Tìm hiểu kĩ thuật nhân giống cây trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN MINH TÚ

“TÌM HIỂU KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY TRÀ HOA VÀNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy :

Chuyên ngành

Lâm nghiệp :

Lớp Khoa

K43 - LN N02 :

Khóa học

Lâm nghiệp :
2011 - 2015


NGUYỄN MINH TÚ


Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với
đề tài: “Tìm hiểu kĩ nhân giống cây Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom
tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của cán bộ công
nhân viên Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp, các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Lâm
Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: GS.TS
Đặng Kim Vui đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa
Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo GS. TS Đặng Kim Vui đã giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt bản
khóa luận, nhưng vì do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế. Vì vậy bản khóa
luận này không tránh

khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong

được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng
nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015 Sinh
viên Nguyễn Minh Tú
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang


4


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Trang

1.1.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................Error! Bookmark not deíĩned.


6

PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1.

Đặt vấn đề
Lâm sản ngoài gỗ từ xưa đến nay vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong đời

sống hàng ngày của con người.
Hiện nay có nhiều khái niệm và LSNG khác nhau. Theo “Đề án quốc gia về
bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006-2020” có định nghĩa: LSNG bao gồm tất
cả những sản pham tái tạo được ngoài gỗ, củi và than,LSNG được khai thác từ rừng
đất rừng hoặc từ thân cây gỗ. LSNG bao gồm các sản
(gồm tre, nứa,mây, song...),

các

pham



sản pham

trồng làm rừng bảo hộ, làm cảnh và chế biến dược liệu
(Zhu Fi Yu và cs, 2000) [14].
Theo "Camellia International Journal" - tạp chí chuyên nghiên cứu về Trà hoa
vàng của thế giới, các hợp chất của trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh
trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi

chỉ cần đạt đến

ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư; giúp giảm đến 35%
hàm lượng cholesterol trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm
chỉ là 33,2%... (Ngô Quang Đê, 2001) [1]
Một số công trình nghiên cứu cho thấy trà hoa vàng giảm triệu chứng xơ vữa
động mạch do máu nhiễm mỡ, điều hòa huyết áp, hạ đường huyết; chữa kiết lỵ, đại
tiện ra máu...
Lá trà hoa vàng có

thể uống, điều chỉnh các chất béo trong

cơ thể,

lượng đường trong máu, giải độc gan và thận, theo y học Trung Quốc công bố, trà hoa
vàng có 9 tác dụng chính:
- Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tong hàm lượng lipit trong huyết
thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng
cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt); - Nước sắc lá trà có tác dụng hạ huyết áp rõ
ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài

-

Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết


1.3.

Mục tiêu nghiên cứu

-

1.4.

-

Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học trang bị một số kiến thức trong
thực tế.
Kết hợp việc làm đề tài
tốt nghiệp với việc hệ thống, củng cố
những
kiến thức đã học cả về kiến thức lẫn thực hành.
Góp phần tạo giống cây Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom.
Ý nghĩa đề tài
- Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần phát triển tài nguyên cây thuốc, cây cảnh quý hiếm, phục vụ cho nhu
cầu sử dụng và xuất khẩu.

Bên cạnh đó, góp phần rất quan trọng

trong việc bảo tồn nguồn gen quý của quốc gia, đồng thời góp phần tạo sinh kế, nâng


9


hạt kín trong họ Theaceae. Nó được tìm thấy ở Trung Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng
Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh).Vĩnh Phúc (Tam Đảo). Sinh sống trong các khu
rừng ẩm có độ cao dưới 500 m (Ngô Quang Đê, 2001)[1].
2.2.
Cơ sở khoa học
Nhân giống

là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống
để

cung cấp hạt giống hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước
cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp.
Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữ được
tính di truyền tốt của cây mẹ.
Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành
hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như
cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp nhân giống có hệ số nhân giống cao
nên được dùng pho biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả (Lê Đình
Khả,Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
2.2.1.
Cơ sở tế bào h ọc


