Nghiên cứu tái sử dụng rơm rạ làm phân bón cho cây lúa tại tỉnh hưng yên nhằm cải tạo độ phì nhiêu của đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Đặng Thùy Anh

NGHIÊN CỨU TÁI SỬ DỤNG RƠM RẠ
LÀM PHÂN BÓN CHO CÂY LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
NHẰM CẢI TẠO ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT,
GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Đặng Thùy Anh

NGHIÊN CỨU TÁI SỬ DỤNG RƠM RẠ
LÀM PHÂN BÓN CHO CÂY LÚA TẠI TỈNH HƯNG YÊN
NHẰM CẢI TẠO ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT,
GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Chuyên ngành

: Khoa học môi trường


Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt
tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong nhận được những đóng góp quí báu của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên

Đặng Thùy Anh


Mục lục
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................................3
1.1. Tổng quan về phế phụ phẩm nông nghiệp và rơm rạ trong sản xuất lúa................3
1.2. Tình hình sử dụng rơm rạ trên Thế Giới và Việt Nam ............................................5
1.3. Giới thiệu về than sinh học và phân compost..........................................................7
Hình 1.1. Lúa bị nghẹt rễ do rơm rạ bị cày vùi chưa phân huỷ hết..............................10
1.5. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu...............................................................................12
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................16
2.2. Nội dung nghiên cứu..............................................................................................17
2.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................................25
3.1. Số liệu điều tra rơm rạ tỉnh Hưng Yên.....................................................................25
Đề tài điều tra phương thức sử dụng rơm rạ của nông dân Hưng Yên tại hai xã Minh
Phượng,Trung Nghĩa ( bảng 3.1) nhằm tìm hiểu cách sử dụng rơm rạ của nông
dân ở đây...........................................................................................................25
3.2. Hiệu quả của than sinh học tới độ phì nhiêu của đất..............................................26
Ghi chú: Số liệu được tính trung bình tại các ruộng tham gia thí nghiệm sau 2 vụ......26
Ghi chú: Số liệu được tính trung bình tại các ruộng tham gia thí nghiệm sau 2 vụ......26
3.3. Hiệu quả của phân compost tới độ phì nhiêu của đất.............................................33
Ghi chú: Số liệu được tính trung bình tại các ruộng tham gia thí nghiệm sau 2 vụ......33

Ghi chú: Số liệu được tính trung bình tại các ruộng tham gia thí nghiệm sau 2 vụ......34
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của biện pháp bón kết hợp phân compost sản xuất từ rơm rạ
đến năng suất lúa ...................................................................................................39
3.4. Hiệu quả môi trường than sinh học và phân compost............................................40
3.5. Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng tốt rơm rạ .................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................46
Tiếng Việt............................................................................................................................46


DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................................3
1.1. Tổng quan về phế phụ phẩm nông nghiệp và rơm rạ trong sản xuất lúa................3
Hình 1.1. Lúa bị nghẹt rễ do rơm rạ bị cày vùi chưa phân huỷ hết..............................10
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................................25
3.1. Số liệu điều tra rơm rạ tỉnh Hưng Yên.....................................................................25
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của biện pháp bón kết hợp phân compost sản xuất từ rơm rạ
đến năng suất lúa ...................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................46
Tiếng Việt............................................................................................................................46


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH

: Biến đổi khí hậu

C

: Cácbon


: Nitơ

Nts

: Nitơ tổng số

PC

:Phân chuồng

TP.HCM

: Thành phố Hồ Chí Minh

T.P

: Thành Phố

Biochar

:Than sinh học


MỞ ĐẦU
Lúa là cây trồng phổ biến, quan trọng nhất hiện nay vì diện tích gieo trồng
lúa chiếm đến 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Việt Nam là nông
dân trồng lúa [33]. Theo đánh giá của Cục Trồng trọt và nhiều nghiên cứu, lượng
phụ phẩm trong sản xuất lúa chiếm tới 50% chất khô, nghĩa là cứ sản xuất ra 1 tấn
thóc thì có 1 tấn rơm rạ [33]. Do vậy, hằng năm tạo ra một khối lượng rơm rạ dư

