Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố hà nội tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm (điển cứu tại phường phúc xá, quận ba đình, thành phố hà nội) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ THÀNH PHỐ
HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI
QUA PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
(Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ THÀNH PHỐ
HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI
QUA PHƢƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
(Điển cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI


9.6. Phương pháp xử lý số liệu SPSS .............................................................. 18
10. Kết cấu của đề tài .................................................................................... 18
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƢỜI
NGHÈO NHẬP CƢ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI ........ 19
1.1. Một số khái niệm công cụ ...................................................................... 19
1.1.1. Khái niệm nghèo và người nghèo ......................................................... 19

1


1.1.2. Khái niệm di cư, nhập cư. ..................................................................... 22
1.1.3. Khái niệm dịch vụ xã hội, thông tin dịch vụ xã hội .............................. 23
1.1.4. Khái niệm Công tác xã hội, Công tác xã hội nhóm. ............................. 26
1.1.5. Khái niệm trợ giúp ................................................................................ 29
1.1.6. Khái niệm trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã
hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm .................................................. 29
1.2. Một số lý thuyết đƣợc vận dụng trong nghiên cứu ............................. 31
1.2.1. Thuyết Nhu cầu của Maslow ................................................................ 31
1.2.2. Lý thuyết Hệ thống................................................................................ 32
1.2.3. Lý thuyết Thay đổi xã hội ..................................................................... 33
1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu (Phƣờng Phúc Xá- quận Ba Đình- Hà Nội)35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 36
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ
PHƢỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN
DỊCH VỤ XÃ HỘI. ....................................................................................... 37
2.1. Thực trạng đời sống xã hội của ngƣời nghèo nhập cƣ khu vực
phƣờng Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội................................. 37
2.1.1. Về độ tuổi .............................................................................................. 37
2.1.2. Về trình độ văn hóa/chuyên môn .......................................................... 38
2.1.3. Về thu nhập bình quân và công việc ..................................................... 39

3.2.3. Huy động, kết nối nguồn lực bên ngoài .............................................. 111
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ............................................................................ 113
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
KHUYẾN NGHỊ.......................................................................................... 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 118
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 120
PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN ..................................... 120
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT- MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NHÓM
ĐÃ TRIỂN KHAI TRÊN ĐỊA BÀN PHƢỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNHHÀ NỘI ........................................................................................................ 128

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTXH

Công tác xã hội

NVCTXH

Nhân viên Công tác xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân

TP

Thành phố


Lao động Thương binh Xã hội

NGO

Các tổ chức phi chính phủ

4


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc điểm của người nghèo nhập cư Phúc Xá- Ba Đình- HN ........ 40
Bảng 2.2: Nguồn gốc và đặc điểm nhập cư của người nghèo nhập cư ........... 42
phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 42
Bảng 2.3: Thực trạng Hộ khẩu/ Đăng ký Tạm trú của người nghèo nhập
cưphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ............................................................ 46
Bảng 2.4. Thực trạng nhà ở của người nghèo nhập cư ................................... 48
Phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 48
Bảng 2.5: Thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo nhập cư ........... 54
phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 54
Bảng 2.6: Thực trạng tiếp cận dịch vụ giáo dục của người nghèo nhập
cưphường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ............................................................ 59
Bảng 2.7: Thực trạng học tập của con/ em hộ nghèo nhập cư ........................ 60
Phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 60
Bảng 2.8: Các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của người nghèo nhập cư
phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 64
Bảng 2.9: Thực trạng tiếp cận thông tin qua phương pháp CTXH nhóm của
người nghèo nhập cư Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội .......................................... 67
Bảng 2.10: Nội dung sinh hoạt nhóm của người nghèo nhập cư .................... 72
phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội ................................................................ 72

