Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần giám định năng lượng việt nam - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được
nêu rõ nguồn gốc.
Tác giả

Đoàn Thị Phương Thảo

LỜI CẢM ƠN
i


Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Quý thầy cô đã giảng dạy
trong chương trình Đào tạo Thạc sỹ ngành Quản lý Kinh tế khóa 2014-2016 của
Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Đỗ Thị Mai Thơm đã
nhiệt tình hướng dẫn trong thời gian thực hiện luận văn này.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân
viên Công ty CP Giám định Năng lượng Việt Nam (EIC) đã giúp đỡ và cung cấp
các thông tin, số liệu để tác giả hoàn thành luận văn của mình.
Mặc dù đã hết sức cố gắng song do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn
vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự quan tâm, tham gia góp
ý, xây dựng của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tác giả

Đoàn Thị Phương Thảo

Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ tiêu kinh doanh của Công ty EIC từ năm

34

2011-2015
Bảng 2.2: Số lượng các vụ giám định của Công ty EIC từ năm 2011-

39

2015
Bảng 2.3: Chỉ tiêu doanh thu của Công ty EIC từ năm 2011-2015

43

Bảng 2.4: Chỉ tiêu chi phí của Công ty EIC từ năm 2011-2015

47

Bảng 2.5: Lợi nhuận của Công ty EIC từ năm 2011-2015

51

Bảng 2.6: Hiệu quả kinh doanh của Công ty EIC từ năm 2011-2015

53

Bảng 2.7. Ma trận SWOT của Công ty EIC

57



Hình 2.7: Biểu đồ Tỷ lệ chi phí của Công ty EIC năm 2015

48

Hình 2.8: Biểu đồ Lợi nhuận của Công ty EIC từ năm 2011-2015

51

Hình 2.9: Biểu đồ Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty EIC

54

từ năm 2011-2015

v


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế mang tính chất khu vực
hóa và toàn cầu hóa, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Thêm
vào đó sự bất ổn định của nền kinh tế, giá cả leo thang của nhiều mặt hàng sản
phẩm, cùng với sự biến động của tỷ giá lãi suất, tỷ giá ngoại tệ... đã ảnh hưởng đến
nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động SXKD của các doanh nghiệp nói
riêng.
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp, do đó nó
trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển được đòi hỏi phải có khả năng nhận biết và phát huy tốt nhất năng lực
của mình để xây dựng được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và ngày càng nâng cao

hợp và khái quát vấn đề nhằm xác định ảnh hưởng, vai trò và tầm quan trọng của
từng chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh tại Công ty CP Giám định Năng
lượng Việt Nam từ đó đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại đơn vị.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Hiện nay, các đơn vị kinh doanh dịch vụ giám định nói chung và Công ty CP
Giám định Năng lượng Việt Nam nói riêng đang phải đương đầu với nhiều khó
khăn, thách thức. Việc nghiên cứu đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh của Công ty Cổ phần Giám định Năng lượng Việt Nam” giúp đánh giá
thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty để nhận thức rõ khó khăn và lợi thế
đang tồn tại từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu mang tính khả thi đảm bảo cho
sự phát triển ổn định và lâu dài của Công ty.

2


CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP GIÁM ĐỊNH.
1.1. Tổng quan về ngành giám định.
1.1.1. Nhu cầu tất yếu của giám định.
Trong thương mại, việc thực hiện một hợp đồng mua bán thường trải qua
nhiều giai đoạn với nhiều chủ sở hữu khác nhau. Đồng thời trong quá trình này
hàng hóa luôn có nguy cơ phải chịu những rủi ro tổn thất, hư hỏng khi có những sự
cố xảy ra những người tham gia thực hiện hợp đồng mua bán cũng như các bên
liên quan đều tìm những chứng cứ chứng minh mình đã thực hiện đúng nghĩa vụ
và được miễn trách. Mặt khác trách nhiệm và quyền lợi của mỗi tổ chức cá nhân
tham gia vào quá trình này thường được xác định bằng một hợp đồng mua bán,
hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng xếp dỡ… Theo thông lệ quốc tế,
công ước vận tải, giao nhận, bảo hiểm…Mỗi bên tham gia vào quá trình lưu
chuyển hàng hóa đều tìm cách chứng minh mình đã thực hiện đúng nghĩa vụ được
quy định trong hợp đồng nhằm miễn trách cho mình về các tranh chấp phát sinh