phân bón trong cải tạo đất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Nội dung nghiên cứu
của đề tài là đánh giá hiệu quả của bón kết hợp than sinh học, phân compost tới độ
phì nhiêu đất. Bên cạnh đó, đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả môi trường của việc
bón kết hợp than sinh học và phân compost nhằm nâng cao lợi ích của việc tái sử
dụng rơm rạ làm phân bón, đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng rơm rạ bảo
vệ sinh thái môi trường.
Địa bàn lựa chọn nghiên cứu của đề tài là những cánh đồng lúa của các hộ dân
thuộc xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa, T.P Hưng Yên, tỉnh
Hưng Yên. Đây là nơi có diện tích sản xuất lúa lớn của xã với diện tích canh tác
trung bình trồng lúa của các hộ đạt trên 1000 m 2/hộ. Nơi có vị trí đường giao thông
thuận tiện, hệ thống tưới tiêu hợp lý, cho việc triển khai bố trí, theo dõi thí nghiệm
trên địa bàn.

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về phế phụ phẩm nông nghiệp và rơm rạ trong sản xuất lúa
Phụ phẩm nông nghiệp đều là các chất hữu cơ, có thể còn non xanh, có thể
đã xơ cứng vì silic hóa như trấu hay lignin hóa như gỗ. Chúng có thể được xem như
một dạng tích chữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang hợp và các quá trình
sinh học khác
Thực trạng phế phụ phẩm nông nghiệp và rơm rạ trong sản xuất lúa
Theo Liên Hiệp Quốc, tới tháng Bảy năm 2013, dân số thế giới sẽ đạt 7.2 tỷ
người và tới năm 2100 là 10.9 tỷ người do mức sinh tăng cao tại các nước đang phát
triển.Với lượng dân số thế giới đạt mức như thế này thì vấn đề về nhu cầu lương
thực luôn được ưu tiên hàng đầu, đòi hỏi con người không ngừng mở rộng sản xuất
cải thiện các công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn [12].
Theo dự báo của tổ chức Lương thực thế giới (FAO), sản lượng ngũ cốc thế
giới năm 2013 có thể đạt mức kỷ lục mới là 1.259 triệu tấn, tăng 8.5% so với năm

là loại phế thải chiếm nhiều nhất trong các chất thải hữu cơ
Bảng 1.2. Lượng chất thải hữu cơ trên thế giới năm 2011
Loại chất thải
Số lượng (triệu tấn/ năm)
Tàn dư thực vật trên đồng ruộng
1200
Bùn thải
650
Rác thải sinh hoạt
400
Rác vườn
690
Chất thải công nghiệp thực phẩm
420
(Nguồn: Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Thùy Dương, 2011)
Từ bảng trên ta thấy khối lượng tàn dư thực vật trên đồng ruộng thải ra môi
trường hàng năm rất lớn với 1200 triệu tấn/năm trong khi các loại khác như bùn thải
thì là 650 triệu tấn/năm hay rác thải sinh hoạt chiếm 400 triệu tấn/năm rác vườn chiếm
690 triệu tấn/ năm và chất thải công nghiệp thực phẩm chiếm 420 triệu tấn/ năm. Như
vậy riêng chất thải hữu cơ từ nông nghiệp đã chiếm 35.7% lượng chất hữu cơ trên thế
giới. Từ đó chúng ta cần có biện pháp xử lý sử dụng thích hợp tránh gây lãng phí và
làm ô nhiễm môi trường [12].
Kết quả ước tính lượng phế phụ phẩm từ trồng trọt của Viện Môi trường
Nông nghiệp đã cho thấy cả nước ta có khoảng 61.43 triệu tấn phế phụ phẩm (gồm
39.98 triệu tấn rơm rạ, 7.99 triệu tấn trấu, 4.45 triệu tấn bã mía, 1.2 triệu tấn thân lá
mía, 4.43 triệu tấn thân lõi ngô (Bảng 1.3).
Bảng 1.3. Tiềm năng sinh khối phụ phẩm nông nghiệp Việt Nam
Nguồn sinh khối nông nghiệp
Tiềm năng (triệu tấn)
Tỷ lệ (%)

