ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG
LÂM
PHAN HỮU PHÚ
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH
CHĂN NUÔI LỢN THỊT THEO HÌNH THỨC
GIA CÔNG TẠI CÁC TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN 2015
PHAN HỮU PHÚ
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH
CHĂN NUÔI LỢN THỊT THEO HÌNH THỨC
GIA CÔNG TẠI CÁC TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Lê Sỹ Trung
5
Chữ viết
tắt
A
AMAP
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Công thức tính
Amotization
Hao mòn tài sản cố định
Accelerated
Microenterprise
Advancement Project
Dự án Đẩy nhanh sự tiến
bộ của doanh nghiệp
FC
FF
GNP
Development Reseach
DTS
FAO
GTZ
IC
IFAD
MPI
Npr
RTD
SWOT
T
TC
TSCĐ
The Deutsche
Gesellschaft für
Technische
Zusammenarbeit
Indimediate Cost
International Fund for
Agricuture and
Ministry of Planning
and Investment
Net Profit
Rural Tecnology
Development company
Strengths, Weaknesses,
Opportunities, Threats
Taxes
Total Cost
nông
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Lãi ròng
Công ty Cổ phần Phát
triển Công nghệ Nông
Công cụ đánh giá Điểm
mạnh, Điểm yếu, cơ hội
và Thách thức
Thuế và các khoản phải
nộp
Tổng chi phí
Tài sản cố định
Cơ quan phát triển quốc tế
Hoa kỳ
Giá trị gia tăng
Chi phí biến đổi
Chi phí tiền lương và phụ
cấp
Npr = GPr - A
-
TC = FC + VC
VA = GO - IC
-
6
(trang trại chăn nuôi là đơn vị đạt giá trị sản xuất từ 1.000 triệu đồng/năm trở
lên), ít hơn nhiều so với các quốc gia khác.
Do chịu nhiều rủi ro trong sản xuất, không có được những lợi thế trong
8
việc tự đầu tư chăn nuôi công nghiệp, không được hỗ trợ cải thiện con giống,
kỹ thuật nên khả năng cạnh tranh của các sản phẩm chăn nuôi ngay cả tại thị
trường nội địa của các trang trại chăn nuôi là rất thấp. Các hộ chăn nuôi lợn
theo hình thức trang trại nhỏ lẻ đứng trước nguy cơ bị phá sản do lãi suất vay
vốn ngân hàng cao, nguy cơ dịch bệnh, đầu ra bếp bênh, sản phẩm kém chất
lượng và thiếu tính cạnh tranh là viễn cảnh không xa. Lại thêm sức ép từ phía
các sản phẩm nhập khẩu từ cả con đường chính thống và nhập lậu. Trước tình
hình đó, một số hộ chăn nuôi đã chuyển hướng sang chăn nuôi trang trại lợn
theo hình thức gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài lớn như tập đoàn
Charoen Pokphand (C.P - Thái Lan), Japfa (Indonesia), Austfeed (Australia)...
để giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Mô hình này
hiện tại đang thể hiện được nhiều ưu điểm và thu hút được số lượng không nhỏ
người nông dân tham gia, quy mô các trang trại gia công thường từ 600 con
đến 4.800 con đối với lợn nái sinh sản, 500 đến 10.000 con đối với lợn sau cai
sữa [16].
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc nhưng địa hình lại
không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận
lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã
hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác. Để phát triển nông
nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng, tỉnh cần kiến tạo những vùng chuyên
canh,
tăng liên kết giữa các trang trại và tổ nhóm nông dân với các
2.1.
Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị mô hình chăn nuôi lợn
gia công và mối quan hệ hợp tác cũng như lợi ích giữa các doanh nghiệp, công
ty cổ phần đối với các trang trại chăn nuôi tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên, từ đó đề xuất các phương án và giải pháp định hướng phát triển để
đem lại lợi ích kinh tế cho các trang trại tham gia trong chuỗi giá trị.
2.2.
- Hệ
Mục tiêu cụ thể
thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị ngành
chăn
nuôi lợn theo hình thức gia công tại Việt Nam.
-
Phân tích ưu, nhược điểm của mô hình chăn nuôi lợn theo hình thức gia
1
0
công.
-
Phân tích thuận lợi, hạn chế của mô hình chăn nuôi lợn gia công và tính
kinh tế của nó đối với các trang trại tham gia.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Lý luận về phân tích chuỗi giá trị
1.1.1.
