BẢO vệ QUYỀN lợi NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH dân sự vô HIỆU - Pdf 36

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO
DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

MỤC LỤC


2

LỜI NÓI ĐẦU
Giao dịch dân sự là một trong những mối quan hệ dân sự phổ biến và xảy ra
thường xuyên nhất trong cuộc sống hằng ngày, đó cũng được xem là căn cứ quan trọng
làm phát sinh những mối quan hệ pháp luật có liên quan khác. Giao dịch dân sự bên
cạnh đó cũng chính là một trong những công cụ hữu hiệu để các chủ thể tìm kiếm và
trao đổi lợi ích với nhau. Thông qua giao dịch dân sự, các chủ thể có thể thỏa thuận,
giao kết và xác lập quyền lợi, cũng như nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Khi xã hội càng
phát triển thì đi cùng với đó vai trò của giao dịch dân sự cũng ngày càng được khẳng
định. Theo quy định của pháp luật, không phải giao dịch dân sự nào cũng đương nhiên
có hiệu lực mà giao dịch dân sự đó phải tuân thủ các điều kiện luật định mới không bị
vô hiệu, và hệ quả tất yếu là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có trường hợp tài sản được chuyển
giao thông qua một giao dịch dân sự vô hiệu và sau đó được chuyển tiếp cho một người
thứ ba bằng một giao dịch dân sự hợp pháp; người thứ ba này tham gia giao dịch một
cách thiện chí, ngay thẳng, trung thực và đặc biệt không biết hoặc không thể biết tài
sản mà họ nhận được đã được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự không hợp pháp
trước đó. Vậy nên vấn đề được đặt ra là quyền lợi của người thứ ba này khi tham gia
giao dịch được bảo vệ như thế nào? Giao dịch dân sự ban đầu vô hiệu thì các giao dịch
sau tiếp sau đó có vô hiệu hay không? Người thứ ba này có quyền giữ lại tài sản hay
phải trả lại cho chủ sở hữu ban đầu? Và khi quyền lợi của người thứ ba này được bảo
vệ thì quyền lợi của chủ sở hữu ban đầu sẽ ra sao?
Bài tiểu luận với chủ đề “Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu” sẽ đưa ra các khái niệm, phân tích, cũng như đánh giá, nhận xét

“người thứ ba ngay tình” theo nghĩa rộng, tức là nó bao hàm cả cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác”1. Hoặc căn cứ quy định của pháp luật, cụ thể theo Điều 130 của
1 Huỳnh Thanh Tình (2013), Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong
pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr. 11


4

Bộ luật Dân sự 1995 và Điều 1 của Bộ luật Dân sự 2005 thì chủ thể “người” dùng để
chỉ các cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật; và các chủ
thể này tham gia vào một giao dịch dân sự trong phạm vi giới hạn cụ thể gồm: chủ sở
hữu tài sản – người trung gian – “người thứ ba”.
Bên cạnh việc xác định chủ thể nào được coi là “người thứ ba” thì còn phải làm
rõ thuật ngữ “ngay tình” là như thế nào. Khái niệm này được từ điển Luật học giải
thích như sau: “ngay tình” là lòng ngay thằng, thực thà, tình thế rõ ràng 2 và “người
thứ ba ngay tình” khi tham gia giao dịch dân sự vô hiệu là người được chuyển giao tài
sản thông qua giao dịch dân sự mà họ không biết tài sản đó do người chuyển giao cho
họ thu được từ một giao dịch vô hiệu 3. Ngoài những định nghĩa vừa nêu, có thể thấy
rằng pháp luật dân sự Việt Nam không có một quy định cụ thể nào khác nói về “người
thứ ba ngay tình”. Theo đó Điều 189 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về “Người chiếm
hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình” và Điều 138 đề cập đến “Người thứ
ba ngay tình” nhưng nội hàm của “ngay tình” trong hai điều luật trên còn là vấn đề
chưa rõ ràng4. Nhìn từ góc độ so sánh, một số tài liệu nước ngoài có ghi nhận về chế
định này như sau: “A bona fide purchaser” – “người thứ ba ngay tình” là một khái
niệm được sử dụng chủ yếu trong hệ thống thông luật, cụ thể trong pháp luật về bất
động sản và tài sản của cá nhân, khái niệm này dùng để chỉ một bên không có lỗi khi
nhận được một tài sản mà không có bất cứ một yêu cầu hay sự đòi hỏi của một bên nào
khác về quyền sở hữu đối với tài sản đó5. Có thể thấy pháp luật nước ngoài quy định
trực tiếp và cụ thể hơn về chế định này so với pháp luật dân sự của Việt Nam, nhưng
nhìn chung sự ngay tình hay không ngay tình đôi lúc còn khó xác định rõ vì đó là yếu