Bất kỳ một loài sinh vật nào cũng có cấu tạo từ tế bào. Tế bào là đơn vị cấu
trúc

nhỏ nhất cơ bản nhất của sinh vật. Tế bào chứa bộ nhiễm

sắc thể


được lấy từ thân cây non hoặc cành non của cây (bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành
giâm thường là cành non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nữa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy
theo từng loài cây và điều kiện thời tiết lúc giâm hom mà chon cành có khả năng ra rễ
cao nhất.
Hom rễ là loại hom được cắt từ rễ cây. Một số loài cây có thể dùng rễ để giâm
hom như: Xoan, hồng...ngoài ra ở một số loài người ta có thể giâm hom từ lá hoặc từ


củ.
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất sứ của cây, có loài hom có
khả năng ra rễ cao, có loài hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi
nách, đặc biệt là cành chồi vượt khả năng ra rễ tốt hơn là cành lấy từ tán cây. Tùy từng
loài mà lấy hom ở vị trí nào cho phù hợp (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003)
[4].

2.2.3.

Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định của

một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để hình thành cơ thể mới.
Rễ bất định là rễ được sinh ra từ bất kỳ bộ phân nào của cây ngoài hệ rễ của
nó, trong giâm hom và chiết đều quan trong là hình thành rễ bất định, (Lê Đình Khải,
2001) [6]
Có 2 loại rễ: rễ tiềm an và rễ mới sinh.

-

Rễ tiềm ẩn: Là rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi
bộ phận của cây được phân tách ra khỏi cây mẹ.


gỗ hóa cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa

gỗ

nhiều, hay phần gỗ chiến nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện
tượng phố biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt hom cho đúng chiều
(Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].

2.2.4.

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm

2.2.4.1.

Các nhân tố nội sinh
y

Đặc điểm di truyền loài.

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra
rễ như nhau. Nanda (1970) đã dựa trên khả năng ra rễ để chia ra các loài cây gỗ thành
3 nhóm chính là:



Nhóm có khả năng ra rễ cao gồm 29 loài như số loài phụ thuộc các
chi Malus sp, Prunus sp, Pyus sp...thuộc họ Rosaceae, một số chi khác như Aesculus
sp, Bauhinia sp...



Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạn chế ở mức độ khác
nhau. Những loài có khả năng ra rễ cao như Sở đến 35 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 7090% (Komisarov, 1964; Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đoàn Thị Bích, 1995). Những loài cây
khó ra rễ như Mỡ(Manglietia glauca) 5 tuổi khả năng ra rễ chỉ có 14% (Lê Đình Khá,
Hoàng Thanh Lộc, Phạm Văn Tuấn, 1996). Đối với nhóm cây này muốn tỷ lệ ra rễ cao
thì phải dùng cây non và phải xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp(Lê Đình Khả,
Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
> Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có những
khả năng ra rễ khác nhau. Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman (E.camanldulensis)
4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ lệ ra rễ 95% thì xuất xứ
Gilbert River có tỷ lệ ra rễ 50%.

> Tuổi cây mẹ lấy cành
Khả năng ra rễ của hom giâm không nhưng do tính di truyền quy định mà còn
phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ lấy cành. Thông thường cây chưa sinh sản hạt dễ
nhân giống bằng giâm hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt, hom lấy từ cây tuổi non có
khả năng ra rễ cao hơn lấy từ nhưng cây tuổi già. Ở một số loài cây khả năng ra rễ của


chúng chỉ tồn tại ở những cây 1-2 tuổi. Ví dụ như hom lấy từ
tuổi,

cây mỡ

1

3 tuổi, 20tuổi khả năng ra rễ tương ứng là

98%, 47%, 0% (Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn, 1990).

Mộng Hùng, 2003) [4].
> Kích thước hom
Đường kích và chiều dài hom cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm.
Các trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cho thấy chiều dài hom Bạch đàn, keo từ 7 10cm, Phi lao 10 - 12cm là thích hợp. Tuy nhiên, để xác định kích thước hom thích
hợp cho mỗi loài cây cần phải xác định bằng thực


nghiệm (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].

