Quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội 2 - Pdf 34

BÔ GIÂO DUC VÀ DÀO TAO
TRÜÔOVG DAI HOC SU* PHAM HÀ N Ô I2








C8 C3 80

VÜMANHHÀ

QUÀN LŸ GIÂO DyC KY LUÂT QUÂN DQI
CHO SINH VIÊN à TRUNG TÂM GIÂO DUC
QUÔC PHÔNG HÀ NÔI 2
Chuyên ngành: Quân lÿ giâo duc
Ma so: 60 14 01 14
LUÂN VAN THAC SÏ QUÂN LŸ GIÂO DUC
Ngu if i hirôtig dan khoa hoc: TS VITHÂILANG

HÀ NÔI, 2015


LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm trân trọng và chân thành tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc tới Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Phòng Sau đại học, các cơ
quan liên quan đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu khoa học để
nâng cao trình độ nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Tác giả

Vũ Mạnh Hà


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐÀU
NỘI DUNG
Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỶ LUẬT
QUÂN ĐỘI CHO SINH VIÊN HỌC GDQP VÀ AN
1.1.
1.2.
1.3.

1

6

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Một số khái niệm cơ bản
Đặc điểm tâm lý của sinh viên học GDQP và AN ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2
1.4.
Quan điểm, mục tiêu giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên
1.5.
Nội dung quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên
Chương 2: THựC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI
CHO SINH VIÊN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2


Khảo nghiệm tính càn thiết và tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

6
9
18
21
31

43
58
64
71

74
96
106
110
114


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

STT

VIẾT TẮT

VIẾT ĐẦY ĐỦ


6

Nxb

Nhà xuất bản

7

QĐNDVN

Quân đội nhân dân Việt Nam

8

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC S ơ ĐÒ, BẢNG TRONG LUẬN VĂN


TT

7



Nội dung


Bảng 2.5

Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 3.1

Bảng 3.2

Bảng 3.3

Bảng 3.4

Đánh giá của sinh viên về thực trạng giáo dục kỷ luật quân đội
trong hoạt động tập thể, cá nhân và lao động (số lượng =300)
Đánh giá của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trung tâm
về thực trạng giáo dục kỷ luật quân đội trong quan hệ và ứng
xử (số lượng =36)
Đánh giá của sinh viên vê thực trạng giáo dục kỷ luật quân đội
trong quan hệ và ứng xử (số lượng =300)
Thống kê sinh viên vi phạm các quy định từ 2011 - 2014
Đánh giá của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trung tâm
về sự cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân
đội cho sinh viên
Đánh giá của sinh viên về sự cần thiết của các biện pháp quản
lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên
Đánh giá của cán bộ, giảng viên, nhân viên trong Trung tâm
về tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân
đội cho sinh viên
Đánh giá của sinh viên trong Trung tâm về tính khả thi của các

nước nhà thống nhất, ngày 28/4/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ
thị 107-CT/TW về “Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng nhân dân,
chuẩn bị cho thể hệ trẻ sẵn sàng làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc”. [1]. Nghị
quyết 02-NQ/TW ngày 30/7/1987 của Bộ Chính trị đã quy định đưa nội dung
đường lối quân sự của Đảng và nhiệm vụ quốc phòng vào chương trình học
tập chính thức của các trường đào tạo, bổ túc cán bộ của Đảng và Nhà nước;
đưa nội dung giáo dục quốc phòng vào chương trình chính khoá trong các
trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học.
Nhiệm vụ GDQP và AN với mục tiêu tổng quát của chiến lược quốc
phòng nước ta, là xây dựng nền quốc phòng toàn dân có lực lượng ngày càng
vững mạnh, thế trận ngày càng vững chắc, đủ sức ngăn chặn, đẩy lùi, đập tan
mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của của kẻ thù, do vậy cần thiết phải đổi
mới công tác quản lý giáo dục quốc phòng và an ninh nói chung và quản lý
hoạt động giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên học GDQP và AN nói riêng
trong tình hình hiện nay.
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay đang đảm nhiệm giảng dạy môn
học GDQP và AN cho sinh viên 16 trường đại học và cao đẳng (có năm tham
gia giảng dạy cho cả học sinh trung học phổ thông) trên địa bàn thành phố Hà
Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ. Nhận thức đứng tầm quan ừọng của
việc tổ chức, quản lý, giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn


2

GDQP và AN nói chung, nâng cao chất lượng quản lý giáo dục kỷ luật quân
đội cho sinh viên học GDQP và AN nói riêng, những năm qua Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 đã có nhiều biện pháp phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ việc
dạy học cũng như duy trì kỷ luật quân đội, tác phong quân nhân đối với sinh
viên khi đến học tập trung. Nhờ đó mà chất lượng dạy học ở Trung tâm đã có
nhiều tiến bộ trên một số mặt, phong trào học tập sôi nổi, từng bước được

sinh viên tính tự giác, tích cực trong học tập, tự tu dưỡng rèn luyện, nâng cao
ý thức cảnh giác cách mạng, phẩm chất đạo đức; tác phong nghề nghiệp để
phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đây là những vấn đề càn thiết mà
các Trung tâm GDQP và AN đang tìm kiếm biện pháp, giải pháp thực hiện.
Thực trạng trên đặt ra cho những người làm công tác quản lý ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2 và các nhà nghiên cứu cần phải tổng kết, đúc rút kinh
nghiệm, nghiên cứu tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, nhằm nâng cao
chất lượng dạy học nói chung, công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho
sinh viên nói riêng. Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản lý giáo dục kỷ luật
quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 ” làm đề tài luận văn
cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất một số biện pháp quản lý
giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên nhằm góp phàn nâng cao chất lượng
trong công tác quản lý và đào tạo đáp ứng yêu càu nhiệm vụ của Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên.
- Đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm quản lý
giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh
viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay nhằm góp phần nâng cao chất


4

lượng dạy học môn GDQP và AN nói chung, nâng cao chất lượng quản lý
giáo dục kỷ luật quân đội nói riêng.
- Khảo nghiệm tính càn thiết và khả thi của các biện pháp.
4. Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu câu hỏi với cán bộ, giảng
viên, nhân viên và sinh viên học GDQP và AN tại Trung tâm.
Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các sinh hoạt, hoạt động của
sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 cũng như công tác quản lý giáo dục
kỷ luật quân đội của các cán bộ quản lý sinh viên nhằm thu thập các tư liệu.
Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các sinh viên
ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các cán bộ quản lý sinh viên và các phòng,
khoa, các bộ phận có liên quan.
5.3. Phương pháp thống kê
Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu.
Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu.
6. Giả thuyết khoa học
Để nâng cao chất lượng dạy học môn GDQP và AN cho sinh viên ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay phụ thuộc vào sự tác động tổng hợp của
nhiều yếu tố, trong đó công tác quản lý sinh viên nói chung và quản lý giáo
dục kỷ luật quân đội cho sinh viên có vai trò hết sức quan trọng. Nếu nội dung
này được coi trọng đứng mức, thực hiện đồng bộ; phân tích đánh giá đứng
thực trạng công tác quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên hiện nay,
tìm ra được nguyên nhân tồn tại; đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục
kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 phù họp, hiệu
quả thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo môn học GDQP và
AN, góp phàn giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong tình hình hiện nay.


6

Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI

mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ; trung thành với Tổ quốc; gắn
bó máu thịt với nhân dân lao động các dân tộc anh em trên đất nước Việt
Nam; đoàn kết với bạn bè quốc tế; tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng,
nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng
chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề kỷ luật trong quân đội, một
quân đội mà không có kỷ luật thì không thể lớn mạnh và trưởng thành được.
Hơn 70 năm xây dựng quân đội cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
và kỷ luật trong quân đội đã trở thành di sản tư tưởng, lý luận quý báu, là một
trong những nguyên tắc căn bản xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, bảo
đảm sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của Đảng, của cấp trên; phát
huy tinh thần dân chủ sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ ừong quân đội, đồng thời
giúp cho toàn quân nâng cao ý chí chiến đấu, đề cao tinh thần làm chủ tập thể
xã hội chủ nghĩa, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, vượt qua mọi khó
khăn, gian khổ, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng đất nước, xây
dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
Một nét đặc trưng tiêu biểu của kỷ luật quân đội đó là tinh thần kỷ luật
tự giác cao. Tinh thần “quân lệnh như sơn” ở đây đã được thực hiện bằng tình
đồng đội, tình “huynh đệ”, và nhiều hơn, chính là lòng tự trọng, danh dự.
Tinh thần kỷ luật cao đồng thời chính là cội nguồn tạo thành sức mạnh
bách chiến, bách thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.


8

Và để duy trì kỷ luật trong quân đội, Bộ quốc phòng đã ban hành hệ
thống văn bản để nhằm duy trì kỷ luật thống nhất trong toàn quân đối với mọi
quân nhân, công nhân viên quốc phòng, lao động hợp đồng. Trong đó phải kể
đến đó chính là Điều lệnh quản lý bộ đội QĐNDVN; Điều lệnh đội ngũ
QĐNDVN; các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, thông tư ...