quyền lợi của chủ sở hữu đích thực của tài sản như những giao dịch có mục đích
chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như: cho vay, bán, tặng cho, trao đổi; hoặc cũng
có thể là các quan hệ có khả năng dẫn đến chuyển quyền sở hữu đối với tài sản như:
5 truy cập lần cuối lúc 10h ngày 10/05/2016, “A bona
fide purchaser (BFP) – referred to more completely as a bona fide purchaser for value without notice – is a
term used predominantly in common law jurisdictions in the law of real property and personal property to refer
to an innocent party who purchases property without notice of any other party's claim to the title of that
property”


6

thế chấp, cầm cố, cầm đồ. “Người thứ ba ngay tình” là chủ thể cuối cùng trong mối
quan hệ thứ 2, họ bị nhầm lẫn về tư cách của chủ thể đã xác lập giao dịch với mình 6.
Họ nghĩ rằng mình đã xác lập giao dịch với người có quyền định đoạt đối với tài sản
nhưng thực tế lại không phải vậy. Bên cạnh đó thuật ngữ này cũng được hiểu đồng nhất
với quan điểm cho rằng “người thứ ba tham gia giao dịch dân sự ngay tình là khi tham
gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân theo quyết định của pháp luật
mà khôgn biết đối tượng giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu xác lập trước đó
bởi một giao dịch vô hiệu”7. Vậy nên “về mặt pháp lý, việc nhận thức đúng về tính
chất ngay tình có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quy định của pháp luật
cũng như giải quyết tranh chấp trên thực tế”8.
1.2.

Khái niệm “giao dịch dân sự vô hiệu”
Để hiểu được khái niệm như thế nào là “giao dịch dân sự vô hiệu” thì trước tiên

cần phải hiểu được giao dịch dân sự là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt thì “giao dịch” là
có “quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau”9; hoặc theo Bách khoa toàn thư mở thì “giao
dịch” được định nghĩa “là một giao kèo hay giao thiệp do nhiều đối tác hay đối tượng

dịch thì pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân thủ
theo – đó là các điều kiện để một giao dịch muốn phát sinh hiệu lực pháp lý cần phải
thỏa mãn. Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ
thể tham gia giao dịch. Mọi cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với
các bên và được pháp luật bảo hộ. Các điều kiện này được quy định tại Điều 122 Bộ
luật Dân sự 2005, cụ thể là:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.


8

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp
pháp luật có quy định”.
Vậy nên những giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại
Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu 11, cụ thể là điều kiện về chủ thể tham gia giao
dịch dân sự; điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch; điều kiện về tính tự
nguyện và điều kiện về hình thức giao dịch dân sự. Hay nói cách, về nguyên tắc chung
nếu một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lực thì phải thỏa mãn tất cả các điều
kiện quy định tại Điều 122 vừa nêu. Tuy nhiên trên thực tế để xác định một giao dịch
có phát sinh hiệu lực pháp lý hay không thì còn phải căn cứ vào các quy định khác của
pháp luật có liên quan và các ngành luật điều chỉnh giao dịch đó. Việc quy định các
điều kiện và một số trường hợp cụ thể dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu giúp đảm bảo
tính ổn định và nhất quán trong giao lưu dân sự, không chỉ định hướng tạo khuôn mẫu
cho các chủ thể pháp luật dân sự khi tiến hành xác lập giao dịch dân sự phải tuân theo
mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch, đặc biệt là
bảo đảm quyền lợi và tính công bằng cho “người thứ ba ngay tình” khi giao dịch dân