> Các chất điều hòa sinh trưởng
Trong các chất điều hòa sinh trưởng Auxin được coi là quan trọng nhất trong
quá trình ra rễ của cây hom. Song nhiều chất tác động cùng Auxin cũng tồn tại một
cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng,
trong đó quan trọng nhất là: Rhizocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chất kích thích và
kìm hãm ra rễ (Tewari, 1993) [13].

-

Rhizocalin năm 1993 Builenne và Went đã tong hợp được các chất có bản chất axit,
phân tử lượng thấp và chịu nhiệt từ Disastaza (ezyme biến đổi tinh bột thành đường)
không thuần khiết cũng như từ mầm lá và chồi hoa của một số loài cây, chất đặc biệt
được coi là cần thiệt cho sự hình thành rễ của nhiều loài cây.

-

Đồng nhân tố ra rễ (Rooting - factors), theo Hess (1996) cho rằng một số chất nội
sinh điều tiết phân phối hoạt tính IAA gây nên khởi động ra rễ và gọi đồng nhân tố,
một số chất này được xác định là axit Chorogenic và axit Isochogenic.
Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ. Nhiều nghiên cứu đã nêu lên sự tồn
tại cảu các chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài có khả năng ra rễ cao. Ví

Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là nhân tố ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ
của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ giâm hom. Một số loài cây có thể giâm hom
quanh năm, song nhiều loài cây có tính thời vụ rõ rệt. Theo Frison (1967) và Nerterow
(1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỉ lệ ra rễ nhiều nhất ở các loài cây, trong khi
mọt số loài khác lại có tỉ lệ ra rễ nhiều hơn vào mùa xuân. Hom được lấy trong các
thời kỳ cây mẹ hoạt động sinh trưởng mạnh có tỉ lệ ra rễ cao hơn các thời kỳ khác (Lê
Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
Thời vụ giâm hom đạt kết quả thấp hay cao thường gắn liền với yếu tố cơ bản
là diễn biến khí hậu trong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của
cành. Hầu hết các loài cây đều sinh trưởng mạnh trong mùa xuân - hè (mùa mưa) và
sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông, vì thế, thời kỳ giâm hom tốt nhất
cho các loài cây là tháng xuân - hè và đầu thu.



Ánh sáng
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của mọi sinh vật. Ánh
sáng đóng vai trò sống còn trong việc ra rễ của hom giâm (Tewari, 1994). Không có
ánh sáng và không có lá thì hom giâm không có hoạt động quang hợp, quá trình trao
đoi chất khó xảy ra, do đó không thể có hoạt động ra rễ (Lê Đình Khả, Dương Mộng
Hùng, 2003) [4].
Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ
cao nên thường làm giảm đáng kể tỷ lệ ra rễ. Chất lượng ánh sáng cũng ảnh
hưởng đáng kể đến tỉ lệ ra rễ cảu hom giâm. Theo Kimoiasov
(1994) thì ánh sáng tự nhiên là cần thiết cho ra rễ, còng ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh
làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng.


Tuy nhiên, ảnh hưởng của ánh sáng đến khả năng ra rễ của hom giâm thường

hom. Các hoạt động quang hợp , hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa vật chất trong
cây đều cần nước. Thiếu nước thì hom bị héo, nhiều nước thì hoạt ddoognj của men
thủy phân tăng lên, quá trình quang hợp bị ngừng trệ. Khi giâm hom mỗi loài cây đều
có độ am thích hợp, làm mất ẩm độ của hom khoảng 15 - 20% thì hom hoàn toàn mất
khả năng ra rễ. Đối với nhiều loài cây, độ ẩm thích hợp cho giâm hom là 50 - 70%.
Nếu tăng lên 100% thì hầu hết hom giâm giảm khả năng ra rễ (Mai Quang Trường,
Lương Thị Anh, 2007) [10].
Yêu cầu độ ấm của hom giâm thay đoi tùy theo loài, theo mức hóa gỗ của
hom. Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm tăng độ ẩm,
giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá. Trong mùa lạnh thời gian


