Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------------

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ
HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI
VEN BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------------

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ
HỘI CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI
VEN BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số

: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

2.2.3. Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát
triển nông nghiệp bền vững. .............................................................................29
2.3. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

31

3.1. Đánh giá thực trạng và tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi
trường tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển Hà Tĩnh........................................31


3.1.1. Đánh giá các yếu tố về tự nhiên ...............................................................31
3.1.2. Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội tác động lên dải ven biển Hà Tĩnh .......42
3.1.3. Nhận xét chung.......................................................................................53
3.2. Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh
tác nông nghiệp hiện có ở dải ven biển Hà Tĩnh....................................................56
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất của vùng nghiên cứu ............................................56
3.2.2. Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất ....................................................58
3.2.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại sử dụng đất......65
3.2.4. Đánh giá mức độ thích hợp của vùng nghiên cứu với các loại sử dụng đất
chính ...............................................................................................................76
3.3. Đề xuất các giải pháp để khai thác sử dụng bền vững đất ven biển của tỉnh Hà
Tĩnh....................................................................................................................78
3.3.1. Cơ sở khoa học đề xuất sử dụng dải ven biển Hà Tĩnh..............................78
3.3.2. Cơ sở lựa chọn các loại sử dụng đất bền vững ..........................................79
3.3.3. Kết quả đề xuất sử dụng bền vững đất cát ven biển tỉnh Hà Tĩnh...............80
3.3.4. Giải pháp thực hiện các đề xuất: ..............................................................83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................90


Bảng 26: Hiệu quả kinh tế của LUT 6.........................................................................70
Bảng 27: Hiệu quả kinh tế LUT 7...............................................................................70
Bảng 28: Hiệu quả kinh tế LUT 9...............................................................................73
Bảng 29: Tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất.................................74
Bảng 30: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất ............................74
Bảng 31: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất ....................................75
Bảng 32: Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất......................................................76
Bảng 33: Kết quả phân hạng thích hợp đất cát ven biển tỉnh Hà Tĩnh .............................77
Bảng 34: Đề xuất sử dụng bền vững đất ven biển tỉnh Hà Tĩnh ......................................80

DANH MỤC HÌNH
Hình 1 : Sơ đồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững.............................................7
Hình 2: Bản đồ đất dải ven biển Hà Tĩnh .................................................................38
Hình 3: Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2010 – 2012 ...........................44
Hình 4: Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp 2008 -2012 ..................................................45
Hình 5: Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm.....................................................................52
Hình 6: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất dải ven biển Hà Tĩnh.....................................57
Hình 7: Bản đồ đề xuất sử dụng đất dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh ..................................81



MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Dải ven biển miền Trung Việt Nam đang sở hữu một khu hệ sinh vật khá
phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thái, thích nghi cao độ với kiểu sinh
thái khắc nghiệt tại đây. Nhiều mô hình sinh thái tự nhiên dạng núi cát, rẻo cây chứa
đựng trên dưới 100 loài cây thân gỗ có khả năng khoanh nuôi, các vùng rừng ngập
mặn, cửa sông, thảm thực vật ven biển,... là môi trường sống cho rất nhiều sinh vật
mà nơi khác không có.
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, là một địa bàn nhạy

- Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển Hà
Tĩnh.

\


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Dải ven biển
Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ
biển,…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về
nguồn phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến
hóa,... Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về dải ven biển
và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và khoa học kinh tế
[8]. Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương thuật ngữ “dải ven biển” là:
- Nga: Vùng duyên hải
- Pháp: Vùng ven biển (Littoral hoặc Côte)
- Anh: Vùng ven biển (Coastal zone)
- Trung Quốc: Vùng diên hải hay Vùng duyên hải.
Theo Word Bank thì vùng ven biển (Coastal zone) là nơi chuyển tiếp giữa đất
và đại dương, bao gồm môi trường bờ và nước biển. Thành phần của nó có thể bao
gồm vùng đồng bằng ven sông, đồng bằng ven biển, vùng đất ngập nước, bãi biển, cồn
cát, rạn san hô, rừng ngập mặn, đầm phá, khác tính năng ven biển.[27]
Khái niệm vùng bờ: Vùng bờ biển (coastal area), gọi tắt là vùng bờ, là mảng
không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác giữa quá
trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chảy và thuỷ triều), giữa
các hệ thống tự nhiên (natural system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con
người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ (hoặc tài nguyên
bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc

biển nước ta, các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về dải
ven biển và các phương án khác nhau để xác định ranh giới của dải ven biển khác. Sau
đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trong các báo cáo khoa học của Ủy ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),
GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chương trình điều tra nghiên cứu biển
của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “Vùng


ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và
thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước,…” Theo cách hiểu như
trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ
biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu
kinh tế - xã hội và dân cư rất thuận lợi. Song cũng có những hạn chế, vì những hiện
tượng và đối tượng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại
không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính. Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng
giới hạn nhiễm mặn của đất và nước làm ranh giới của vùng ven biển.[10]
Trong đề tài “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy
hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005”, mã số 48B.06.02, do Viện Kế hoạch dài hạn
và phân bố LLSX thực hiện (1986 - 1990), các tác giả đã xác định Vùng ven biển bao
gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các huyện ven
biển (từ Bắc xuống Nam có 105 huyện ven biển thuộc 24 tỉnh thành và đặc khu trong
đó có 3 thành phố thị xã và 5 huyện đảo, với diện tích 5,9 triệu ha, bằng 18,1% diện
tích lãnh thổ cả nước) và phần trên biển gồm toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam (trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m trở vào).
Trong đề tài KT.06.07 “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp vùng
bờ biển Việt Nam, góp phần đảm bảo an toàn môi trường và phát triển bền vững”
thuộc Chương trình điều tra nghiên cứu biển giai đoạn 1996 - 2000 do Phân viện Hải
dương học tại Hải phòng thực hiện (1996 - 2000), các tác giả đã đưa ra một khái niệm
tổng quát về đới bờ biển (hay dải ven biển) như sau: đới bờ biển là một khu vực chuyển
tiếp giữa lục địa và biển, một đới rộng và nhạy cảm và là một hệ thống tự nhiên đặc

Johannesbug đã xác định:
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài
hòa giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã
hội và môi trường (Hình 1).[15]


Hình 1 : Sơ đồ giải thích khái niệm Phát triển bền vững
Hiện nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của WB được sử dụng rộng rãi
hơn cả: “Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng được những nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”.
1.1.2.2. Cơ sở của Phát triển bền vững
Cơ sở của phát triển bền vững là giảm hết mức việc làm cạn kiệt tài nguyên môi
trường: đất, nước ngọt, các thủy vực, khoáng sản,… Đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng
tài nguyên không tái tạo được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc
thay thế chúng.
Bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loài động vật, thực
vật nuôi trồng cũng như hoang dã. Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng quản lý phương
thức và mức độ sử dụng, làm cho các nguồn tài nguyên vẫn còn có khả năng hồi phục.
Duy trì các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo cho cuộc sống cộng đồng và nên nhớ
rằng sức chịu đựng của các hệ sinh thái trên Trái đất là có hạn.
Nếu có điều kiện thì duy trì các hệ sinh thái tự nhiên. Hoạt động trong khả năng
chịu đựng của Trái đất. Phục hồi lại môi trường đã bị suy thoái, giữ gìn sự cân bằng
các hệ sinh thái.[15]
1.1.2.3. Các chỉ tiêu phát triển bền vững


Để so sánh, nhận xét, đánh giá mức độ phát triển bền vững có thể sử dụng một
số chỉ tiêu mang tính định lượng.
Có thể phân thành hai nhóm chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống: đó là các chỉ tiêu phát triển con người