họ như vậy là cần thiết.
Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
được quy định tại Điều 147 Bộ luật Dân sự 1995: “Trong trường hợp giao dịch dân sự
vô hiệu, nhưng tài sản giao dịch đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho
người thứ ba ngay tình, thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực; nếu tài sản
giao dịch bị tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc trả lại cho người có quyền nhận tài sản
đó, thì người thứ ba có quyền yêu cầu người xác lập giao dịch với mình bồi thường
thiệt hại”; cụ thể quyền lợi của “người thứ ba ngay tình” được đảm bảo một cách tối
12 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005.
13 Lê Thị Bích Thọ (2004), Hợp đồng kinh tế vô hiệu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 107.
14 Huỳnh Thanh Tình (2013), Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong
pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr. 14.


10

ưu trong những trường hợp nhất định. Thứ nhất trong trường hợp khi giao dịch dân sự
vô hiệu nhưng tài sản giao dịch đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho
người thứ ba ngay tình, thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, tức ở đây pháp
luật đã công nhận quyền sở hữu hợp pháp của “người thứ ba ngay tình” khi chiếm hữu
được tài sản trong giao dịch dân sự với chủ thể khác mà người thứ ba này không biết
và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật; thứ hai trong
trường hợp nếu tài sản giao dịch bị tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc trả lại cho người
có quyền nhận tài sản đó thì tuy “người thứ ba ngay tình” không có được tài sản đã
giao dịch nhưng ngược lại họ hoàn toàn có quyền yêu cầu người xác lập giao dịch với
mình bồi thường thiệt hại có liên quan đến tài sản đã giao dịch. Qua đây có thể nhận
thấy rằng quy định này nghiêng về bảo vệ tuyệt đối cho “người thứ ba ngay tình” theo
một cách nguyên tắc với hai khả năng như nhau đó là được công nhận giao dịch, được
sở hữu tài sản đó; hoặc không được công nhận giao dịch nhưng được bồi thường thiệt
hại15. Qua đến Bộ luật Dân sự năm 2005, các quy định đã được bổ sung tương đối đậm

đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị
mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu 17. Trường hợp thứ
hai nếu tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu
thì luật quy định giao dịch mà “người thứ ba ngay tình” này thực hiện để nhận chuyển
nhượng bất động sản hoặc động sản này bị vô hiệu, và chủ sở hữu được đòi lại động
sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản đó 18; nhưng ngoại trừ trường hợp nếu
“người thứ ba ngay tình” nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch
với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở
hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết
định bị hủy, sửa thì “người thứ ba ngay tình” sẽ được công nhận quyền sở hữu đối với
động sản hoặc bất động sản đó. Qua đây ta có thể thấy việc bảo vệ “người thứ ba ngay
tình” được thể hiện đặc biệt cụ thể trong quy định tại Điều 138 và Điều 258 của Bộ
luật Dân sự 2005 vừa nêu; đó là nếu “người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài
16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 2, NXB Công an nhân dân , Hà
Nội, tr. 103.
17 Điều 257 Bộ luật Dân sự 2005.
18 Điều 258 Bộ luật Dân sự 2005.


12

sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản, nhưng sau đó người này không
phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa” thì sẽ được công nhận
quyền sở hữu đối với tài sản đó và chủ sở hữu không được đòi lại động sản phải đăng
ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ “người thứ ba ngay tình” này. Trước khi có quy
định này thì mọi giao dịch thuộc các trường hợp nói trên đều bị vô hiệu và “người thứ
ba ngay tình” không được bảo vệ.
Qua những phần tích vừa nêu có thể đi đến kết luận rằng: nguyên tắc được
thừa trong chế định sở hữu đó là các quyền năng của chủ sở hữu sẽ được pháp luật tôn

mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp trên tài sản, quyền lợi chính đáng,
hợp lý của các bên tham gia giao dịch đồng thời xem xét đến việc đảm bảo tính ổn định
của quan hệ dân sự, tránh những xáo trộn không cần thiết, khuyến khích các chủ thể tự
bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần xây dựng ý thức pháp luật của các bên trong quan
hệ dân sự.
Như vậy, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
có nghĩa là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của họ trong mối quan hệ với
chủ sở hữu ban đầu và người xác lập giao dịch với họ khi có một giao dịch dân sự vô
hiệu trước đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. “Quy định này rất quan trọng, góp
phần bảo vệ các giao dịch dân sự ngay tình, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
tham gia giao dịch đó, giữ ổn định quan hệ xã hội” 19. “Nhưng bên cạnh đó phải hiểu
chế độ bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình không nhằm mục đích khuyến
khích người không có quyền lợi được phép định đoạt về quyền lợi ấy mà là chế độ bảo
vệ người đã thực hiện giao dịch vì tin tưởng rằng đối tác là chủ sở hữu quyền lợi”20.

19 Tòa án nhân dân tối cao, Viện khoa học xét xử (2006), Tài liệu tập huấn Bộ luật Dân sự năm 2005, Hà Nội,
tháng 4/2006, tr. 17.
20 Bộ Tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2001), Thông tin khoa học pháp lý, Chuyên đề một số vấn đề
về sửa đổi bổ sung Bộ luật Dân sự Việt Nam, tr. 37.


14

CHƯƠNG II: BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH
TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP LUẬT ĐỊNH
1. Trường hợp tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu
1.1. Điều kiện để người thứ ba ngay tình được bảo vệ
Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình không chỉ có ý nghĩa với chủ
thể “người thứ ba ngay tình” này mà còn giúp hạn chế tranh chấp phát sinh giữa chủ
sở hữu ban đầu và người thứ ba ngay tình. Vậy nên việc xác định điều kiện để người

ba được xác định là ngay tình thì quyền lợi của họ được bảo vệ bằng sự công nhận tính
có hiệu lực của giao dịch đó. Việc công nhận này có ý nghĩa như đã phân tích ở trên,
giúp bảo vệ một cách tuyệt đối quyền lợi hợp pháp của người thứ ba ngay tình.
Ví dụ: Trong tình huống vừa nêu, A ăn cắp được một chiếc máy tính xách tay rồi
bán cho B, sau đó B nói rằng đây là máy tính của B, do B mua và muốn bán lại chiếc
máy tính này cho C. C chấp nhận giao dịch vì hoàn toàn tin tưởng B, tin rằng chiếc
máy tính xách tay đó là tài sản do B có được một cách hợp pháp mà không biết và cũng
không thể biết được rằng chiếc máy tính xáy tay đó là do B mua lại một cách bất hợp
pháp. Khi tham gia vào giao dịch này, C hoàn toàn ngay tình.
c. Điều kiện về đối tượng của giao dịch:

22 Hoàng Thế Liên (Chủ biên) Bộ Tư Pháp, Viện Khoa học pháp lý (2008), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự
năm 2005, tập I, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 310.


16

Thứ ba, điều kiện về đối tượng của giao dịch – phải đáp ứng đồng thời cả hai
điều kiện: đó phải là “tài sản được phép giao dịch”23 và tài sản đó phải là động sản
không phải đăng ký quyền sở hữu.
Khái niệm “tài sản được phép giao dịch” không được quy định cụ thể trong Bộ
luật Dân sự 2005 nhưng căn cứ theo Khoản 10 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ – CP
quy định về giao dịch đảm bảo có nêu: “Tài sản được phép giao dịch là tài sản không
bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịch bảo
đảm”. Qua quy định này có thể hiểu đơn giản khái niệm “tài sản được phép giao
dịch” là tài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật. Rõ ràng nếu chỉ
quy định và giải thích như vậy thì việc xác định điều kiện về tài sản được phép giao
dịch vẫn còn mơ hồ và chưa có căn cứ chính xác. Vậy nên để hiểu rõ được như thế nào
là “tài sản được phép giao dịch” phải căn cứ vào chế độ pháp lý đối với tài sản đó, dựa
vào tiêu chí này người ta phân chia tài sản thành ba loại: tài sản cấm lưu thông, tài sản