phun sương và thời gian ngắt quảng có thể kéo dài, trong mùa nắng thì ngược lại. Nên
áp

dụng

các

tiến bộ kỹ

thuật hiện dại để xây

dựng vườn ươm giâm hom kỹ thuật cao có thể điều tiết các yếu tố cần thiết cho giâm
hom hợp lý (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].



Giá thể và môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần vào thành công của giâm hom, các giá thể được dùng


Nếu ruột bầu là 100% than trấu, tỷ lệ ra rễ của hom là 62.3%.
• Các nhân tố kích thích

-

Loại thuốc
Các loại chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá
trình hình thành rễ của hom giâm. Trong đó các Auxin được sử dụng nhiều nhất. Một
số Auxin là IAA (Axit Indol Axetic), IBA (Axit Indol Butylic), IPA (Axit Indol
Propionic), NAA (Axit Napthlen Axetic). Các chất kích thích được dùng chủ yếu hiện
nay là các chất trên hoặc dẫn xuất của chúng ngoài ra còn có 2.4.5T.


Tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể thì auxin có tác động đến tỷ lệ ra rễ khác
nhau đối với từng loài cây khác nhau. Thí nghiệm giâm hom cho các loài Bạch đàn
tráng , Mỡ sở tại trung tậm nghiên cứu giống cây rừng đã cho thấy rằng IBA là chất có
hiệu quả ra rễ cao nhất đối với cây Bạch đàn trắng (93,8%) IAA và 2,4D là chất có
hiệu quả cao nhất đối với cây Mỡ (85%), còn đối với cây Sở thì hiệu quả cao nhất với
chất kích thích NAA (75%)
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chất có tác dụng tốt đến tỷ lệ ra rễ của hom
thực vật là IAA, IBA và NAA. Tuy nhiên ở mỗi loài cây khác nhau thì chất kích thích
có tác dụng khác nhau, vì vậy để nâng cao tỷ lệ ra rễ cần phải chọn các chất cho từng
loài thực nghiệm (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].

-

Nồng độ
Cùng với loại thuốc kích thích nhưng nồng độ khác nhau có tác dụng khác
nhau. Nồng độ thuốc kích thích quá thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào hình

Tóm lại, để giâm hom thành công thì phải thực hiện đầy đủ đồng bộ các biện
pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ, đến cấy hom giâm, tạo điều kiện thích
hợp nhất cho hom giâm ra rễ.
2.3.Những nghiên cứu về kĩ thuật giâm hom trên thế giới và Việt Nam

2.3.1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tốc độ phát trien nhanh chóng của nên kinh tế toàn cầu và khu vực đã làm cho

môi trường sống ô nhiễm, rừng suy giảm về diện tích và chất lượng, đặc biệt là ảnh
hưởng trực tếp đến sức khỏe con người. Đứng trước tình hình đó các nhà khoa học và
lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt sự đóng góp của các nhà khoa học Lâm nghiệp đã
và đang nỗ lực để tìm ra những phương pháp tạo giống cây mới góp vào ngân hàng
hạt giống ngày càng chất lượng.
Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng đã
được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Bắt đàu từ năm 1964 Girodano đã giâm hom
Bạch đàn E. Camalodulensis một năm tuổi , đạt tỷ lệ ra rễ 60%. Năm 1963, nhà
nghiên cứu người pháp là Franclet đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạch đàn đã
thử nghiệm giâm hom và đạt thành công.
Bắt đầu từ năm 1984, nhà nghiên cứu người Đức R.Kleins Chrmit đã tiến hành
nhân giống cây Vân san ở CHLB Đức. Ruden cũng bắt đầu tại Nauy.
Và từ thập kỷ 80 đến nay thì công tác nghiên cứu đã đạt được nhiều thành
công như loài cây lá kim, lá rộng. Ở Đông Nam Á những năm gần đây việc nghiên
cứu và sản xuất cây hom đã tiến hành ở nhiều nước. Trung tâm giống cây rừng Asean
- Canada (ACLTSC) đã tổ chức thử nghiệm nghiên cứu giống hom từ những năm
1988 và đã thu dược nhiều kết quả với các loài cây họ đậu.