Mục tiêu để sử dụng đất theo những cách đảm bảo thu được những lợi ích lâu
bền nhất. Cách để làm giảm thiểu các mâu thuẫn và đạt được kết quả tốt nhất là liên kết
để phát triển kinh tế và xã hội với vấn đề củng cố và bảo vệ môi trường.
Quản lý đất bền vững tùy thuộc vào từng loại đất cụ thể. Ở những nơi đất ổn
định, phì nhiêu thì việc trồng cây và quản lý canh tác sẽ theo phương thức bền vững, bù
đủ lượng dinh dưỡng trong các sản phẩm thu hoạch và cây trồng mang theo. Còn
những vùng đất xấu cần xác định những phương thức quản lý và sản xuất thích hợp.
Biện pháp quản lý đất bền vững nhằm tránh sự thoái hóa đất, duy trì độ phì chính dựa
vào Quy trình quản lý tốt nhất (Best Management Practice - BMP). Quy trình này bao
gồm:
- Bảo vệ cấu trúc đất và hàm lượng hữu cơ của đất
- Quản lý dinh dưỡng
- Bảo vệ đất bằng cây che phủ
- Trồng rừng
- Duy trì độ phì đất
Sử dụng những phương pháp canh tác tiến bộ (làm đất và sử dụng máy móc,
đặc biệt ở những vùng dễ bị tổn thương) và các quy trình gieo trồng thích hợp.
- Quản lý sâu bệnh bền vững:
Quản lý sâu bệnh là vấn đề sinh thái thực hiện theo Quy trình phòng trừ dịch hại
tổng hợp (IPM). IPM là phương pháp dựa trên cơ sở sinh thái về mối quan hệ cây trồng
- dịch hại để kiểm soát côn trùng, cỏ dại; xây dựng ngưỡng chấp nhận kinh tế về quần
thể gây hại và hệ thống quan trắc ổn định để phát hiện dự báo dịch hại. Chương trình
này gồm nhiều kỹ thuật như: sử dụng các giống kháng/giống chịu luân canh; các kỹ


thuật trồng trọt; tối ưu việc sử dụng phòng trừ sinh học; sử dụng hạt giống công nhận;
xử lý hạt giống; sử dụng hạt giống/vật liệu nhân giống sạch bệnh; điều chỉnh thời vụ
gieo trồng; hợp lý về thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; làm vệ sinh đồng ruộng
khi bị nhiễm sâu bệnh,...
- Quản lý công nghệ sinh học:

cửa sông, đầm phá, các hệ sinh thái,…
- Có mối tương tác và quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần bên trong hệ (hay các
quá trình nội tại của hệ).
- Có hệ sinh thái rất đa dạng và tài nguyên thiên nhiên phong phú, tạo điều kiện
để phát triển đa ngành, nhưng cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa các ngành trong
việc khai thác sử dụng tài nguyên.
- Là khu vực tập trung dân cư đông đúc và có các hoạt động kinh tế - xã hội rất
sôi động.
- Có chức năng to lớn về môi trường và sinh thái nhưng rất nhạy cảm, dễ bị tác
động và tổn thương.
Có thể nói dải ven biển là một khu vực thường xuyên biến đổi, hết sức nhạy
cảm đối với các tác động tự nhiên cũng như tác động của con người. Mọi hoạt động
kinh tế - xã hội của con người diễn ra ở ngoài biển và trên các khu vực lân cận trong
chừng mực nhất định đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên dải ven biển.[15]
1.2.1.1. Địa chất:
Đặc điểm địa chất của dải ven biển Việt Nam khá phức tạp. Mặc dù diện tích
không lớn nhưng ở đây có mặt hầu như tất cả các thành tạo địa chất của lãnh thổ Việt
Nam với tuổi từ cổ đến trẻ nhất. Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo có thể chia dải ven biển
Việt Nam thành 6 vùng địa chất sau:
- Vùng Đông Bắc Bắc Bộ: chủ yếu là đá trầm tích trung sinh, trong đó có trầm
tích chứa than điệp Hòn Gai; đá vôi Devon và các Cacbon-pecmi; phương cấu trúc theo
hướng Đông - Bắc.
- Vùng đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa: chủ yếu là các trầm tích bở rời đệ tứ,
phương cấu trúc địa chất cắt gần thẳng góc với đường bờ.