- Giám định là hoạt động của bên thứ ba nhằm đánh giá tình trạng thực tế của
đối tượng giám định theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nền tảng để thực
hiện việc giám định là sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người, cơ sở vật chất,
công nghệ, phương pháp tạo nên sự đánh giá chuyên nghiệp. Có thể nói, không chỉ
góp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh, “giám định” còn góp phần giúp các cơ
quan nhà nước trong công tác quản lý nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh
an toàn, hiệu quả cho các nhà đầu tư.
- “Giám định là một hoạt động khoa học kỹ thuật cao và mang tính đặc thù
đồng thời giám định cũng được xem là ngành kinh doanh. Tầm quan trọng của
dịch vụ giám định không chỉ liên quan đến số phận của hàng hóa hay Doanh
nghiệp có hàng hóa cần giám định, mà liên quan đến cả tính mạng con người” [2].
“Trong đời sống kinh tế xã hội, giám định là một nhu cầu tất yếu khách quan,
phù hợp với sự phát triển và hòa nhập vào quốc tế của nền kinh tế xã hội Việt
Nam” [3]. Trong lĩnh vực ngoại thương, dịch vụ giám định giữ vai trò quan trọng.
Các thương nhân mua bán hàng hóa xuất nhập khẩu luôn sử dụng dich vụ giám
định để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong quá trình giao nhận hàng hóa.
Luật pháp tất cả các nước đều có qui định về lĩnh vực này.

4


1.1.2.2. Vai trò của dịch vụ giám định.
Giám định không chỉ làm thuận lợi hóa các hoạt động thương mại mà còn
đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động quản lý nhà nước đối với
hàng hóa xuất nhập khẩu.
‘Giám định làm tăng thêm trách nhiệm của các bên có liên quan trong quá
trình thực hiện hợp đồng mua bán từ đó ngăn ngừa các rủi ro, tổn thất và những
nghi ngờ, tranh chấp giữa các bên. Đặc biệt khi có các tranh chấp xảy ra, chứng
thư giám định được sử dụng như một chứng cứ khách quan mang tính pháp lý quan
trọng để các bên có thể giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng hạn chế

công sức, tiền của. không những vậy, chứng thư giám định còn là một văn bản
không thể thiếu trong hồ sơ khiếu nại.
- Đối với người vận tải: Họ có một chỗ dựa tin cậy để xác định rằng họ đã
thực hiện công việc của mình đúng với các quy định cũng như yêu cầu kỷ thuật
trong vận tải: Phương tiện có đủ khả năng, điều kiện chuyên chở hàng hóa, chứng
minh cho người vận tải đã làm hết khả năng cần thiết để hạn chế tối đa các thiệt hại
khi có tổn thất đối với hàng hóa.
- Đối với người bảo hiểm: “Dịch vụ giám định giúp người bảo hiểm xác định
mức độ, nguyên nhân gây hư hỏng, tổn thất đối với hàng hóa và phương tiện vận
tải và để làm cơ sở bồi thường thiệt hại cho khách hàng” [4].
- Đối với các ngân hàng: Chứng thư giám định là một trong những cơ sở để
họ làm cơ sở chuyển tiền cho người bán. Người xuất khẩu yên tâm nhận được tiền
bán hàng đầy đủ và đúng thời hạn khi họ thực hiện đúng các nghĩa vụ cam kết
trong hợp đồng.
Đặc biệt, “giám định là hoạt động hữu hiệu giúp nhà nước quản lý chất lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu, để các doanh nghiệp tránh nhập phải hàng xấu, hàng
kém chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng. Tránh làm ảnh hưởng đến đời sống, sức
khỏe của con người, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, gây rối loạn thị trường
trong nước” [3].
Giám định giúp Nhà nước quản lý, kiểm soát để các doanh nghiệp trong nước
không xuất đi hàng xấu, hàng kém phẩm chất làm mất uy tín Quốc gia hoặc xuất đi
hàng tốt hơn nhiều so với thỏa thuận trong hợp đồng, làm thiệt hại lợi ích Quốc gia
cũng chính như người xuất khẩu…

