Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐAI HOC sư PHAM HÀ NÔI 2 • • •
•
03 CQ 90
vũ MANH HÀ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI
CHO SINH VIÊN Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 6014 01 14
LUẬN VÃN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ngưòi hướng dẫn khoa học: TS VI THÁI LANG
HÀ NỘI, 2015
Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc tới Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Phòng Sau đại học, các cơ quan
liên quan đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu khoa học để nâng
cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn, biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, các nhà
khoa học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như
trong nghiên cứu khoa học. Đặc biệt xin được trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Vi
Thái Lang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc, các cán bộ, giảng viên, nhân
viên, sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2; bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và
người thân đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập,
MỤC LỤC
Vũ Mạnh Hà
Trang
STT
VIẾT TẲT
VIẾT ĐÀY ĐỦ
AN
An ninh
2
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3
GDQP
Giáo dục quốc phòng
4
TT
Nội dung
Trang
Sơ đồ
1.1
Quy trình của hoạt động sản xuất vật chất
10
Sơ đồ
1.2
Quy trình của hoạt động quản lý
10
Bảng 2.1 Đánh giá của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trung tâm về
thực trạng giáo dục kỷ luật quân đội trong học tập, rèn luyện
Bảng 2.2
Đánh giá của sinh viên về thực trạng giáo dục kỷ luật quân đội
trong học tập, rèn luyện
46
47
Bảng 3.1 cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho
sinh viên
Bảng 3.2
Đánh giá của sinh viên về sự cần thiết của các biện pháp quản lý
giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên
96
98
Đánh giá của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trung tâm về
Bảng 3.3 tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân đội
cho sinh viên
Bảng 3.4
Đánh giá của sinh viên trong Trung tâm về tính khả thi của các
biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên
100
102
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đè tài
cho sinh viên học GDQP và AN nói riêng, những năm qua Trung tâm GDQP
Hà Nội 2 đã có nhiều biện pháp phù họp nhằm quản lý chặt chẽ việc dạy học
cũng như duy trì kỷ luật quân đội, tác phong quân nhân đối với sinh viên khi
đến học tập trung. Nhờ đó mà chất lượng dạy học ở Trung tâm đã có nhiều tiến
bộ trên một số mặt, phong trào học tập sôi nổi, từng bước được nâng lên, việc
duy trì các chế độ nền nếp, quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên đã
có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên chất lượng giáo dục nói chung và
quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên học GDQP và AN nói riêng có
những nội dung còn hạn chế, bất cập. Đáng quan tâm là chất lượng, hiệu quả
công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên học GDQP và AN còn
chưa thực sự được chú trọng, chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao
của sự nghiệp xây dựng và bảo yệ Tổ quốc. Ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức tự
giác, kỹ năng vốn sống của sinh viên còn hạn chế, tỷ lệ sinh viên vi phạm kỷ
luật ngày càng có chiều hướng gia tăng.
Trong những năm qua, công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho
sinh viên của các trường đại học, cao đẳng được Bộ giáo dục và đào tạo phân
luồng học tập trung môn Giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm GDQP
Hà Nội 2 đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình quản
lý tổ chức và thực hiện còn bộc lộ một số hạn chế bất cập như: Nhận thức của
cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên trong Trung tâm về giáo dục kỷ luật
chưa sâu sắc, đội ngũ cán bộ quản lý sinh viên không chuyên trách, thường phải
kiêm nhiệm làm nhiều công việc khác nhau, sự phối hợp giữa các phòng, khoa,
và các bộ phận chức năng trong Trung tâm có lúc còn chưa chủ động, hệ thống
các văn bản, quy định về quản lý sinh viên chưa đồng bộ. Các hoạt động tổ
chức đoàn thể có lúc còn đơn điệu, chưa thu hút được đông đảo sinh viên tham
8
gia, vai trò của cán bộ, giảng viên trong công tác quản lý giáo dục chưa thực sự
Đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm quản lý
giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
9
-
Đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh
viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay nhằm góp phần nâng cao
chất
lượng dạy học môn GDQP và AN nói chung, nâng cao chất lượng quản lý giáo dục
kỷ luật quân đội nói riêng.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp.
4. Đổi tượng và phạm vi nghiền cứu
4.1.