an ninh cho học sinh, sinh viên năm học 2012-2013 và những năm tiếp theo”, Tạp
chí Dân quân tự vệ - Giáo dục quốc phòng, tháng 8, năm 2012, số 59, tác giả cũng
chỉ rõ vấn đề cơ bản là phải giáo dục, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên gáo dục quốc phòng và an ninh.
Nhìn tổng thể, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cơ
bản nào đề cập toàn diện đến cơ sở lý luận, thực tiễn công tác quản lý giáo
dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2. Vì vậy, việc
nghiên cứu làm rõ về lý luận, thực tiễn, đánh giá đứng thực trạng, đề xuất các
giải pháp để quản lý giáo dục kỷ luật quân đội cho sinh viên ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 là càn thiết, nó góp phàn nâng cao chất lượng giảng dạy và
rèn luyện xây dựng bản lĩnh, tác phong và ý thức tổ chức, kỷ luật cho sinh
viên khi học tập ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay.
1.2. Môt số khái niêm cơ bản




1.2.1. Quản lý
Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà càn
phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Quá trình
tạo ra của cải vật chất và tinh thần, ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn
với tính chất và độ phức tạp ngày càng cao, càng đòi hỏi sự phân công và hợp
tác để liên kết mọi người ừong tổ chức. Chính từ sự phân công, chuyên môn
hóa lao động đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt - lao động quản lý. Hoạt
động quản lý cần thiết vói mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, trong mỗi
quốc gia và trên toàn cầu. Vì vậy quản lý vừa có những đặc điểm chung, có
quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thể khác, vừa có tính độc lập tương đối


10

trên tất cả các phương diện: chủ thể, đối tượng, công cụ, phương tiện, cách
thức tác động và mục tiêu. Sự phân biệt giữa hoạt động sản xuất vật chất và
hoạt động quản lý được minh họa bằng sơ đồ sau đây (Sơ đồ 1.2).

Sơ đồ 1.2. Quy trình của hoạt động quản lý


11

Tuy nhiên sự phân biệt giữa hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất
vật chất có ý nghĩa tương đối và chỉ tồn tại trong lĩnh vực nhận thức. Trong
thực tế (về mặt bản thể luận), hoạt động quản lý có quan hệ hữu cơ với hoạt
động sản xuất và các hoạt động cụ thể khác của con người, bởi vì như chứng
ta đã biết: Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động
chung của con người và vì vậy, nó là hoạt động mang tính phổ quát.
Từ xuất phát điểm như đã trình bày ở trên, kế thừa những nhân tố hợp
lý của cách tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý,
có thể tổng hợp và rút ra một số cách hiểu về quản lý như sau:
- Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành
công việc qua những nỗ lực của người khác.
- Quản lý là phổi hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng
sự khác trong cùng một tổ chức.
- Quản lý là hoạt động thiết yểu đảm bảo phổi hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt mục đích chung của cả nhóm.
- Quản lý là điều khiển con người và sự vật nhằm đạt mục tiêu đã định
trước.
- Hay đơn giản, quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó.
- Quản lý là tác động có ỷ thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ
thể quản ỉý tới đổi tượng quản lý để phổi hợp các nguồn lực nhằm thực hiện
mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biển đổi.

quản lý có những đặc trưng cơ bản sau:
- Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến.
- Hoạt động quản lý biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con
người.
- Quản lý là tác động có ý thức.
- Quản lý là tác động bằng quyền lực.
- Quản lý là tác động theo quy trình.
- Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực.
- Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung.


13

- Quản lý là hoạt động vừa có tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.
- Mối quan hệ giữa quản lý và tự quản.
Và quản lý có 4 chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng lập kế hoạch.
- Chức năng tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo.
- Chức năng kiểm tra.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã
hội, vì thế nó cần phải được quản lý. Từ đó hình thành một dạng quản lý trong
hệ thống quản lý xã hội. Dạng quản lý này có tên gọi là: “Quản lý giáo dục”
Cũng như khái niệm quản lý nói chung, khái niệm quản lý giáo dục
cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng, tùy theo những phương diện nghiên
cứu và tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục. Điều này được chứng
minh bởi một số quan niệm về quản lý giáo dục được liệt kê dưới đây.
Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có
mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của

Như chúng ta đã biết Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách
mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ; trung thành với Tổ quốc; gắn
bó máu thịt với nhân dân lao động các dân tộc anh em trên đất nước Việt
Nam; đoàn kết với bạn bè quốc tế; tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng,
nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng
chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ những ngày đầu thành lập quân đội, cũng như khi bước vào
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định tầm quan trọng của kỷ luật quân đội là nền tảng thắng lợi
trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội.
Hồ Chí Minh quan niệm kỷ luật đó là mọi việc đều phải theo mệnh