kể mà không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, CNH- HĐH cũng kéo theo nhiều
hệ quả phát sinh không mong muốn. Không chỉ những vùng đặc biệt khó
khăn như nông thôn, miền núi, vấn đề nghèo đói hay tiếp cận các thông tin
các dịch vụ xã hội mới là một vấn đề nan giải mà ngay chính tại trung tâm các
thành phố lớn, chúng cũng là vấn đề lớn trong việc đảm bảo chất lượng cuộc
sống của người dân. Tại các đô thị lớn, vấn đề khó khăn trong tiếp cận thông
tin các dịch vụ xã hội gặp phải nhiều nhất ở đối tượng người nghèo nhập cư.
Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đã đưa những người dân từ vùng quê
nghèo lên thành phố lớn để mưu sinh, kiếm thêm thu nhập. Dù ngay ở nơi
nhộn nhịp và phát triển nhất họ cũng không thể hoặc rất khó khăn trong tiếp
cận thông tin các dịch vụ xã hội vì nhiều vấn đề tác động như điều kiện kinh
tế,…Những người nghèo nhập cư nghèo với những đặc điểm như nghề nghiệp
không ổn định, trình độ học vấn thấp và không có nhà cửa… đã và đang thực
sự phải đối mặt với nhiều nguy cơ. Thực trạng này thể hiện rõ nét nhất tại hai
thành phố lớn nhất cả nước là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 với mục đích thu thập số
liệu về dân số và nhà ở nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và phân tích xu
hướng phát triển dân số của cả nước cũng như các địa phương cho thấy rằng
số người di cư giữa các tỉnh năm 1989 là 1.349.291 người (chiếm 2,5%), năm
1999, là 2.001.408 người (chiếm 2,9%); và đến thời điểm năm 2009 con số
này lên đến 3.397.904 người (chiếm 4,3%). Xu hướng gia tăng di cư cả về số
lượng và tỉ lệ người di cư được quan sát thấy trong hai thập kỉ qua, nhưng xu
hướng gia tăng này chỉ nổi bật rõ rệt trong vòng một thập kỷ vừa rồi. Theo
như dự báo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2019, số người di cư giữa các
tỉnh sẽ lên đến 6 triệu người. [8]
Số lượng và tỉ lệ người di cư đều tăng nhanh chóng trong thời gian vừa
7


qua và khó kiểm soát đã kéo theo hàng loạt những hệ lụy không mong muốn.



vụ thì dân số đang sống ở Hà Nội trên khoảng 8 triệu người. Mật độ dân số
tập trung rất cao ở các quận nội thành, nhất là 4 quận nội thành cũ (Ba Đình,
Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa). Xu thế chung trong những năm tới là
số lượng người lao động ngoại tỉnh nhập cư vào Hà Nội vẫn tăng lên một
cách nhanh chóng.[23]
Phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội là phường có chợ
đầu mối Long Biên đóng trên địa bàn, thu hút một lượng lớn người lao động
nhập cư từ các nơi trên cả nước về đây. Nhiều vấn đề của người lao động
nhập cư nảy sinh theo đó. Bị hạn chế trong việc tiếp cận thông tin, đặc biệt là
thông tin về các dịch vụ xã hội là một trong số những vấn đề của người lao
động nghèo nhập cư. Vấn đề này đặt ra bài toán nan giải với các cấp chính
quyền phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội.
CTXH có ba phương pháp chính: CTXH cá nhân, CTXH nhóm và Phát
triển cộng đồng. Mỗi phương pháp CTXH đều mang lại những hiệu quả và
được sử dụng trong những trường hợp khác nhau. CTXH nhóm được công
nhận là một phương pháp của nghề CTXH chuyên nghiệp trên nền tảng cơ sở
các khoa học để giải quyết vấn đề của thân chủ; thân chủ trong CTXH và
CTXH nhóm đa dạng ở nhiều lĩnh vực; chương trình đào tạo CTXH nhóm có
ở nhiều các cấp bậc khác nhau. Phương pháp này đã bắt nguồn từ rất lâu trong
văn hóa tương thân thương ái với các hoạt động nhóm mang tính hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau trong khó khăn, chưa có tính chuyên nghiệp của CTXH nhóm.
Nhóm trong CTXH (VD: nhóm chị em phụ nữ bị bạo lực gia đình xã A, nhóm
trẻ mồ côi nhiễm HIV/AIDS, nhóm NVXH, nhóm tình nguyện viên, nhóm
chuyên môn thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ,…) được thành lập, sinh hoạt thường
kỳ dưới sự điều phối của NVXH/ thành viên trong nhóm và sự trợ giúp của
NVXH. Ngày nay, các nhóm tự lực, đồng đẳng trong các thân chủ của CTXH
đã hình thành, nhằm tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm,
nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và

các đô thị này. Chính vì vậy, đây là vấn đề được rất nhiều quan tâm nghiên
cứu không chỉ của quốc gia mà còn của các cá nhân đối với sự phát triển đô
thị và đời sống người nghèo.