Đỗi tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác giáo dục kỷ luật quân đội cho cho sinh viên ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2; từ đó đề xuất 1 số biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật
quân đội cho cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên các
trường đại học, cao đẳng học tập trung chương trình giáo dục quốc phòng và an
Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu câu hỏi với cán bộ, giảng
viên, nhân viên và sinh viên học GDQP và AN tại Trung tâm.
Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các sinh hoạt, hoạt động của
sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 cũng như công tác quản lý giáo dục kỷ
luật quân đội của các cán bộ quản lý sinh viên nhằm thu thập các tư liệu.
Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các sinh viên ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các cán bộ quản lý sinh viên và các phòng, khoa,
các bộ phận có liên quan.
5.3.
Phương pháp thắng kê
Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu.
Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu.
6. Giả thuyết khoa học
Đe nâng cao chất lượng dạy học môn GDQP và AN cho sinh viên ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay phụ thuộc vào sự tác động tổng họp của
nhiều yếu tố, trong đó công tác quản lý sinh viên nói chung và quản lý giáo dục
kỷ luật quân đội cho sinh viên có vai trò hết sức quan trọng. Neu nội dung này
được coi trọng đúng mức, thực hiện đồng bộ; phân tích đánh giá đúng thực
trạng công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên hiện nay, tìm ra
được nguyên nhân tồn tại; đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật
1
1
quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 phù họp, hiệu quả thì sẽ
2
thiện con người mình. Kỷ luật là khuôn mẫu và thước đo để rèn luyện con
người. Một đời sống có kỷ luật ví như một tòa nhà có họa đồ kích thước...
Ở Việt Nam kỷ luật cũng đã có từ rất lâu, kỷ luật luôn gắn liền với công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trong phạm vi nghiên cứu của luận
văn tác giả chỉ đi sâu vào lược sử kỷ luật trong quân đội nhân dân Việt Nam.
Như chúng ta đã biết Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, từ
nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ; trung thành với Tổ quốc; gắn bó máu thịt
với nhân dân lao động các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam; đoàn kết với
bạn bè quốc tế; tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, nghiêm chỉnh chấp
hành Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc
lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm đến vấn đề kỷ luật trong quân đội, một quân đội mà không có kỷ luật
thì không thể lớn mạnh và trưởng thành được. Hơn 70 năm xây dựng quân đội
cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và kỷ luật trong quân đội đã trở
thành di sản tư tưởng, lý luận quý báu, là một trong những nguyên tắc căn bản
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy tập
trung, thống nhất của Đảng, của cấp trên; phát huy tinh thần dân chủ sáng tạo
của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, đồng thời giúp cho toàn quân nâng cao ý
chí chiến đấu, đề cao tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý
thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đánh thắng
mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước, xây dựng quân đội cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
Một nét đặc trưng tiêu biểu của kỷ luật quân đội đó là tinh thần kỷ luật
tự giác cao. Tinh thần “quân lệnh như sơn” ở đây đã được thực hiện bằng tình
đồng đội, tình “huynh đệ”, và nhiều hơn, chính là lòng tự trọng, danh dự.
Tinh thần kỷ luật cao đồng thời chính là cội nguồn tạo thành sức mạnh
1
4
Trong các giải pháp những năm tiếp theo để nâng cao chất lượng công tác này
tác giả rất quan tâm đến giải pháp phải giáo dục, rèn luyện đào tạo đội ngũ giáo
viên làm công tác
giáo dục quốc phòng, an ninh nhất là về phương pháp tác phong sư phạm, phẩm
chất đạo đức, lối sống là tấm gương để sinh viên noi theo.
Tác giả Nguyễn Thiện Minh, Vụ giáo dục quốc phòng: “Những vẩn đề cơ
bản cần tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy, học giáo dục quốc phòng
và an ninh cho học sinh, sinh viên năm học 2012-2013 và những năm tiếp
theo”, Tạp chí Dân quân tự yệ - Giáo dục quốc phòng, tháng 8, năm 2012, số
59, tác giả cũng chỉ rõ vấn đề cơ bản là phải giáo dục, rèn luyện nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên gáo dục quốc phòng và an ninh.
Nhìn tổng thể, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cơ
bản nào đề cập toàn diện đến cơ sở lý luận, thực tiễn công tác quản lý giáo
dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2. Vì yậy, việc
nghiên cứu làm rõ về lý luận, thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất các
giải pháp để quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 là cần thiết, nó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và
rèn luyện xây dựng bản lĩnh, tác phong và ý thức tổ chức, kỷ luật cho sinh
viên khi học tập ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay.
1.2.