Chuỗi giá trị và những khái niệm liên quan
ỉ.ỉ.ỉ.ỉ. Chuỗi giá trị nông sản
Một trong những xu hướng liên quan đến toàn cầu hóa hiện nay là sự hình
thành và phát triển mạnh mẽ của các thị trường hiện đại. Các thị trường hàng hóa
này liên kết chặt chẽ với các hệ thống siêu thị bán sỉ, lẻ quy mô lớn. Các thị trường
này đòi hỏi khối lượng hàng hóa lớn và các sản phẩm giá thấp và phải đáp ứng các
tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm. Hệ thống thu mua hàng hóa
của các thị trường này thường được hợp nhất theo chiều dọc, tầm hoạt động mang
tính toàn cầu và có độ phức tạp cao. Các thị trường kiểu
năng
động rất
lớn,đáp ứng nhanh chóng
này có tính
với biến
động giá, nhu cầu của người tiêu dùng và các cơ hội công nghệ mới. Quy mô doanh
thu của các hệ thống thị trường hiện đại này rất lớn, và kết hợp với chi phí thấp, dẫn
chính, đóng gói và tiếp thị [2].
Khái niệm chuỗi giá trị bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến
lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi. Ví dụ: Thiết
kế -> sản xuất -> phân phối -> tiêu dùng.
Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường. Việc thiết
lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên
thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc
gây ô nhiễm. Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các
mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống.
Ỉ.Ỉ.Ỉ.2. Ngành hàng
Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng
nhằm
xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông
nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản
xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu
và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử
dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp,
sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn
đề thể chế trong ngành hàng.
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong
nghiên cứu ngành hàng nông sản do J. P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng là
một
hệthống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia
vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các
chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô
hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các
tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương
thức điều tiết” [11].
1.11.3. Tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết
định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh
nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của
họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,...).
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy...).
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập
hợp các chủ thể có cùng một hoạt động. Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp
tất cả các hộ nông dân, tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương
nhân, tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân
tích.
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là
chức năng của nó trong chuỗi hàng. Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân.
Ví dụ, hộ
sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức
năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn... Một tác nhân có thể có một
hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt
tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng [11].
Mạch hàng
Là khoảng cách giữa hai tác nhân, mạch hàng mang nhiều mối quan hệ kinh
tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch sản phẩm. Qua mỗi tác nhân
lượng sản phẩm sản xuất ra thay đổi. Nó luôn luôn tồn tại trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Nếu tính trong một đơn vị sản phẩm thì nó lại thay đổi. Ví
dụ: Tiền thuê cửa hàng của một doanh nhân có thể không phụ thuộc vào
doanh thu hoặc
một khoản
mộtnhà sản
xuất đồ may mặc
phải trả
tiền thuê
mặt bằng cố định, không phụ thuộc vào sản lượng quần áo ông may được. Đó là chi
phí khấu hao (trả dần) vốn đầu tư cho sản xuất như: Khấu hao tài sản cố định, tiền
thuê địa điểm sản xuất, tiền thuê bảo vệ, lãi suất ngân hàng, chi phí trang thiết bị
thực hiện sản xuất [1].
-
Chi phí biến đổi (VC - Biến phí): Là những chi phí thay đổi khi khối lượng
sản xuất sản phẩm thay đổi tăng hoặc giảm. Tổng chi phí biến đổi tùy thuộc
theo số lượng đơn vị sản phẩm sản xuất ra, xong khi tính bình quân cho một
đơn vị sản phẩm thì nó thường ổn định. Là chi phí hình thành trong quá trình
sản xuất kinh doanh như: Nguyên vật liệu, nguồn giống, thức ăn, phân bón,
nhân công khi mùa vụ. . . Chi phí này thường tăng lên theo tỷ lệ thuận quy
mô sản xuất [1].
-
Giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Là doanh thu (hoặc đầu ra) của từng
tác nhân, được tính bằng lượng sản phẩm nhân với đơn giá. Để đơn giản, người ta
chỉ xem xét những sản phẩm chính. Trong phân tích ngành hàng, giá trị sản phẩm sẽ
được phân tích khác nhau trong phân tích tài chính và phân tích kinh tế.
1.1.2.4. Chi phí trung gian
Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost): Là chi phí về những yếu tố vật
chất tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Chi phí trung gian trong ngành
hàng được tính theo chi phí vật chất của luồng vật chất tạo nên sản phẩm. Sản phẩm
của các tác nhân đứng trước thuộc chi phí trung gian của các
tác nhân đứng liền kề sau nó. Các chi phí trung gian khác là những chi phí
ngoài ngành.