10


Trong nghiên cứu về “Di cư tự do đến Hà Nội- Thực trạng và giải pháp”
của PGS.TS. Hoàng Văn Chức, 2003 có đề cập đến tính hình di cư của người lao
động trong những năm 1980– 1990. Chỉ ra những nguyên nhân của di cư xuất
phát từ sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Nghiên cứu cũng đặc biệt nhấn
mạnh đến thực trạng di dân tự do đến Hà Nội và những ảnh hưởng của di dân tự
do đến môi trường, đến cơ sở hạ tầng của thành phố, đến việc quản lý nhân khẩu,
các tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội …- những vấn đề đang ngày càng trở nên
nan giải hơn khi dòng người đổ xô về đô thị ngày càng nhiều.
Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ có bài viết “Chiều cạnh giới của di cư lao
động thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của GS.TS Đặng Nguyên Anh, 2005, xem
xét đặc trưng của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân
lao động nữ ra đô thị và đến các khu công nghiệp, chế xuất. Bài viết cho thấy sự
gia tăng về quy mô, tỷ trọng cũng như các loại hình di cư nữ, đặc biệt đến khu vực
thành thị, các khu công nghiệp là một thực tế khách quan phản ánh quy luật phát
triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bên cạnh đó là những bất cập,
những khó khăn trở ngại mà phụ nữ phải đối diện trong quá trình di cư khi mà các
chính sách, môi trường xã hội và pháp lý chưa tạo điều kiện để đảm bảo quyền lợi
cho họ.
Chuyên đề nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam”
của Tổng cục thống kê thực hiện năm 2006. Nghiên cứu này quan tâm xem xét tác
động của di cư với bản thân những người di cư. Chất lượng cuộc sống của người
di cư được đề cập trong báo cáo này đã mô tả các yếu tố quyết định sự thành công
của di cư (cả khách quan và chủ quan) liên quan tới thu nhập, nhà ở, phúc lợi và

tế, nhà ở, việc làm, điện, nước, BHXH, nước sinh hoạt, chế độ hưu trí cho người
nghèo tại khu vực đô thị. Nghiên cứu đưa ra so sánh mức độ tiếp cận dịch vụ xã
hội của các nhóm người sinh sống và làm việc tại đô thị: nhóm người nghèo,
nhóm cận nghèo, nhóm trung bình, nhóm khá, nhóm giàu. Từ đó đưa ra những
nhận định chuẩn xác nhất về thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người
nghèo đô thị.
Các nghiên cứu trên đều cho thấy đặc điểm, thực trạng, nguyên nhân của
quá trình di cư nói chung cũng như nhập cư vào các đô thị lớn nói riêng, trong
đó có Hà Nội. Nhưng các báo cáo, tài liệu, nghiên cứu trên đều chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu thực trạng, một số những khó khăn của người nghèo tại đô thị
12


và đưa ra những đề xuất mà chưa đi sâu nghiên cứu vai trò, tác động và những
hiệu quả của mô hình Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ người nghèo
nhập cư.
Từ thực trạng trên, trong giới hạn cho phép, tôi xin thực hiện đề tài
nghiên cứu, tìm hiểu Trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội tiếp
cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp Công tác xã hội nhóm (Điển
cứu tại phường Phúc Xá- quận Ba Đình- thành phố Hà Nội). Đề tài sẽ đi sâu
vào nghiên cứu thực trạng cuộc sống của người nghèo nhập cư tại đô thị, thực
trạng tiếp cận thông tin về các dịch vụ xã hội; những nhu cầu, mong muốn
của họ và những hoạt động Công tác xã hội nhóm trong trợ giúp người nghèo
nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội (điển cứu tại địa bàn phường Phúc
Xá- Ba Đình- Hà Nội). Từ đó có những khuyến nghị, thử nghiệm mô hình
phù hợp nhằm hỗ trợ người nghèo nhập cư tăng cường khả năng tiếp cận
thông tin về các dịch vụ xã hội.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng cuộc sống của người