Môt sổ khái niêm cơ bản • •
1.2.1.
Quản lý
Hoạt động sản xuất yật chất là loại hình hoạt động cơ bản nhất trong tất cả
các hoạt động của con người, đóng vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của con
người, xã hội. Hoạt động sản xuất yật chất được thực hiện theo quy trình: Chủ thể
sản xuất (con người với kinh nghiệm, kỹ năng và tri thức lao động của họ) sử dụng
những công cụ, phương tiện, các cách thức sản xuất để tác động vào đối tượng sản
xuất nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người.
Ngoài việc tuân theo quy trình hoạt động nói chung và hoạt động sản xuất
nói riêng, hoạt động quản lý còn có những đặc trưng riêng của nó. Tính đặc thù của
hoạt động quản lý so với hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện trên tất cả các
phương diện: chủ thể, đối tượng, công cụ, phương tiện, cách thức tác động và mục
tiêu. Sự phân biệt giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động quản lý được minh
họa bằng sơ đồ sau đây (Sơ đồ 1.2).
Hoạt động
quản lý
Sơ đồ 1.2. Quy trình của hoạt động quản lý
1
7
Tuy nhiên sự phân biệt giữa hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất yật chất
có ý nghĩa tương đối và chỉ tồn tại trong lĩnh vực nhận thức. Trong thực tế (về mặt
bản thể luận), hoạt động quản lý có quan hệ hữu cơ với hoạt động sản xuất và các
hoạt động cụ thể khác của con người, bởi vì như chúng ta đã biết: Quản lý là hoạt
động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động chung của con người và vì vậy,
nó là hoạt động mang tính phổ quát.
Từ xuất phát điểm như đã trình bày ở trên, kế thừa những nhân tố họp lý của
cách tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có thể tổng
họp và rút ra một số cách hiểu về quản lý như sau:
-
Mary Parker Follett cho rằng: “quản lỷ là nghệ thuật đạt được mục đích
thông qua nỗ lực của người khác”. [39, tr.12].
Định nghĩa này nói lên rằng, những nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ
chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải
hoàn thành công việc bằng chính mình.
1
8
-
Koontz và O’Donnell định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào
của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở
mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kể và duy
trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các
nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ, các mục tiêu đã định”.[ 39, tr.12].
-
Một định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về quản lý được James Stonner và
Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ
chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ
chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục
tiêu đã đề ra”. [39, tr.12].
-
Quản lý là tác động theo quy trình.
-
Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.
1
9
-
Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.
-
Quản lý là hoạt động vừa có tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.
-
Mối quan hệ giữa quản lý và tự quản.
Và quản lỷ có 4 chức năng cơ bản đó là:
-
Chức năng lập kế hoạch.
-
Chức năng tổ chức.
2
0
làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tỉnh chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học, giáo dục thể hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đển mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”. [34, tr.12].
Tác giả Nguyễn Thành Vinh đã định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục như
sau: “Quản lý giáo dục là một dạng quản lỷ của xã hội trong đó diễn ra quả trình
tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực,
các tác động của chủ thể quản lý theo kể hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đển đổi
tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra
hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các
yêu cầu mà xã hội đặt ra đổi với giáo dục [39, tr. 181-182].
Như yậy bản chất của Quản lý giáo dục, là một khoa học và một nghệ thuật
trong việc điều khiển, phối kết họp các bộ phận, phân hệ và các cá nhân trong phần
tử của hệ thống giáo dục nhằm đưa hệ thống đạt đến những trạng thái phát triển mới
về chất đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
1.2.3.
Kỷ luật quân đội
Như chúng ta đã biết Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, từ
nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ; trung thành với Tổ quốc; gắn bó máu thịt với
nhân dân lao động các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam; đoàn kết với bạn bè
quốc tế; tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến
pháp và Pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ
quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
“nhân quyền”, “pháp quyền” để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng
quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đòi “phi chính trị
hoá quân đội”, kêu gọi “quân đội đứng ngoài chính trị”, hay đề cao chủ nghĩa cá
nhân, lối sống tự do chủ nghĩa, ăn chơi hưởng lạc, chạy theo danh lợi, vật chất tầm
thường...là những mũi nhọn của chiến lược “diễn biển hòa bình” mà các thế lực thù
2
2
địch sử dụng hòng phá hoại về chính trị, tư tưởng, dân chủ và kỷ luật của quân đội
ta. Để thực hiện tốt hơn nữa vấn đề dân chủ và kỷ luật trong toàn quân, góp phần
xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong
chiến lược “diễn biển hòa bình” của các thế lực thù địch, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy
các đơn yị trong toàn quân phải không ngừng đẩy mạnh việc tuyên truyền, quán
triệt sâu sắc điều lệnh quân đội, các quy chế, quy định của Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về giáo dục, rèn luyện,
quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy; về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam...Tích cực tuyên
truyền, quán triệt sâu sắc và yận dụng sáng tạo hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về
kỷ luật trong quân đội tạo cơ sở nền tảng, thống nhất cao về tư tưởng, nhận thức và
hành động trong toàn quân.
