp công nhân tất cả các dân tộc vùng lên đấu tranh chống
ách áp bức, nô dịch đang đè lên đầu họ.
11



12


cách, sự chênh lệch về kinh tế, trình độ phát triển giữa các dân tộc trong quốc gia
có ý nghĩa rất quan trọng.
+ Các dân tộc có quyền tự quyết
Theo V.I.Lênin, quyền tự quyết là quyền tự chủ của mỗi dân tộc đối với
vận mệnh của dân tộc mình.
Quyền tự quyết bao gồm: tự quyết định về chính trị - xã hội và con đường
phát triển của dân tộc mình. Quyền tự quyết cũng được thể hiện ở quyền tự do
phân lập thành quốc gia độc lập hay quyền tự nguyện liên hiệp lại của các dân tộc
trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân
các dân tộc vì mục tiêu phát triển hòa bình, phồn vinh và hữu nghị.
Phân tích ý nghĩa về quyền tự quyết và quan hệ của nó với chế độ liên
bang, V.I.Lênin cho rằng: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các
dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi
dân tộc áp bức họ. Nói một cách cụ thể, yêu sách đòi dân chủ chính trị có nghĩa là
hoàn toàn tự do tuyên truyền cho việc phân lập và có nghĩa là giải quyết vấn đề
phân lập bằng con đường trưng cầu dân ý trong dân tộc muốn phân lập. Như vậy
là yêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập, phân tán,
thành lập những quốc gia nhỏ. Nó chỉ là biểu hiện triệt để của cuộc đấu tranh
chống mọi áp bức dân tộc” [135, tr.327].
Quyền tự quyết trong Cương lĩnh dân tộc củaV.I. Lênin có ý nghĩa sâu sắc.
Đây là quyền cơ bản của dân tộc. Nó là cơ sở để xoá bỏ sự hiềm khích, thù hằn
giữa các dân tộc; đảm bảo sự tồn tại, phát triển độc lập cho các dân tộc; phát huy
tiềm năng của các dân tộc vào sự phát triển chung của nhân loại.
+ Liên hiệp công nhân các dân tộc lại
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rằng: quyền bình đẳng và quyền tự quyết
dân tộc không phải tự nhiên có được và đương nhiên thực hiện, ngược lại, chúng
là kết quả của cuộc đấu tranh chống mọi thế lực xâm lược, áp bức dân tộc và gây

Định nghĩa dân tộc của Xtalin đã đưa ra được các tiêu chí để nhận biết, đã nhấn
mạnh rằng, nói đến dân tộc là nói đến những cộng đồng người thống nhất, ổn
định, bền vững so với cộng đồng bộ tộc. Nếu so sánh với những quan niệm trước
đó, định nghĩa dân tộc của Xtalin đã có nhiều nét mới tiến bộ. Tuy nhiên, từ thập
kỷ 70 của thế kỷ XX trở lại đây, định nghĩa trên về dân tộc của Xtalin đã trở nên

14


lỗi thời và ảnh hưởng của nó cũng giảm dần trong giới khoa học do có những hạn
chế trong thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc.
Từ yêu cầu trên, nhiều khái niệm mới về dân tộc đã xuất hiện. Tựu chung
lại trong hệ thống những khái niệm đó, chúng ta có thể thấy, dân tộc được hiểu
theo hai nghĩa cơ bản đó là quốc gia - dân tộc và tộc người. Điều này đã phản ánh
đúng thực trạng trên thế giới hiện nay đang tồn tại hai cộng đồng: cộng đồng
quốc gia dân tộc và cộng đồng tộc người.
Từ điển Bách khoa Việt Nam do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn đã
định nghĩa: “Dân tộc. 1. Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng
chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất
định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều
cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người. Tính chất của dân
tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau. Bước vào giai đoạn
phát triển công nghiệp, rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây, do yêu cầu xóa bỏ
tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc, nhằm tạo ra một thị trường chung,
nên cộng đồng dân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng đồng dân tộc
rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội trong khu vực và
bản thân.
Một cộng đồng dân tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng người, với nhiều
ngôn ngữ, yếu tố văn hóa thậm chí nhiều chủng tộc khác nhau. Ngày nay, do
không gian xã hội được mở rộng mang tính toàn cầu, do phương tiện đi lại, mỗi

của Đảng cộng sản là một hệ thống chủ trương, giải pháp lớn, nhằm thực hiện
quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, trong đó có sự
quan tâm đến các dân tộc ít người có trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp.
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo phát huy sức mạnh của cả
dân tộc và bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ lợi ích
giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau cùng
phát triển.
Chính sách dân tộc và miền núi thể hiện sự quan tâm đến đặc điểm vùng
cư trú là miền núi (ở nước ta còn được bổ sung thêm: vùng sâu, vùng xa, vùng
cao), có nhiều khó khăn về giao thông, điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá do
địa hình phức tạp và địa bàn cư trú xa nhau, cắt khúc… Thông thường, đồng bào