15

lệnh cấp trên; mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và
triệt để thi hành; mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống mỗi đội
viên; báo cáo từ dưới lên trên phải cho thật thà, nhanh chóng và thiết thực;
thưởng phạt phải công minh, chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai thân
với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ; là cá nhân phải tuyệt đối phục
tùng tổ chức, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phục tùng cấp trên, địa
phương phục tùng Trung ương... .Nói tóm lại, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ
luật trong quân đội là từ việc lớn đến việc nhỏ, từ đánh trận đến luyện quân,
từ giúp dân đến xây dựng đất nước, mọi việc cán bộ, chiến sĩ đều phải tuân
theo và triệt để thi hành mệnh lệnh của cấp trên, kỷ luật được thi hành bình
đẳng, nhất quán, triệt để từ ừên xuống dưới, không phân biệt đối xử.
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng quân đội cho thấy, tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ và kỷ luật trong quân đội đã trở thành di sản tư tưởng, lý
luận quý báu, là một ừong những nguyên tắc căn bản xây dựng lực lượng vũ
trang cách mạng, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của

Nam (gọi tẳt là kỷ luật quân đội) là kỷ luật của quân đội cách mạng, là kỷ
luật tự giác, nghiêm minh. Thông thường, kỷ luật mang tính bắt buộc, nhưng
kỷ luật của quân đội, bản chất là sự thống nhất giữa hai mặt “tự giác ” và
“nghiêm minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật trong quân đội luôn là một trong
những vấn đề quan trọng định hướng, bảo đảm cho việc xây dựng quân đội
nhân dân thực sự cách mạng, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến
đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Dân chủ tốt, kỷ
luật nghiêm vừa là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng,
vừa là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, là sức mạnh chiến đấu của Quân
đội nhân dân Việt Nam.


17

1.2.4. Quản lý giáo dục kỷ luật quân đội
Quản lý giáo dục kỷ luật quân đội là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý tới khách thể quản lý nhằm giúp hoạt động giáo dục kỷ luật quân đội
đạt được kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người có nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của công tác giáo dục kỷ luật quân đội
đối vói sinh viên học GDQP và AN.
Kỷ luật quân đội là yếu tố quan trọng để sinh viên có ý thức hơn, có
trách nhiệm hơn và thật sự tự giác trong học tập, rèn luyện cũng như khi tham
gia các hoạt động khác.
Giáo dục kỷ luật quân đội là quá trình hình thành và phát triển ý thức tự
giác, nghiêm minh đồng thời đây cũng là một phẩm chất, nhân cách của sinh
viên biểu hiện trong việc tự giác điều khiển hành vi của bản thân tuân theo
những đòi hỏi của luật pháp nhà nước, điều lệnh, điều lệ, 12 điều kỷ luật và
các quy định của quân đội.
Mỗi sinh viên là một nhân cách hoạt động, để đáp ứng với yêu cầu hoạt

người tự lập về mọi mặt so với những thanh niên cùng độ tuổi không học đại
học, phải tham gia lao động sớm. Vì vậy, tính chất trưởng thảnh của thanh
niên sinh viên có những nét đặc trưng riêng. Nhà tâm lý học người Pháp
Bianka Zazzo đã nghiên cứu tuổi trưởng thành của thanh niên sinh viên và đi
đến kết luận: Trình độ học vấn và vị trí xã hội của con người có ảnh hưởng
đến sự trưởng thành của họ. Những nghiên cứu của ông cho thấy, thanh niên
nông thôn trưởng thành về mặt xã hội sớm hơn thanh niên công nhân; thanh
niên sinh viên trưởng thành về mặt xã hội muộn nhất. Điều này là do càng
tham gia lao động sản xuất sớm thì tình cảm trách nhiệm, tình cảm nghĩa vụ
càng hình thành sớm, họ nhanh chóng sống độc lập và tách khỏi sự phụ thuộc
vào cha mẹ.


19

Mặt khác theo các nhà tâm lý học tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển
tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình
cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ. Những tình cảm này biểu hiện rất phong
phú trong hoạt động và trong đời sống sinh viên. Đặc điểm của nó là tính
hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó.
Đối với sinh viên học tập môn GDQP và AN tại Trung tâm GDQP
Hà Nội 2 rất đa dạng, phong phú, đến từ nhiều trường khác nhau, họ mang
theo những nét đặc trưng của từng trường, văn hoá vùng miền, truyền
thống gia đình, phong tục tập quán,....và đang theo học ở nhiều ngành
nghề khác nhau.
Sinh viên học môn GDQP và AN đến từ các trường Đại học, cao
đẳng chủ yếu là sinh viên năm thứ nhất và đàu năm thứ hai nên tuổi đời
còn rất trẻ, đại đa số sinh viên đã sống xa nhà, còn lại số ít là sinh viên
đang ở cùng nhà với bố mẹ với điều kiện là trường học gàn gia đình. Sinh
viên đang ở môi trường bên ngoài rất thoải mái trong sinh hoạt, học tập, tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status