Theo các dữ liệu thu thập được, các hình thức sử dụng rơm rạ theo thông
thường chủ yếu bao gồm sử dụng để làm chất đốt, làm vật liệu xây dựng, nuôi gia
súc
- Lợp nhà: Ở nông thôn, trước đây người nông dân hay sử dụng rơm rạ cũng
như lau sậy hay các loại vật liệu tương tự để làm các tấm lợp mái nhà nhẹ và không
thấm nước. Loại rơm để sử dụng cho mục đích này thường được trồng riêng và thu
hoạch bằng tay hoặc bằng máy gặt bó [3].
- Làm thủ công mỹ nghệ như mũ, dép, xăng dan, bện dây thừng: Người ta có
thể tạo ra nhiều kiểu mũ được bện từ rơm rạ. Tại Anh, vài trăm năm trước đây, các
mũ bện từ rơm rạ đã rất phổ biến. Người Nhật, Triều Tiên có phổ biến sử dụng rơm
rạ để làm dép, xăng đan, đồ thủ công mỹ nghệ. Tại một số nơi thuộc Đức, như vùng
Black Forest và Hunsruck, người ta thường đi dép rơm trong nhà hoặc tại lễ hội.
- Tại nhiều nơi trên thế giới, rơm rạ cho đến nay vẫn được sử dụng để làm
đệm giường nằm cho con người và làm ổ cho vật nuôi. Nó thường được sử dụng để
làm ổ cho các loại súc vật như trâu bò (tức là loại động vật nhai lại) và cả ngựa. Nó
cũng có thể sử dụng để làm ổ cho các loài động vật nhỏ, nhưng điều này thường dẫn
đến gây thương tổn cho các con vật ở miệng, mũi và mắt do những sợi rơm rất sắc
dễ cứa.
- Làm thức ăn cho động vật: Rơm rạ có một hàm lượng năng lượng và dinh
dưỡng có thể tiêu hóa được. Lượng nhiệt được sinh ra trong ruột của các con vật ăn
cỏ, vì vậy việc tiêu hóa rơm rạ có thể hữu ích trong việc duy trì nhiệt độ cơ thể
trong thời tiết mùa đông lạnh [3].
+Ứng dụng rơm rạ trong nông nghiệp
Rơm rạ trong nông nghiệp được dùng để: phủ lên bề mặt đất thành một lớp vật
liệu. Qua thời gian, vật liệu này được phân giải thành chất hữu cơ để khôi phục một
phần hữu cơ và các chất dinh dưỡng bón cho đất thích hợp với nhiều loại cây trồng,
5


ví dụ như dưa chuột, cà chua, cây cảnh. Rơm rạ còn được dùng để: lót ổ cho gia súc

làm phân bón quay lại cải thiện đất trồng khi được bổ sung thêm cácbon, và một số
nguyên tố vi lượng.
1.3. Giới thiệu về than sinh học và phân compost
1.3.1. Giới thiệu về than sinh học
Than sinh học (Biochar) là loại than được sản xuất từ các nguồn sinh khối
cây trồng hay rác thải hữu cơ thông qua quá trình nhiệt phân yếm khí mà cấu trúc tự
nhiên của nó được duy trì và carbon vẫn còn trong than với hàm lượng cao. Than
sinh học có thể cung cấp dinh dưỡng khoáng ở dạng dễ tiêu và tạo môi trường phát
triển các tập đoàn sinh vật bộ rễ , chúng có khả năng giữ dinh dưỡng, ngoài ra còn
cải thiện độ chua đất. Than sinh học có thể tồn tại nhiều năm trong đất với cấu trúc
tơi xốp, diện tích bề mặt lớn và độ hấp phụ các chất cao, nhờ đó cải tạo được đặc
điểm vật lý cũng như tăng sức trữ ẩm của đất [3] .
Trên thế giới việc ứng dụng than sinh học (TSH) cũng đang còn tiếp tục
đánh giá và xem xét vì vẫn có một số ý kiến tranh cãi về loại vật liệu này do:
Than sinh học đã được ứng dụng nhưng chưa phổ cập trên thế giới, ví dụ như
ở Mỹ, Úc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan và ở Châu Phi. Nghiên cứu về TSH cần
đánh giá từng địa bàn cụ thể, chất đất cụ thể và phải xem xét các tác động của nó, vì
vẫn có ý kiến cho rằng bản thân biochar còn có những tác động không hoàn toàn
tốt. Có thể có những loại đất, thổ nhưỡng không phù hợp thì có những tác động
ngược lại
Rõ ràng trong vấn đề nghiên cứu TSH còn đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu
tổng thể trên nhiều phương diện khác nhau về mặt khoa học kỹ thuật. Cho nên việc
ứng dụng còn tùy thuộc vào từng địa phương, từng quốc gia và từng cây trồng trên
địa bàn khác nhau. Có nơi rất phổ cập sử dụng biochar như Haiwaii, nhưng có nơi
khác mức độ vừa phải thôi.
Ngoài ra còn tùy thuộc vào công nghệ cụ thể và giá thành đầu vào nữa. Ví dụ
có nơi trấu là một mặt hàng đắt tiền và được dùng cho mục đích khác có giá trị
thương mại cao hơn. Nên đầu vào còn tùy thuộc vào những nơi khác nhau [3].