khái niệm về động sản “là những tài sản không phải là bất động sản”. Theo Từ điển
Tiếng Việt phổ thông thì “động sản” được định nghĩa là “tài sản có thể chuyển dời đi
được như tiền của, đồ đạc,…”26. Về việc đăng kí quyền sở hữu đối với động sản, Điều
167 Bộ luật Dân sự 2005 quy định rằng: “Quyền sở hữu đối với bất động sản không
phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Cũng theo Từ điển Tiếng
Việt, “đăng ký” được giải thích là việc “đứng ra khai báo với cơ quan quản lý để
chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ nào đó” 27. Như vậy,
nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “đăng ký” là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định
về trình tự, thủ tục, hình thức khai báo một đối tượng trong một quan hệ pháp luật nhất
định và chủ thể của quan hệ phải tuân theo những điều kiện luật định, thì quyền và lợi
25 Nguyễn Minh Oanh (2009), Tlđd, tr. 20.
26 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 307.
27 Viện ngôn ngữ học (2002), Tlđd, tr. 340.


18

ích hợp pháp của chủ thể mới được bảo hộ; ngược lại, nếu đối tượng hoặc quan hệ nhất
định đó được pháp luật quy định phải đăng ký, nhưng chủ thể của quan hệ không tuân
theo thì các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ khi phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt sẽ không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Qua các khái niệm vừa nêu có
thể hiểu “động sản không phải đăng ký quyền sở hữu” là những tài sản không là bất
động sản, có thể chuyển dời đi được và những tài sản này không phải khai báo với cơ
quan quản lý. Bộ luật Dân sự hiện hành cũng như các văn bản pháp luật hiện hành
không quy định bắt buộc tất cả các loại tài sản là động sản đều phải đăng ký quyền sở
hữu. Đối với động sản thì chiếm hữu là cách biểu thị công khai quyền sở hữu. Trong
trường hợp này, việc xác định tài sản nào là động sản không phải đăng ký quyền sở
hữu có ý nghĩa rất quan trọng, tạo căn cứ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người thứ ba ngay tình một cách chính xác và phù hợp.
d. Điều kiện về giao dịch dân sự được xác lập với người thứ ba ngay tình:


luật Dân sự 2005 thì hậu quả pháp lý cho việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay
tình khi giao dịch dân sự vô hiệu có đối tượng giao dịch là động sản không phải đăng
ký quyền sở hữu được quy định như sau: “Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển
giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ
ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này”. Qua quy
định này cho ta thấy hậu quả pháp lý trong trường hợp này sẽ có hai khả năng xảy ra:
một là pháp luật sẽ công nhận giao dịch với người thứ ba ngay tình, giao dịch này có
hiệu lực; hai là giao dịch với người thứ ba ngay tình sẽ không được công nhận và bị
tuyên vô hiệu căn cứ theo ngoại lệ quy định tại Điều 257 của Bộ luật Dân sự 2005.
a. Trường hợp công nhận giao dịch với người thứ ba ngay tình có hiệu lực
Đối với trường hợp công nhận giao dịch với người thứ ba ngay tình có hiệu lực
pháp luật thì giao dịch này phải đáp ứng đầy đủ tất cả các điều kiện vừa nêu trên, cụ


20

thể là: giao dịch ban đầu giữa “chủ sở hữu và người trung gian” 30 phải là một giao
dịch vô hiệu; người thứ ba phải thật sự ngay tình; tài sản là động sản không phải đăng
ký quyền sở hữu và phải được phép giao dịch; giao dịch với người thứ ba ngay tình
phải thông qua hợp đồng có đền bù và động sản người thứ ba ngay tình được nhận
chuyển giao không phải là tài sản bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu
ngoài ý chí của chủ sở hữu. Hay nói cách khác nếu giao dịch với người thứ ba ngay
tình đáp ứng tất cả các điều kiện này thì “người thứ ba không phải trả lại tài sản (hay
nói cách khác là chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản mà chỉ có quyền đòi bồi
thường thiệt hại)”31. Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình có thể thông qua
nhiều biện pháp khác nhau: ví dụ như công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình
hoặc người thứ ba có quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại. Nhưng suy cho cùng
biện pháp công nhận quyền sở hữu vẫn là biện pháp hữu hiệu và mang tính đảm bảo tốt