6


Ngoài ra hoạt động giám định trong lĩnh vực thẩm định, đánh giá các công
trình đầu tư, công tình xây dựng… không những giúp Nhà nước nắm được chất
lượng các công trình xây dựng hạn chế đưa vào nước ta những máy móc, thiết bị

- Tổ chức giám định chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả/ kết luận
trong chứng thư (kể cả khi ủy thác hay sử dụng nhà thầu phụ)
- Chứng thư có giá trị pháp lý với bên yêu cầu giám định nếu họ không chứng
minh được kết quả giám định sai.
- Chứng thư có giá trị pháp lý đối với các bên cùng chỉ định tổ chức giám
định trong hợp đồng nếu các bên không chứng minh được kết quả giám định sai.
- Khi các bên không cùng chỉ định tổ chức giám định trong hợp đồng thì
chứng thư chỉ có giá trị với bên yêu cầu giám định. Bên kia có quyền yêu cầu giám
định lại khi không đồng ý với kết quả giám định” [2].
1.1.3. Điều kiện của giám định.
“Hiện nay tại Việt Nam, giám định là hoạt động kinh doanh bình thường, gần
như là không đòi hỏi những điều kiện ràng buộc, hoặc đòi hỏi không cao. Tuy
nhiên thời gian qua, thị trường giám định tại Việt Nam đã có sự hỗn loạn do các
công ty đua nhau tranh giành khách, dẫn đến chất lượng dịch vụ quá kém và đạo
đức nghề xuống cấp trầm trọng do đó cần siết chặt hơn công tác quản lý đối với
các cơ quan giám định và ngành giám định tại Việt Nam sẽ là ngành kinh doanh có
điều kiện” [3]. Hiện tại, cơ quan giám định cần phải đạt được các điểm sơ lược như
sau:
Điều kiện số 1: “Điều kiện về trình độ chuyên môn của giám đốc - người ký
và chịu trách nhiệm trước kết quả giám định do công ty mình thực hiện, là điều
kiện hàng đầu cho việc ra đời của một công ty chuyên doanh về dịch vụ giám định.
Trình độ của giám đốc có thể không chuyên sâu, nhưng người giám đốc phải đủ
hiểu biết để triển khai một dịch vụ giám định và đảm bảo được kết quả đó” [3].
Điều kiện số 2: “Đơn vị kinh doanh dịch vụ giám định phải có ít nhất 3 giám
định viên đạt tiêu chuẩn quy định:
- Có trình độ đại học hoặc cao đẳng phù hợp với yêu cầu của lĩnh vực giám
định;
- Có chứng chỉ chuyên môn về lĩnh vực giám định trong trường hợp pháp luật
quy định phải có chứng chỉ chuyên môn;


lập theo Pháp luật hiện hành.
- Doanh nghiệp giám định được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài.