Do vậy ta có thể hiểu như sau: Kỷ luật của quân đội nhân dân Việt Nam (gọi
tắt là kỷ luật quân đội) là kỷ luật của quân đội cách mạng, là kỷ luật tự giác,
nghiêm minh. Thông thường, kỷ luật mang tỉnh bắt buộc, nhưng kỷ luật của quân
đội, bản chất là sự thống nhất giữa hai mặt "tự giác ” và “nghiêm minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật trong quân đội luôn là một trong những
vấn đề quan trọng định hướng, bảo đảm cho việc xây dựng quân đội nhân dân thực
sự cách mạng, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập
tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm vừa là một
Như vậy, giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở các Trung tâm GDQP nói
chung, và ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 nói riêng là hết sức quan trọng, do vậy các
nhà quản lý cần chú trọng vấn đề này để hoạt động quản lý giáo dục kỷ luật quân
đội ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
1.3. Đặc điểm tâm lý của sinh viền học GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Trước hết chúng ta nhận thấy rằng, sinh viên là một tầng lóp xã hội, một tổ
chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị. Họ là nhóm người có vị trí
chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối
cao trong xã hội. Là nguồn cung cấp chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo
các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc tầng lóp tri thức xã hội. Các tổ chức chính
2
4
trị, xã hội, gia đình đều đặt nhiều kỳ vọng vào sinh viên. Điều này làm cho sinh
viên có vai trò rõ rệt. Sinh viên là công dân thực thụ của một đất nước với đầy đủ
quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật. Họ có quyền bầu cử, ứng cử, phải chịu trách
nhiệm về mọi hành vi và việc làm trước Bộ luật Hình sự, Luật Nghĩa vụ quân sự,
Luật Hôn nhân và gia đình...
Với ý nghĩa trên thì xã hội coi sinh viên là một thành viên chính thức, một
người trưởng thành. Tuy nhiên, do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên các em chưa hoàn toàn là người tự lập về
mọi mặt so với những thanh niên cùng độ tuổi không học đại học, phải tham gia lao
động sớm. Vì vậy, tính chất trưởng thành của thanh niên sinh viên có những nét đặc
trưng riêng. Nhà tâm lý học người Pháp Bianka Zazzo đã nghiên cứu tuổi trưởng
thành của thanh niên sinh viên và đi đến kết luận: Trình độ học vấn và vị trí xã hội
của con người có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của họ. Những nghiên cứu của
ông cho thấy, thanh niên nông thôn trưởng thành về mặt xã hội sớm hơn thanh niên
luyện.
Đa số sinh viên học tập tại Trung tâm có trách nhiệm, ham hiểu biết, có chí
tiến thủ, thích cái mới, năng động nhưng đôi khi còn bồng bột. Đối với môn GDQP
và AN bên cạnh nhiều sinh viên có nhận thức đúng, có nhiều cố gắng và đạt kết quả
cao trong học tập thì cũng có một bộ phận sinh viên coi môn này là môn học 3K
(khó, khô, khổ). Chính vì vậy, thời gian dành cho hoạt động tự học môn GDQP và
AN của sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu chung hiện nay. Một số sinh viên không
làm đầy đủ bài tập, không thường xuyên chuẩn bị bài trước, không đặt câu hỏi cho
giảng viên, không đến thư viện để tham khảo và không ghi lại bài giảng theo cách
học riêng. Người học vẫn mang nguyên phương pháp học ở bậc phổ thông là thụ
động và ỷ lại vào giảng viên khi đã lên bậc học cao hơn. Hơn nữa, phần lớn sinh
viên các trường lớn và chuyên ngành khó nên xem thời gian học môn GDQP và AN
là thời gian xả hơi nên học tập có lúc chưa nghiêm túc, còn cầm chừng.