căn cứ và hợp lý, vì nó hoàn toàn đúng theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Dân sự 2005
quy định về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại có nêu rằng “Chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”. Quyền lợi của chủ sở hữu tài sản sẽ được
bảo vệ theo hướng được yêu cầu bồi thường thiệt hại từ người mà họ đã chuyển giao
tài sản, hay mở rộng ra là ngay cả đối với những người khác có lỗi dẫn đến giao dịch
vô hiệu đều có trách nhiệm bồi thường cho chủ sở hữu tài sản.
b. Trường hợp không công nhận giao dịch với người thứ ba ngay tình
Đối với trường hợp không công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình thì
căn cứ theo Điều 257 Bộ luật Dân sự 2005 quy định rằng “Chủ sở hữu có quyền đòi lại
động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường
hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có
đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản” và “trong trường hợp hợp đồng
33 Đỗ Văn Đại (2012), Tlđd, tr. 116.
34 Tưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 17.


22

này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó
bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Vậy trong trường hợp người thứ ba ngay tình có được động sản không phải đăng ký
quyền sở hữu thông qua “hợp đồng không có đền bù”35 với người trung gian không có
quyền định đoạt tài sản; hoặc nếu có được động sản thông qua “hợp đồng có đền bù”36
với người trung gian không có quyền định đoạt tài sản mà động sản đó bị lấy cắp, bị
mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì chủ sở hữu có
quyền đòi lại tài sản này từ người thứ ba ngay tình. Tương tự như đối với trường hợp
công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình, đối với trường hợp không công nhận
giao dịch của người thứ ba ngay tình và cho chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ
người thứ ba ngay tình này thì vấn đề được đặt ra ở đây là quyền lợi của người thứ ba

“Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật”. Người
thứ ba ngay tình là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình 39. Vậy
nên áp dụng Khoản 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2005: “Người chiếm hữu, người sử
dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết
việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này” ; thì người thứ ba ngay
tình có quyền hưởng hoa lợi, hoa tức từ tài sản theo quy định của pháp luật, nhưng trái
lại nếu người thứ ba này không ngay tình, tức người này “biết hoặc phải biết việc
chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” thì đương
nhiên phải hoàn trả lại hoa lợi, hoa tức từ thời điểm người thứ ba này biết được cho chủ
sở hữu ban đầu.

38 Huỳnh Thanh Tình (2013), Tlđd 37, tr. 42.
39 Bởi vì, theo Điểu 189 Bộ luật Dân sự 2005 thì “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều
183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”. Cụ thể là không phù hợp với Khoản 3 Điều 183
Bộ luật này: “Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của
pháp luật”.


24

2. Trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký
quyền sở hữu
2.1. Điều kiện để người thứ ba ngay tình được bảo vệ
Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2005: “Trong
trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở
hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao
dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài

vậy việc phân loại tài sản là động sản hay bất động sản chủ yếu dựa vào khả năng có
thể di dời của tài sản đó. Trong pháp luật về dân sự, nhà làm luật đã chọn phương pháp
liệt kê để định nghĩa về bất động sản. Vấn đề được đặt ra ở đây là liệu có phải tất cả
các bất động sản đều phải đăng ký quyền sở hữu hay không? Bởi vì có quan điểm cho
rằng: “Không phải mọi bất động sản đều phải đăng ký quyền sở hữu. Ví dụ: nhà ở, cây
trông trên đất”42. Nhưng theo quan điểm của người viết thì mọi bất động sản đều phải
đăng ký quyền sở hữu vì “Đất đai, nhà ở, các công trình kiến trúc và các tài sản gắn
liền với đất đai là những bất động sản có giá trị lớn, có vai trò quan trọng trong việc
duy trì và đảm bảo cuộc sống, cũng như sự phát triển đối với đời sống của mỗi con
người. Bởi vậy, người dân mong muốn được Nhà nước công nhận quyền sở hữu, quyền
40 Xem Điểm c, Tiểu mục 1.1, Mục 1, Chương II.
41 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học Pháp lý (2006), Tlđd, tr. 51.
42 Huỳnh Thanh Tình (2013), Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu trong
pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr. 28.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status