7


8


Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình phân huỷ hiếu khí của chất
thải hữu cơ dạng rắn, trong đó đã xác định được ảnh hưởng của nhiệt độ và một số
yếu tố hoá, sinh học trong quá trình chuyển hoá chất hữu cơ. Kỹ thuật làm ủ có cấp
khí thông qua đảo trộn hiện nay rất phổ biến ở các nước đang phát triển. Phương
pháp không đòi hỏi đầu tư nhiều song tốn rất nhiều công lao động để tiến hành công
việc và sự đảo trộn ít là nguyên nhân chính kéo dài thời gian ủ [3].
Đối với ủ compost quy mô công nghiệp trong các nhà máy lớn, hiện nay trên
thế giới thường áp dụng thí nghiệm ủ compost hệ thống kín (hay hệ thống có thiết
bị chứa) giúp khắc phục được các nhược điểm của hệ thống mở, vận hành và kiểm
soát quá trình thuận tiện. Thông thường hệ thống ủ compost kín hiện đại được thiết
kế hoạt động liên tục, khí thải được xử lý bằng phương pháp lọc sinh học (biofilter).
Sử dụng làm phân compost tại Việt Nam
Thí nghiệm ủ compost trong thiết bị kín kiểu đứng hiện đang nghiên cứu và áp dụng
tại thị xã Sơn Tây, theo phân loại là một trong những thí nghiệm hiện đại tương
tự như các thí nghiệm công nghệ của Hoa Kỳ. Thiết bị ủ compost kín kiểu đứng
được thiết kế theo nguyên lý hoạt động liên tục, vật liệu ủ được nạp vào hàng ngày
qua cửa nạp liệu ở phía trên và tháo liệu từ phía đáy của thiết bị. Quá trình ủ
compost diễn biến qua các giai đoạn dọc theo chiều đứng của thiết bị. Việc thông
khí trong quá trình ủ compost được hỗ trợ nhờ hệ thống các ống phân phối đều bên
trong thiết bị. Quạt hút bố trí ở phía trên tạo sự chênh lệnh áp suất, nhờ đó khối ủ
compost cũng được thông khí dọc theo chiều đứng của thiết bị và theo hướng đối
lưu từ dưới lên trên. Toàn bộ khí thải quá trình ủ compost được thu hồi và xử lý
bằng “biofilter” giúp bảo vệ môi trường tốt hơn. Loại thí nghiệm ủ compost này có
nhiều ưu điểm, thuận tiện trong việc vận hành tự động, giảm yêu cầu diện tích nhà
xưởng bởi tận dụng chiều cao thiết bị. Quá trình vận chuyển của vật liệu trong thiết
bị nhờ trọng lực, thông khí cũng chủ yếu nhờ hiệu ứng đối lưu tự nhiên giúp giảm


Hình 1.1. Lúa bị nghẹt rễ do rơm rạ bị cày vùi chưa phân huỷ hết
(Nguồn: Viện Môi trường Nông nghiệp, 2013)