4.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội
tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội thông qua phương pháp Công tác xã hội
nhóm; bên cạnh đó, thử nghiệm mô hình Công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp
nhóm người nghèo nhập cư tại đô thị tăng cường khả năng tiếp cận thông tin
về các dịch vụ xã hội tại nơi nhập cư.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về người nghèo nhập cư, phương pháp CTXH
nhóm trong hỗ trợ người nghèo nhập cư.
- Khảo sát đánh giá thực trạng cuộc sống của người nghèo nhập cư tại đô
thị; thực trạng tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội; nhu cầu, mong muốn của
nhóm người này trong việc tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội tại nơi nhập cư
đến và thực trạng CTXH nhóm trong trợ giúp người nghèo nhập cư tiếp cận
thông tin dịch vụ xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
- Thử nghiệm phương pháp CTXH nhóm với người nghèo nhâp cư trong
tiếp cận thông tin.
14


5. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về việc trợ giúp người nghèo nhập cư thành phố Hà Nội
tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội qua phương pháp công tác xã hội nhóm.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Nhóm người nghèo nhập cư hiện đang sinh sống và làm việc tại đô thị.
- Cán bộ địa phương nơi mà có người nghèo nhập cư sinh sống và làm
việc được chọn nghiên cứu.
6. Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: khu vực phường Phúc Xá - quận Ba Đìnhthành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015.

nghiên cứu, tiến hành xem xét các thông tin có sẵn trong tài liệu để có cái
nhìn tổng quan về vấn đề. Đồng thời phục vụ cho mục đích tổng hợp thông tin
và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất.
Trong vấn đề này, người nghiên cứu tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu
liên quan tới người nghèo nhập cư tại đô thị, cụ thể đó là các chương trình
quản lý, các chương trình nghiên cứu, báo cáo về tình trạng người nghèo nhập
cư ở đô thị, nghiên cứu sâu tại thành phố Hà Nội.
9.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phỏng vấn bằng bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong nhận thức
thực nghiệm, nó là sự thể hiện bên ngoài của chương trình nghiên cứu. Bảng
hỏi là một hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở logic bảo đảm theo
nội dung của vấn đề nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể
hiện quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và
người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các
yêu cầu của đề tài, mục tiêu và nội dung nghiên cứu.
Đề tài xây dựng bộ công cụ bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là
người nghèo nhập cư, với các câu hỏi nhằm khai thác thông tin phục vụ cho
việc tổng hợp số liệu nghiên cứu.
Nội dung bảng hỏi gồm các thông tin:
- Đặc điểm nhân khẩu: giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, …
16


- Đặc điểm đời sống xã hội của người nghèo nhập cư: lịch sử nhập cư
của người nghèo nhập cư; đặc điểm nhà ở và điều kiện sống cơ bản, chăm sóc
sức khỏe, y tế, giáo dục, hoạt động nhóm và nhu cầu của người nghèo nhập
cư; thực trạng những trợ giúp từ phía chính quyền, đoàn thể, các tổ chức phi
lợi nhuận trong hỗ trợ người nghèo nhập cư tiếp cận thông tin dịch vụ xã hội
bằng phương pháp Công tác xã hội nhóm.
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: nghiên cứu trên số lượng mẫu 150 người


5

9.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Người nghiên cứu vận dụng các kỹ năng trong phương pháp thảo luận
nhóm nhằm thu thập các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu luận
văn. Phương pháp thảo luận nhóm được thực hiện trên 2 nhóm nhỏ, mỗi
nhóm gồm 3 người nghèo nhập cư hiện đang sinh sống và làm việc trên địa
bàn phường Phúc Xá- Ba Đình- Hà Nội.
9.5. Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin quan trọng được sử dụng trong suốt
quá trình nghiên cứu, được thực hiện qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn khảo
sát, thu thập thông tin cho đến tiến hành hỗ trợ và kết thúc.
Mục đích của phương pháp này nhằm thấy được thực tiễn cuộc sống của
người dân nghèo nhập cư nơi đô thị lớn và những ảnh hưởng của việc thiếu
17


thông tin dịch vụ xã hội như việc làm, nơi ở, giáo dục, y tế,... Phương pháp
quan sát giúp tăng tính xác thực của đề tài nghiên cứu.
9.6. Phương pháp xử lý số liệu SPSS
Sau khi tiến hàng khảo sát bằng bảng hỏi, người nghiên cứu thực hiện
các kỹ năng như làm sạch phiếu hỏi, tổng hợp, mã hóa và xử lý số liệu trên
phần mềm SPSS.150 mẫu điều tra được thu thập, tổng hợp và xử lý trên phần
mềm SPSS nhằm đưa ra được thực trạng về những khía cạnh cần nghiên cứu.
10. Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung,
phần kết luận. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của Luận
văn gồm ba chương. Nội dung chính tập trung trong ba chương.
Kết cấu đề tài nghiên cứu như sau:

cac chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng
lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, quyền
phát ngôn và quyền lực.
Ở Việt Nam, theo định nghĩa trước năm 1995, của tác giả Phạm Hữu
Khải: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang
bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
 Dù có nhiều đặc trưng nhưng các khái niệm, quan niệm về nghèo
đói trên hầu như đều phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: Không được thụ
hưởng những mức sống cơ bản dành cho con người; có mức sống thấp hơn