ỉ.ỉ.2.5. Giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng (VA- Value Added): Là giá trị mới tạo thêm của mỗi tác
nhân do hoạt động kinh tế về việc sử dụng tài sản cố định, vốn và đầu tư lao động
dưới ảnh hưởng của chính sách thuế của Nhà nước. Công thức tính: VA = GO - IC.
Giá trị gia tăng VA có thể bằng 0, dương hoặc âm.
Giá trị gia tăng là phần không tính trùng giữa các tác nhân. Vì vậy, trong nền
kinh tế quốc dân, tập hợp toàn bộ giá trị gia tăng của mọi tác nhân sẽ tạo nên tổng
sản phẩm quốc dân của đất nước (GNP = XVA). Như vậy, nếu một tác nhân nào đó
có VA > 0 thì nghĩa là tác nhân đó đã góp phần tạo nên GNP cho nền kinh tế.
Trong chuỗi giá trị, giá trị gia tăng là thước đo về giá trị được tạo ra trong
nền kinh tế. Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo ra bởi những
người vận hành chuỗi (doanh thu của chuỗi = giá bán cuối cùng * số lượng bán ra).
Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữa giá mà người vận hành
chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó đã bỏ ra để mua những
nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi ở công đoạn trước cung cấp,
và giá của những hàng trung gian mua từ những nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ
không được coi là mắt xích trong chuỗi.
theo số dư giảm dần, khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản
phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra.
Để đơn giản, các khấu hao trong luận văn được tính theo phương pháp khấu
hao đường thẳng. Mức khấu hao trung bình hàng năm của chuồng trại được tính
bằng nguyên giá tài sản cố định (TSCĐ) chia cho số năm khai thác.
Để tính nguyên giá TSCĐ là chuồng trại chăn nuôi phải tập hợp tất cả các chi
phí xây dựng vào một tài khoản, đó chính là tài sản cố định ban đầu. Thời điểm ghi
nhận TSCĐ là thời điểm kết thúc giai đoạn xây mới, đưa chuồng trại vào khai thác.
Các chi phí sửa chữa nhỏ trong giai đoạn sử dụng tính vào chi phí hoạt động trong
kỳ.
-
Lãi ròng NPr (Net Profit): Là phần lãi sau khi lấy lãi gộp trừ đi phần hao
mòn tài sản cố định, NPr = GPr - A [4].
Lãi ròng cũng có thể là số dương, âm hay bằng 0. Lãi ròng là một chỉ tiêu
chất
lượng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất
kinh doanh. Đó là phần thu được của các tác nhân sau khi trừ đi toàn bộ mọi chi phí
và các khoản phải nộp. Thông thường các tác nhân sử dụng lãi ròng NPr vào việc
mở rộng sản xuất hoặc nâng cao đời sống.
1.1.3.
Phương pháp tiếp cận và phân tích chuỗi giá trị nông sản
Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân
tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất
hỗ trợ quyết định quản lý và các chiến lược quản trị.
•
Cách tiếp cận theo phương pháp "filière" - Phân tích ngành hàng Commodity Chain Analysis có các đặc điểm chính là:
- Tập trung vào
những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật
chất trong chuỗi.
- Sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất.
- Sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm.
Trong phân tích, phương pháp phân tích ngành hàng có hai đường lối phân
tích chính. Đường lối thứ nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ
yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong
ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương
và quốc tế, và phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự
đóng góp của nó vào GDP. Đường lối thứ hai tập trung vào phân tích chiến lược,
đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của từng
tác nhân tham gia ngành hàng; xây dựng các chiến lược cá nhân và tập thể.
• Dù khác nhau như thế nào đi nữa về cách tiếp cận, phân tích chuỗi giá trị có
bốn kỹ thuật phân tích chính là:
1) Sơ đồ hóa mang tính hệ thống:
- Những
tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, và bán một
hoặc các sản phẩm cụ thể.
-
-
Vấn đề quản trị, cấu trúc các quy định, rào cản gia nhập ngành, ngăn cấm
thương mại, và các tiêu chuẩn.
4) Nhấn mạnh vai trò của quản lý:
-
Cơ cấu của các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân
trong chuỗi giá trị.
-
Góc độ chính sách: xác định các sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện năng lực
hoạt động của chuỗi, xóa bỏ các bóp méo trong trong phân phối, và gia tăng
giá trị gia tăng trong ngành.