- Vùng Bắc Trung Bộ: có trầm tích Đệ tứ tại các đồng bằng ven biển và các đá
Cổ sinh, Trung sinh ở vùng đồi núi; phương cấu trúc cắt đường bờ thành một góc nhọn.
- Vùng Trung Trung Bộ: có các đá biến chất nguyên sinh và cổ sinh hạ, trầm
tích trẻ phân bố hạn chế; phương cấu trúc phức tạp, bị đường bờ biển cắt với các góc

nhóm địa hình đồng bằng rìa miền nâng thường nhỏ hẹp, song có thể phát triển đa dạng
các loại cây trồng như: cây lương thực, cây công nghiệp, rau, màu các loại,… Tuy
nhiên đối với nhóm địa hình này cần có các biện pháp để hạn chế quá trình rửa trôi (do
lũ), thoái hóa đất và chống cát bay, cát nhảy…
- Nhóm địa hình bãi biển và bờ (gồm 6 kiểu): chịu tác động trực tiếp của biển
thông qua dao động của mực nước thủy triều được xếp vào nhóm địa hình bãi, bị ngập
nước lúc triều lên và phơi ra lúc triều rút. Nhóm địa hình này có khả năng nuôi trồng
thủy hải sản (tôm, cá nước lợ, rau câu,…) và xây dựng các cơ sở du lịch - nghỉ dưỡng,
song cần chú ý đến vấn đề cấp nước ngọt.[17] [18]
1.2.1.3. Khí hậu
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động đan xen
nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, hoàn lưu gió mùa, sự tương tác biển – lục địa, điều kiện
địa hình, đặc điểm đường bờ biển,… dải ven biển Việt Nam có khí hậu rất đặc sắc của
chế độ khí hậu miền duyên hải với sự phân hóa rõ rệt của chế độ nhiệt và chế độ mưa
ẩm.
a. Chế độ nhiệt
Dải ven biển Việt Nam nằm trải dài trên 15 vỹ độ (từ 800 – 2300 vỹ Bắc) nên
chế độ nhiệt bị phân hóa mạnh theo không gian và thời gian. Nhiệt độ không khí trung
bình năm dao động từ 23oC - 24oC ở phía bắc và khoảng 24oC - 26oC ở phía nam.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối thay đổi không lớn, cao nhất đạt 42,1oC ở ven biển Nam
Trung Bộ và giảm xuống 38oC về phía Bắc Bộ và Nam Bộ (Bảng 1).[11]
Về mùa đông, do hoạt động của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ không khí hạ thấp
một cách rõ rệt làm cho nền nhiệt ở ven biển phía Bắc Vịnh Bắc Bộ giảm đáng kể. Tại
đây hàng năm có tới 3 tháng lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 18oC ). Ven biển từ
Thanh Hóa trở vào đến Bắc Đèo Ngang chỉ có 1 - 2 tháng lạnh và ven biển từ Quảng
Bình đến Bắc đèo Hải Vân không có tháng lạnh nào.
Bảng 1: Nhiệt độ không khí khu vực ven biển Việt Nam


Khu vực ven biển


4. Từ Ninh Thuận – Cà Mau

25,90C

12,40C

38,40C

5. Từ Cà Mau – Hà Tiên

27,10C

14,80C

38,00C
[Niên giám thống kê 2012]

b. Chế độ gió
Dải ven biển Việt Nam chịu ảnh hưởng đồng thời của gió mùa Đông Bắc về
mùa đông (chủ yếu từ Móng Cái tới Hải Vân) và gió mùa Tây Nam về mùa hè (chủ
yếu từ Đà Nẵng trở vào). Gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu vào tháng 10 và kết thúc
vào tháng 3 năm sau; gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 8. Các tháng 4 và 9 được
coi là thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa gió. (Bảng 2)
Bảng 2: Đặc trưng gió dải ven biển Nghệ An - Thừa Thiên Huế
Tiểu
Đặc
vùng trưng gió 1
Nghệ Hướng
TB

2,8

2,6 2,5

2,7 2,7 3,1 2,6

2,5 2,8

3,0

2,8 2,8

14

16 20

20 20 25

33 30

21

17

25

48

[Niên giám thống kê 2012]


biển
Lượng mưa Số ngày Lượng mưa Lượng mưa Các tháng Các tháng
TB năm mưa trong lớn nhất
nhỏ nhất
mùa mưa mưa không
(mm)
năm
(mm)
(mm)
(>100mm) tập trung
Nghệ An 2.325
142
4.937
1.448
5 - 12
9 - 11
Thừa Thiên
Huế
[Niên giám thống kê 2012]