19


mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia
trong quá trình phát triển cộng đồng.
Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo): là mức chi dùng tối thiểu, được xác định
như tổng tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm
một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để
bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản
chi bắt buộc khác.
* Nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều:
Nghèo đơn chiều: Là tình trạng nghèo được tính dựa trên chuẩn nghèo
của Ngân hàng thế giới/ Tổng cục Thống kê, hoặc chuẩn nghèo thu nhập của
chính phủ. Tức là dựa trên mức thu nhập của cá nhân/ hộ gia đình hoặc mức
chi tiêu dể đánh giá mức độ nghèo đói.
Nghèo đa chiều: Là tình trạng nghèo được xem xét dựa trên nhiều
phương diện không chỉ về thu nhập, chi tiêu mà còn về nhiều phương diện
khác như nguồn nhân lực, điều kiện sống, vốn xã hội và khả năng tiếp cận các
dịch vụ công…cùng nhiều tiêu chí khác. Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ánh

hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 trên
địa bàn. Cụ thể, tại khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ
750.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo, còn tại nông thôn là
550.000 đồng/ người/ tháng trở xuống. Hộ cận nghèo tại khu vực cận thành
thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 751.000 đến 1.000.000 đồng/
người/ tháng. Hộ cận nghèo tại nông thôn sẽ là những hộ có mức thu nhập
bình quân từ 551.000 đồng/ người/ tháng đến 750.000 đồng/ người/ tháng.
1.1.1.2. Khái niệm người nghèo
Theo tác giả cổ Trung Quốc cho rằng, người nghèo là: "Những người
vẫn đang còn phải lo toan cho bữa ăn đó là người nghèo, cuộc sống đối với
người nghèo chỉ là sinh tồn mà thôi".

21


Tại hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về người nghèo như
sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 Đô la (USD) mỗi
ngày, số tiền được coi là đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.”
 Từ các quan niệm và định nghĩa về nghèo đã đề cập ở trên và những
quan điểm về người nghèo, ta có thể đưa ra những quan điểm về người nghèo
như sau: Người nghèo là những người có mức sống dưới mức trung bình của
cộng đồng xung quanh. Họ có thu nhập thấp, không ổn định và không có khả
năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội.
Trong khuôn khổ của luận văn Thạc sỹ, căn cứ vào chuẩn nghèo giai
đoạn 2011- 2015 của Thủ tướng Chính phủ, ta có thể rút ra một khái niệm về
người nghèo ở Việt Nam như sau: Người nghèo là những người có thu nhập
thấp dưới mức chuẩn nghèo của Chính phủ. Tức là người có thu nhập bình
quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng trở xuống đối với nông thôn và từ
500.000 đồng/ người/ tháng trở xuống ở thành thị (theo Chuẩn nghèo giai

ở cả nơi đi và nơi đến.
 Phân loại nhập cư:
Phân loại theo mục đích nhập cư: nhập cư để học tập, nhập cư để làm
việc và nhập cư với mục đích khác.
Phân loại theo khu vực: nhập cư từ các địa phương trong nước và nhập
cư giữa các nước khác nhau.
1.1.3. Khái niệm dịch vụ xã hội, thông tin dịch vụ xã hội
1.1.3.1. Dịch vụ xã hội
“ Dịch vụ” thường được đề cập đến là một trong ba khu vực của nền
kinh tế, cùng với Nông nghiệp và Công nghiệp. Trong cơ cấu của một nền
kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì
vậy, có nhiều tài liệu nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau
của dịch vụ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trên thế giới chưa có một định nghĩa
thống nhất nào được công nhận, điều này bắt nguồn từ tính phong phú, đa
dạng và khó nắm bắt của các loại hình dịch vụ. Bên cạnh đó, các quốc gia
khác nhau với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cũng có những
cách hiểu khác nhau về dịch vụ.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status