• Cách tiếp cận nghiên cứu chuỗi giá trị hiện đang được nhiều tổ chức quốc
tế,
phi chính phủ và các viện nghiên cứu, trường đại học áp dụng khá
rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển nông nghiệp và nông thôn. Một số
lợi thế của cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị trong nông nghiệp là:
-
Phù hợp làm cơ sở để thiết kế các hoạt động phù hợp cho dự án/chương
trình.
tích mạng xã hội... [12].
Các nhóm phương pháp phân tích định lượng bao gồm: Khảo sát, phỏng vấn
chính thức, nghiên cứu tài liệu. Các công cụ phân tích cụ thể rất phong phú, ví dụ
như phân tích chi phí đầu tư; chi phí vận hành; chi phí cố định; chi phí biến động;
tổng thu nhập; thu nhập ròng; lợi nhuận ròng; điểm hòa vốn; suất sinh lời; giá trị
của hàng hóa trung gian; giá trị gia tăng; lãi gộp; khấu hao; lợi nhuận ròng. Ngoài
ra, cách phân tích ngành hàng còn yêu cầu lập bảng cân đối tài chính của từng hoạt
động trong chuỗi, sau đó hợp nhất các bảng cân đối tài chính của chuỗi để tiến hành
phân tích tài chính - phân tích tác động sử dụng giá thị trường và phân tích kinh tế Phân tích tác động sử dụng giá mờ [12].
1.1.4.
Tình hình nghiên cứu về chuỗi giá trị
Ỉ .Ỉ . 4 . Ỉ . Nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
thế giới cũng như nền công nghiệp hóa hiện đại hóa phát triển mạnh. Những dịch vụ
cung ứng trên thị trường càng nhiều, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do vậy công
tác nghiên cứu chuỗi giá trị đã được thực hiện khá lâu nhằm áp dụng lý thuyết chuỗi
giá trị vào sản phẩm nông sản, công nghiệp và dịch vụ. Để nâng cao tính cạnh tranh
và gia tăng giá trị của sản phẩm, đồng thời đảm bảo cho các tác nhân trong chuỗi
hoạt động bền vững và lâu dài. Sau đây là những ví dụ điển hình về phân tích chuỗi
do USAID tài trợ và Công ty Cổ phần Nghiên cứu Phát triển (DTS) thực hiện .
Ở Madagascar, USAID tài trợ AMAP phân tích xuyên suốt của chuỗi giá trị
cây thơm và cây dược liệu thiên nhiên. Phân tích chuỗi cùng với sử dụng khung
Power Y tế. Phân tích, xác định khó khăn và cơ hội để cạnh tranh cũng như các vấn
đề môi trường và xã hội liên quan tới cây Thơm & cây Thuốc .
Trong Ecuador, USAID tài trợ AMAP phân tích tương tự xuyên suốt của
ngành du lịch kết hợp các phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị với thiên nhiên, sự
bố kết quả bước đầu “phân tích chuỗi giá trị cá tra ĐBSCL”. Qua đây, có thể thấy
rõ thêm nguyên nhân của những khó khăn đối với con cá tra hiện nay. Đây là công
trình nghiên cứu nằm trong “Dự án phân tích chuỗi giá trị cá vùng Mê Kông” với sự
tài trợ của nước ngoài, nhằm đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và chính sách
can thiệp để đảm bảo phát triển bền vững.
Nghiên cứu được ủy nhiệm bởi: Chương trình phát triển MPI - GTZ SME
được sự hợp tác của sở khoa học & công nghệ Đăk Lăk, Trung tâm ứng dụng khoa
học & công nghệ, viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, trường
Đại học Tây Nguyên, hội Nông dân Đăk Lăk, trung tâm Khuyến nông Đăk Lăk.
“Phân tích chuỗi giá trị bơ trái” tạo hiểu biết chung giữa các loại bơ và phát triển
một chương trình can thiệp dựa trên thị trường vì sự phát triển ngành bơ có khả
năng cạnh tranh hơn và thành công hơn, nhằm tạo cho các tác nhân trong chuỗi giá
trị bơ đều được hưởng lợi.
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, một số nghiên cứu sản xuất và thương
mại hàng hóa nông sản đã sử dụng tiếp cận chuỗi giá trị để phân tích, ví dụ: Các
Niên giám nghiên cứu rau và rau an toàn ở An Giang, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh,
Hà Nội; bưởi ở Vĩnh Long; thanh long ở Bình Thuận; trái bơ ở DakLak; nho ở Ninh