Tại Trung Quốc đã xây dựng được một quy trình công nghệ về sản xuất cây

đối chúng (Ngô Kim Khôi, 1998) [7].
Từ năm 1990 trở lại đây, các nhà khoa học Lê Đình Khá, Phạm Văn Tuấn và
Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành giâm hom các loài Bạch đàn (1990 - 1991), cây Sở
(Lạng Sơn, 1990), Keo lá chàm và Keo lai (1995), Bách xanh (1999), Pơ mu (Lâm
Đồng, 1997), Thông đỏ (Ba Vì, 1995).
Trung tâm nghiên cứu cây rừng viện khoa học Việt Năm sau một thời gian
nghiên cứu đã thực hiện thành công việc sản xuất cây hom Bạch đàn


trắng và keo lai theo kế hoạch của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt 3 năm 1996 - 1998.
Theo bản tin dự án trồng mới 5 triệu ha rừng số 4 - 2005, 2nhân giống một số loài cây rừng bằng phương pháp giâm
hom đã có nhiều triển vọng.
Đối với Pơ mu có độ tuổi từ 2 - 8 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85 - 95% khi xử lý
bằng NAA 1,5% với giá thể làm bằng cát hay trực tiếp trong túi bầu.
Đối với Bách xanh ở độ tuổi từ 2 - 10 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85 - 90% khi xử
lý IBA 1% với giá thể bằng cát
Với cây Hồng tùng giâm hom thành công ở giai đoạn có độ tuổi khác nhau bằng chồi vượt của cây trưởng thành hoặc đã qua
tạo chồi. Hom ra rễ đạt 80 - 85% khi xử lý bằng hóa chất IBA 1,5% trên giá thể bằng cát.
Nhìn chung phương pháp giâm hom này ra đời đã đem lại nhiều thành tựu cho công tác tạo giống cây trồng vì mạng lại
nhiều ưu điểm khắc phục cho các phương pháp nhân giống truyền thống khác.
2.4. Khái quát khu vực nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

.1.

Đặc điểm - vị trí địa lí
Vườm ươm của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc tổ 10 - xã Quyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên.

Phía Bắc giáp với phường Quán Triều.
Phia Nam giáp với phường Thịnh Đán.


Chỉ tiêu dễ tiêu/100g đất
N

P2O
5

K2
O

PH

0.24
0.035
3.64 456
0.90
3.5
1
0.211 0.060
3.06
12
0.44
3.9
0.13
0.10
30 - 60
0.711 0.034
0.107
3.04
3.05



Bảng 2.2:Một số yếu tố khí hậu 5 tháng đầu năm 2015 tại tỉnh Thái

Đặc
trưng

Nguyên2
Tháng Tháng

Tháng

Tháng

Tháng
5

1

2

3

4

17.5

19.3

21.8


134

297

73

82

80

83

84

61

50

34

43

49

45.7

84.5

86.5

bình
Thấp
nhất
Bốc hơi

Giờ nắng

---------' . _.-----------^^\ —— —-----------------------------------(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Cầu Gia Bảy)
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hom Trà hoa vàng lấy tại rừng tự nhiện huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

.

Thời gian nguyên cứu
Chuẩn bị hom, theo dõi và thu thập thông tin từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015.

.

Nội dung nghiên cứu
Đe đạt được mục tiêu đề ra, đề tài nghiên cứu những nội dung sau:

-

Xác định được thời gian ra rễ của hom theo định kỳ 10 ngày một lần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status