16


các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở vùng núi, nên việc thực hiện chính sách dân
tộc và miền núi thể hiện sự quan tâm lớn đến các đồng bào các dân tộc ít người.
Do quá trình phát triển lâu dài, cư dân sống ở miền núi hiện nay là một tập
hợp nhiều dân tộc, cả dân tộc đa số và dân tộc thiểu số. ở các vùng sâu, vùng xa,
đại đa số là người dân tộc. Các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ, bản sắc văn hoá.
Chính sách dân tộc và miền núi thể hiện sự ưu tiên với điều kiện khó khăn của
đồng bào dân tộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nhưng chưa thể hiện rõ sự khác
nhau này đối với các dân tộc và quan hệ dân tộc. Do chính sách dân tộc và miền
núi chỉ quan tâm đến điều kiện cụ thể của dân cư sống ở miền núi, cho nên nó
không đồng nhất với chính sách dân tộc quan tâm đến điều kiện đặc thù của của
các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên chính sách dân tộc và miền núi có liên quan nhiều
đến các dân tộc và quan hệ dân tộc. Chính vì vậy, thực hiện chính sách dân tộc và
miền núi cũng là một nội dung quan trọng trong thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta. Đồng nhất chính sách dân tộc với chính sách dân tộc và
miền núi sẽ không quán triệt đầy đủ tích chất, đặc điểm, tầm quan trọng của lĩnh

độc lập chẳng có ý nghĩa gì. Do vậy các dân tộc miền núi, cũng như các dân tộc
miền xuôi phải giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển, cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
"Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi. Và đồng bào
miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi" [17, tr.135].
Người yêu cầu Đảng và Chính phủ phải có chính sách, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội để phát triển toàn diện miền núi tiến kịp miền xuôi, để đồng bào
cả nước ai cũng có cơm ăn, ai cũng được học hành, ai cũng được làm chủ đất
nước.
Tiếp thu tinh thần đó của Người, trong Văn kiện cực kỳ quan trọng của
Đảng ta là Nghị quyết về chính sách dân tộc thiểu số của Đảng (3-1952), trong đó
khẳng định: Từ khi Đảng ta thành lập (1930) đến nay, tuy chưa có chính sách cụ
thể đối với dân tộc thiểu số, nhưng Cương lĩnh chung của Đảng đã chỉ rõ: Đoàn
kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng tương trợ để tranh thủ độc lập, tự do và
hạnh phúc chung. Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: Vấn đề dân tộc và
đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng.

18


Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau
cùng phát triển.
- Hai là: Thực hiện sự phát triển toàn diện miền núi.
Để thực hiện mục tiêu đưa các dân tộc cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta chủ trương tập trung phát triển lực lượng sản xuất, coi công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ. Với chiến lược phát
triển toàn diện miền núi, Đảng ta coi trọng phát triển kinh tế, coi phát triển kinh
tế là nền tảng và nâng cao trình độ dân trí, thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát
huy bản sắc dân tộc trong đó nâng cao dân trí là khâu đột phá.
Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định: Xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời

Chính sách văn hóa dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho các dân
tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của mình, có quyền hưởng thụ không chỉ
những giá trị văn hóa của tộc người mình mà còn được hưởng những giá trị của
nền văn hóa chung của các dân tộc khác, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn
hóa của nhân loại và thời đại; không ngừng nâng cao dân trí cho đồng bào các
dân tộc để đủ khả năng hưởng thụ và góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Năm là: Chính sách dân tộc phải chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng,
phát triển và chăm sóc đội ngũ cán bộ, con em của đồng bào dân tộc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là gốc của mọi công việc... công việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Người đòi hỏi công tác cán
bộ: "Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Cố nhiên cán
bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho
cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương, chứ
không phải là bao biện làm thay" [16, tr.418].
Báo cáo Chính trị đọc tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định: Tích
cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc
thiểu số, động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong
dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống tư tưởng dân tộc
lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân
tộc.
1.2. Quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc và sự cần
thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta

20


1.2.1. Quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc
Trong quyển Đại từ điển tiếng Việt có khái niệm về hiệu quả đó là "Kết
quả đích thực; Hiệu quả kinh tế. Lao động có hiệu quả cao" [5, tr.806]. Chính

bảo bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc đã thúc đẩy mối quan hệ
bền chặt giữa các dân tộc.
Nhận thức đúng chính sách dân tộc, và thực hiện chính sách dân tộc một
cách có hiệu quả là một vấn đề quan trọng, trong khi công tác dân tộc của chúng
ta chưa kịp đổi mới, còn mang nặng tính chất hành chính, quan liêu, từ trên dội
xuống, ít hiệu quả. Nội dung công tác dân tộc còn cũ. Ta chưa chú ý nghiên cứu
thực trạng vùng dân tộc và từng dân tộc, không nắm bắt đúng những vấn đề mới
nảy sinh ở mỗi nơi để có chủ trương, biện pháp giải quyết thích hợp và kịp thời.
Tình trạng "thả nổi" đối với nhiều vùng trên đã dẫn tới làm nảy sinh những
tư tưởng, tình cảm phức tạp.
Hiện nay, trình độ và năng lực của đội ngũ làm công tác dân tộc ở hầu hết
các địa phương còn nhiều bất cập, việc nhận thức hiệu quả thực hiện chính sách
dân tộc còn nhiều hạn chế, cho nên trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
không chú ý đến hiệu quả, chỉ chạy theo hình thức, theo thành tích, theo số lượng
công việc dẫn đến trì trệ trong công việc cho nên đã tạo điều kiện cho nạn quan
liêu, tham nhũng có chiều hướng gia tăng.
Đến nay, đời sống nhân dân các dân tộc còn khó khăn, thiếu thốn, khoảng
cách chênh lệch giữa miền núi và miền xuôi, giữa vùng cao và vùng thấp vẫn rất
xa. Đất rừng bị tàn phá nghiêm trọng, do đó nhiều thế mạnh của miền núi đang
chuyển thành thế yếu và sẽ gây nhiều hậu quả xấu đối với sản xuất và đời sống
của nhân dân.
Bác Hồ đã từng nhấn mạnh: Miền núi nước ta chiếm vị trí quan trọng đối
với quốc phòng, đối với kinh tế. Vì vậy Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực
tiếp là các cấp uỷ Đảng, các uỷ ban địa phương phải làm sao nâng cao đời sống
vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, xuất phát từ thực tiễn của tình hình các
vùng dân tộc nước ta, vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn
đề dân tộc trong điều kiện hiện nay, công cuộc đổi mới đặt ra cho chúng ta nhiệm
vụ nặng nề là làm sao bảo đảm chính sách dân tộc của Đảng thực sự có tác dụng


Huyện Định Hoá là một huyện miền núi ở phía Tây - Tây Bắc của tỉnh
Thái Nguyên, được giới hạn ở toạ độ địa lí từ 105,29 đến 103,43 độ kinh đông;
21,45 đến 22,30 độ vĩ bắc, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 50km theo
quốc lộ 3 (Phụ lục 1).
* Vị trí địa lí
Phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), phía Nam giáp hai huyện
Đại Từ và Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên), phía Đông giáp huyện Bạch Thông
(tỉnh Bắc Kạn), phía Tây giáp huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên
Quang).
Toàn huyện có 24 đơn vị hành chính gồm 23 xã (Linh Thông, Lam Vĩ,
Quy Kỳ, Kim Sơn, Kim Phượng, Tân Thịnh, Bảo Linh, Trung Lương, Trung Hội,
Phú Tiến, Bộc Nhiêu, Sơn Phú, Điềm Mặc, Bình Thành, Phú Đình, Định Biên,
Phượng Tiến, Phúc Chu, Linh Thông, Đồng Thịnh, Tân Dương, Bảo Cường,
Bình Yên) và một thị trấn là Chợ Chu.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Định Hoá là 322,72 km2 chiếm 14,76%
diện tích đất tự nhiên Thái Nguyên và xếp thứ ba toàn tỉnh.
* Địa hình
Địa hình huyện Định Hoá chia làm hai vùng: Vùng núi cao bao gồm địa
bàn các xã ở phía bắc huyện (Linh Thông, Quy Kỳ, Lam Vỹ, Tân Thịnh, Kim
Phượng, Kim Sơn, Phúc Chu, Bảo Linh). Trong vùng này có các dãy núi chạy từ
Tây Bắc xuống Đông Nam, có độ dốc lớn. Trong đó, có dãy núi đá vôi thuộc
phần cuối của cánh cung Sông Gâm kéo dài từ phía Bắc qua trung tâm huyện tạo

24


nên bức tường thành ở phía Đông thị trấn Chợ Chu và dừng lại ở xã Trung Hội.
Dãy núi đá vôi này có độ cao từ 200 đến 400m, địa bàn này có nhiều rừng già,
suối nhỏ, đất canh tác ít, cư dân thưa thớt. Tiếp theo là vùng núi thấp gồm địa bàn
thị trấn Chợ Chu và các xã Bảo Cường, Trung Hội, Phượng Tiến, Bộc Nhiêu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status