10


Trong sản xuất lúa, tỉ lệ áp dụng cơ giới hóa ngày càng cao từ khâu làm đất
đến thu hoạch, vận chuyển và chế biến, diện tích sử dụng các loại máy gặt đập liên
hợp ngày càng tăng, máy tuốt lúa tại đồng ruộng cũng nhiều. Tại các ruộng gặt bằng
máy, một lượng gốc rạ để lại ngoài đồng là rất lớn, lượng sinh khối của cây và toàn
bộ rơm được phun khắp ruộng. Để chuẩn bị đất cho canh tác vụ lúa tiếp theo thì
rơm rạ có thể được cày vùi vào đất và để phân huỷ tự nhiên. Tuy nhiên do trong giai
đoạn chuyển vụ trước sang vụ sau (thời gian ngắn hơn 20 ngày) thì rơm rạ chưa
phân giải hết, lúa của vụ sau cấy xuống trong giai đoạn rơm rạ bị phân huỷ có nhiều
chất độc sinh ra như H2S, CH4 với sự cạnh tranh về dinh dưỡng như ôxy, đạm, lân
và năng lượng giữa cây trồng và vi sinh vật đất dẫn đến rễ lúa bị ngộ độc, thối đen
và cây lúa bị thiếu dinh dưỡng có thể dẫn đến chết hoặc còi cọc [15].
1.4.2. Tác dụng của than sinh học tới tính chất đất
- Hàm lượng dinh dưỡng cao và khả năng giữ dinh dưỡng cao có thể cải
thiện khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và giảm sự rửa trôi dinh dưỡng,
thể hiện qua hai quá trình là: (1) chất dinh dưỡng được giữ lại bằng quá trình vật lý
vào các khe nhỏ của các vật liệu các bon hóa không định hình, (2) sự khoáng hóa
sinh học chậm của Than sinh học và tự tồn tại lâu của nó sẽ có nhiều bề mặt cho
quá trình hấp phụ và làm tăng CEC.
- Sự chuyển hóa chất hữu cơ từ di dộng sang các thể C ổn định có thể giảm
sự phát thải khí nhà kính CO2 vào không khí trong khi làm đất và tăng lượng C ở lại
trong đất. Một điểm đặc biệt nữa, than sinh học là chúng bị khoáng hóa rất chậm
trong môi trường đất [15].
1.4.3. Tác dụng của phân compost tới tính chất đất

đô Hà Nội 64 km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía
Tây Nam.
Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía đông
giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp tỉnh Hà Tây và Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh
Thái Bình [2].

12


Hình 1.2: Bản đồ tỉnh Hưng Yên
( Nguồn: Cục thống kê, tỉnh Hưng Yên)
Địa hình Hưng Yên nghiêng chênh chếch từ Tây Bắc xuống Đông Nam và
không thật bằng phẳng. Độ dốc trung bình là 8 cm/1km.
Phía bắc, nổi lên loại địa hình cao, có hình vòng cung đi từ Đông Bắc sang
Tây Bắc rồi men theo phía Tây, dọc sông Hồng, bao gồm địa phận các huyện Văn
Lâm, Văn Giang, Khoái Châu. Đây là vùng đất cao trong đê, có độ cao tuyệt đối từ
4 đến 6m.
Liền kề với vùng đất cao là vùng đất thấp hơn, độ cao trung bình 3m, phổ
biến ở Ân Thi, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Nam Kim Động, Tiên Lữ và kéo dài xuống phía
Nam. Độ cao trên khoảng 2m.
1.5.2. Điều kiện khí hậu
Hưng Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều
nắng và có mùa đông lạnh.
Số giờ nắng bình quân: 1730 giờ/năm.
13


Nhiệt độ trung bình hàng năm: 23.40C.
Lượng mưa trung bình năm từ 1800 – 2200mm. Lượng mưa phân bố không đều, tập
trung tới hơn 70% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10); mùa khô lạnh (từ tháng

tích lúa lai, lúa thuần chất lượng cao, phấn đấu đạt 13 nghìn ha, trong đó diện tích
lúa thuần cao sản 8 nghìn ha với năng suất 56 tạ/ha trở lên và lúa lai đạt trên 5 nghìn
ha với năng suất từ 62 tạ/ha trở lên.
Bảng 1.4: Khối lượng phụ phẩm từ một số cây trồng chính tại Hưng Yên
TT
1

2

3
4
5

Tên cây trồng
Cây lúa:
Rơm, rạ
Trấu
Cây ngô
Thân lá
Lõi bắp ngô
Cây đậu tương
Khoai lang
Khoai tây
Tổng