9


1.1.4.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định.
- Vị trí: “Tổ chức giám định là một tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định
theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, mang tính chất độc lập, trung
lập. Vị trí độc lập, trung lập có nghĩa: Tổ chức giám định không có liên quan về
quyền lợi vật chất với bất cứ bên nào. Về nghiệp vụ không bị chi phối bởi bất cứ
ngành nào, không thiên vị về phía nào, tự mình độc lập đem hết khả năng và trách
nhiệm cung cấp chứng cứ cụ thể, đúng thực tế làm cơ sở cho các bên liên quan giải
quyết tranh chấp. Việc giám định có thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
hoặc theo ủy quyền của Nhà nước”.
- Chức năng: “Tổ chức giám định có chức năng kinh doanh dịch vụ giám
định theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước tự hoạch toán độc lập, tự
trang trải chi phí”.
- Nhiệm vụ: “Hoạt động theo đúng quy định của Pháp luật. Tổ chức thực hiện
việc giám định: hướng dẫn thực hiện và quản lý theo quy trình quy phạm và
phương pháp giám định thực hiện đúng yêu cầu của khách hàng đã được quy định
trong hợp đồng. Cấp chứng thư giám định: chính xác trung thực kịp thời”.
1.1.5. Các loại hình giám định.
1.1.5.1. Các loại hình giám định ở Việt Nam hiện nay.
Căn cứ nội dung và đối tượng giám định có thể chia giám định thành hai loại:
Giám định hàng hóa và giám định phi hàng hóa.
Giám định hàng hóa bao gồm:
- "Giám định số lượng, khối lượng hàng hóa.
- Giám định quy cách, phẩm chất tình trạng hàng hóa.
- Giám định bao bì, kí mã hiệu

thuẩn và khi những mâu thuẩn này chưa được giải quyết thì tranh chấp tất yếu xảy
ra và lĩnh vực giám định cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Như đã nói ở trên,
việc tranh chấp trong lĩnh vực thương mại lẽ ra chỉ có hai đối tượng là người mua
và người bán nhưng trên thực tế các tranh chấp với các đối tượng khác đã xảy ra
nhiều nơi.
Theo quan điểm các công ty giám định thì định nghĩa về "vụ tranh chấp là
những vụ xảy ra do người yêu cầu giám định phản bác hay thậm chí kết luận kết
quả giám định sai. Một vụ sai sót là vụ khi có tranh chấp mà Trọng tài kinh tế kết
luận là sai hoặc công ty giám định tự tái kiểm tra và nhận thấy sai".
Theo thống kê của Bộ thương mại và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
thì "hàng năm số vụ tranh chấp chiếm đến 4,5% tổng số chứng thư cấp ra, số vụ

12


được kết luận có sai sót chiếm 2,7% và số vụ sai nghiêm trọng bị đưa ra trước pháp
luật chiếm 1,1%”.
1.2. Hiệu quả kinh doanh.
1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
“Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với cơ chế thị
trường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh” [9]. Khi đề cập
hiệu quả kinh doanh, các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét đưa ra các quan
điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp để đạt kết
quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất” [9]. Quan điểm này
đã phản ánh rõ việc sử dụng các nguồn lực và trình độ lợi dụng chúng được đánh
giá trong mối quan hệ giữa kết quả đạt được với việc cực tiểu hóa các chi phí bỏ ra.
Nó không phải là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra
của một quá trình mà trước tiên hiệu quả kinh doanh phải gắn với việc hoàn thành

nghiệp trong từng thời kỳ” [9].
1.2.2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và
tiết kiệm lao động xã hội. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp phải
chú trọng đến các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản
xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa
với chi phí nhất định.
Trong điều kiện xã hội nước ta, hiệu quả kinh doanh được đánh giá trên 2 tiêu
thức: tiêu thức hiệu quả về mặt kinh tế và tiêu thức hiệu quả về mặt xã hội. Tuỳ
từng thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh mà hàng hoá trong 2
tiêu thức này khác nhau. Các doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty
trách nhiệm hữu hạn, Công ty nước ngoài, tiêu thức hiệu quả kinh tế được quan
tâm nhiều hơn các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp có sự chỉ đạo cao
hơn. Điều này phù hợp với mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng

14


cao nhu cầu vật chất tinh thần của toàn xã hội, không có sự bất bình đẳng, phân
biệt giữa các thành phần kinh tế và giữa nội bộ nhân dân toàn xã hội.
Hiệu quả về mặt kinh tế là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được
sau khi bù đắp các khoản chi phí về lao động xã hội. Hiệu quả về mặt xã hội là
những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp tạo ra đem lại cho xã hội, bản thân doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình.
Đánh giá hiệu quả kinh doanh rất phức tạp và khó tính toán. Việc xác định
một cách chính xác kết quả và hao phí nguồn lực với một thời kỳ cụ thể là rất khó..
Bởi vì nó vừa là thước đo trình độ quản lý của cán bộ lãnh đạo, vừa là chỉ tiêu
đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào, vừa phải đồng thời thoả mãn lợi ích
của doanh nghiệp và của Nhà nước. Vì vậy, cần hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu

khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện
nay.
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ
trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải
tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Trong khi thị trường ngày
càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt
do đó để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải
chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường.
- Mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Để thực
hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng
các nguồn lực xã hội nhất định. Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn
lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu. Vì vậy,
nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện
mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Chính sự nâng cao hiệu quả kinh
doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của
mỗi doanh nghiệp.

16


1.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.5.1. Chỉ tiêu sản lượng.
Sản lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá hoạt
động của bất cứ doanh nghiệp nào.
Đối với một Công ty giám định, sản lượng chính là số lượng các vụ giám
định mà doanh nghiệp đã thực hiện được. Số lượng các vụ giám định càng nhiều,
chứng tỏ Công ty giám định đó có nhiều yêu cầu giám định của khách hàng. Số
lượng các vụ giám định cho thấy sức mạnh và khả năng cạnh tranh của Công ty
giám định đó.

Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của
doanh nghiệp mang lại. Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ các
hoạt động kinh doanh; lợi nhuận từ hoạt động liên doanh, liên kết; lợi nhuận từ các
hoạt động đầu tư tài chính. Chỉ tiêu lợi nhuận là mục tiêu phấn đấu để doanh
nghiệp tồn tại và phát triển.
Lợi nhuận của Công ty Giám định chủ yếu là do lợi nhuận từ các vụ giám
định mang lại.
1.2.5.5. Chỉ tiêu sinh lợi
- Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS): Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm
bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công
ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ số mang giá trị âm
nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ.
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu =

Lợi nhuận ròng
Doanh thu thuần

Tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Vì thế, khi
theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công ty với
tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia.
- Tỷ suất sinh lợi trên tổng giá trị tài sản (ROA): Chỉ tiêu này cho biết bình
quân một đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế. Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản
càng lớn và ngược lại.

18


Tỷ suất sinh lợi trên tổng giá trị tài sản =

- Hệ số hiệu suất sử dụng vốn cố định: được xác định bằng tỷ số giữa doanh
thu thuần với vốn cố định bình quân trong kỳ. Hệ số này cho biết một đồng vốn cố
định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =

19

Doanh thu thuần
Vốn cố định bình quân


Hệ số hiệu suất sử dụng tài sản cố định: được xác định bằng tỷ số giữa
doanh thu thuần trong kỳ với nguyên giá tài sản cố định bình quân. Hệ số này cho
thấy một đồng tài sản cố định đã tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Doanh thu thuần

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =

Tài sản cố định bình quân

Muốn đánh giá việc sử dụng vốn cố định có hiệu quả không ta phải so sánh
với các công ty khác cùng ngành hoặc so sánh với các thời kỳ trước
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hệ số hiệu suất sử dụng vốn lưu động: được xác định bằng tỷ số giữa doanh
thu thuần với vốn lưu động bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn
lưu động sử dụng đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Hệ số này càng cao thì hiệu
quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.
Hệ số hiệu suất sử dụng vốn lưu động =

Doanh thu thuần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status