1.2.1.4. Thủy văn
Khu vực ven biển Bắc Trung Bộ gồm hàng loạt các đồng bằng nhỏ kế tiếp nhau.
Do địa hình đồi núi kề ngay gần đồng bằng nên ảnh hưởng của thủy triều đến các sông
trong vùng không lớn. Chế độ triều phức tạp, biên độ triều trung bình từ 1,2 - 2,5m , tốc
độ truyền triều không lớn, mặt khác các sông ở đây thường hẹp, ngắn và dốc nên nên


sự tiết giảm của triều dọc sông diễn ra nhanh. Nhìn chung, khu vực ven biển Bắc Trung
Bộ có dòng chảy mặt khá dồi dào. Mô đun dòng chảy dao động từ 30 - 50l/s km2, cá
biệt ở Huế, mô đun dòng chảy đạt xấp xỉ 60 - 70l/s km2, thuộc loại lớn nhất trong khu

Huế, Quảng Ngãi, Phú Yên đất được hình thành trên sự bồi đắp phù sa của các sông
Mã, sông Lam, sông Kiên Giang, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông Vệ và sông Ba.
Nhìn chung, đất sét có sự phối hợp rất hài hòa giữa các cấp hạt với một tỷ lệ sét
vừa phải (khoảng 20 - 25%) và tỷ lệ limon thích hợp (cấp hạt 0,05 - 0,01mm chiếm
khoảng 50%). Đất có thành phần cơ giới thường là thịt nhẹ, ít chua tới trung bình, độ
pH từ 6,0 - 6,5. Đặc điểm nổi bật của đất phù sa là giàu cation kiềm thổ (Ca và Mg),
phổ biến là lớn hơn 100lđl/100g đất, nên độ no của đất luôn cao. Lân trong đất khá
giàu, trung bình đạt 0,11% - 0,15%. Đây là loại đất màu mỡ của dải ven biển, thích hợp
với nhiều loại cây trồng. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác trên đất này cần tính toán
kỹ thời vụ gieo trồng.
d. Nhóm đất xám – bạc màu
Đất xám – bạc màu có diện tích 381,7 ngàn ha, thường phân bố ở các vùng tiếp
giáp giữa đồng bằng phù sa mới và vùng đồi trên các thềm bậc hai hoặc ba, hoặc trên
các dốc tụ, thường rửa trôi theo bề mặt và chiều sâu. Đất thường có độ chua pH (ít khi
vượt quá 4,7 ở tầng đất mặt), nghèo đạm, lân, kali. Tỷ lệ C/N ở tầng mặt thường lớn
hơn 12. Đất này cần được cải tạo bằng nhiều biện pháp kỹ thuật tổng hợp, tăng cường
bón phân hữu cơ, bón vôi, phân khoáng kết hợp với cày sâu hợp lý và áp dụng chế độ
luân canh có cây họ đậu.
e. Nhóm đất lầy và đất than bùn
Đất lầy có diện tích không lớn chỉ 66,9 ngàn ha, tập trung chủ yếu từ các vùng
đồi ven biển từ Thanh Hóa đến Quảng Bình và Phú Yên, nơi có mực nước ngầm cao
và thường xuyên bị ngập nước. Đất bị bí không có tầng đế cày, chua, nghèo lân. Đất
lầy là loại đất có độ phì nhiêu tiềm tàng cao, nhưng cần được cải tạo bằng biện pháp
tiêu nước và bón vôi, lân cho đất.
Tầng than bùn ở đất than bùn dày từ 50cm đến 120cm, được hình thành do sự
tích tụ xác lá cây, cỏ lâu ngày. Đất thường bị glay mạnh, bí, quá trình phân giải chất
hữu cơ rất chậm, có phản ứng chua hoặc rất chua, rất giàu hữu cơ. Đất than bùn có thể
khai thác làm phân hữu cơ bón cho cây trồng.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status