Diện tích (ha)
46.000
40.320
40.320
4.000

Như vậy, cách sử dụng rơm rạ như trên có những bất cập lớn ảnh hưởng tới
môi trường, an toàn và sức khoẻ của người dân: khi đốt tạo ra lượng lớn khói và
bụi, từ đó gây ra nhiều tác hại khác cho sức khoẻ con người và tác động đến an toàn
cho người tham gia giao thông trên đường; ảnh hưởng đến các loại thực vật khác.
15


Địa phương dùng rơm rạ để phủ lên đất khi trồng các loại rau, nhằm mục đích
tránh nhiệt độ quá cao hay mưa lớn, giữ ẩm cho đất, chống xói mòn rửa trôi đất.
Trấu thu được từ các cơ sở xay xát thóc, lượng này rất lớn. Một phần không nhiều
trong số đó, được bán cho người dân để đun nấu, bón ruộng ; còn phần lớn được
chất ra bãi chứa. Hiện chưa có biện pháp tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu này,
gây ra ô nhiễm môi trường.
1.5.4. Đặc điểm đất canh tác tại tỉnh Hưng Yên
Độ cao đất đai không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao thấp xen
kẽ nhau như làn sóng.
Điểm cao nhất có cốt +9 đến +10 tại khu đất bãi thuộc xã Xuân Quan (huyện Văn
Giang), điểm thấp nhất có cốt +0.9 tại xã Tiên Tiến (huyện Phù Cừ).
Đặc điểm địa chất
Tỉnh Hưng Yên nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng, được cấu
tạo bằng các trầm tích thuộc kỷ Đệ Tứ, với chiều dài 150m - 160m.
Đặc điểm thổ nhưỡng
Đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành phần cơ
giới của đất, từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua. Có thể chia làm ba loại:
* Loại đất phù sa sông Hồng được bồi: Màu nâu thẫm, đất trung tính, ít chua, đây
là loại đất tốt.
* Loại đất phù sa sông Hồng không được bồi lắng: Loại này có tầng phù sa dày,
thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến đất thịt nặng, đất trung tính, ít chua.
* Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lổ, không được bồi lắng: Đất màu nâu
nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hóa mạnh,

thái.

2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
Sử dụng các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã có,
đặc biệt sử dụng các kết quả nghiên cứu về quy trình sử dụng rơm rạ sau trồng trọt
làm phân hữu cơ sinh học, than sinh học trên thế giới và trong nước.

17


2.3.2. Phương pháp điều tra thực địa
Thu thập thông tin qua phỏng vấn 60 hộ thông qua phiếu điều tra bao gồm
cán bộ địa phương, người dân tại địa bàn nghiên cứu, về phương thức sử dụng rơm
rạ của nông dân trên địa bàn nghiên cứu qua các hình thức : đốt tại ruộng, vùi tại
ruộng, độn chuồng, đun nấu, trồng nấm và chăn nuôi.
2.3.3. Phương pháp sản xuất than sinh học và phân compost từ rơm rạ
2.3.3.1. Phương pháp sản xuất than sinh học
Phương pháp nhiệt phân gián tiếp
Thiết bị sản xuất than sinh học có thành thẳng đứng. Phía trên bao gồm một
cái nắp có gắn ống khói cao khoảng 1m50, phía dưới chân tạo 4 cửa nhỏ để nhóm
lửa. Lò chứa được 6 thùng nhỏ hơn có đường kính 40cm và chiều cao là 60cm. Các
thùng nhỏ này được sử dụng để nhồi trấu hoặc rơm vào trong và được bịt kín bằng
nắp thùng có khoan lỗ để thoát khí. Tiến hành sắp xếp các thùng nhỏ vào trong
thùng lớn và xen các vật liệu rơm và trấu xung quanh sau đó nhóm lửa và chờ đến
khi quá trình cháy kết thúc, để nguội sau đó lấy sản phẩm than sinh học ra ngoài.
Cách vận hành
Bước 1. Chuẩn bị nguyên vật liệu
Chuẩn bị 100 kg rơm và 50 kg trấu đã được phơi khô không khí; bật lửa gas hoặc
bao diêm; bình xịt nước; xẻng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status