Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo pháp luật việt nam - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã ngành: 60380107

KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG
LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

NGUYỄN KHẮC MINH

Tiến sỹ ĐỒNG NGỌC BA

Hà Nội – 6/2015

i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Tiến sĩ Đồng Ngọc Ba đã trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu đề tài; cảm ơn sự góp ý và tạo
điều kiện giúp đỡ, tận tình giảng dạy của các cô giáo, thầy giáo khoa Luật và khoa

KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH
THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN ............................................................. 5
1.1. Một số vấn đề lý luận về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền. ................................................................................................................... 5

1.1.1. Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền .......... 5
1.1.2. Các yếu tố cấu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường......................................................... 9
1.1.3. Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường ........................................... 12
1.2. Pháp luật kiểm soát với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị
trí độc quyền......................................................................................................... 16

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền .................................................................. 16
1.2.2. Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ............................................................................ 18
1.3. Pháp luật kiểm soát đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền của một số nước trên thế giới. ...................................................... 20

1.3.1. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp
luật của Mỹ .......................................................................................................... 20
1.3.2. Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật
của Liên minh Châu Âu (EU) ................................................................................. 22
1.3.3. Kiểm soát hành vi vi phạm lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo

iii


Pháp luật Trung Quốc ............................................................................................. 23

iv


3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiệnpháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm
soát hành vi lạm dụng vị trí thống thị trường, vị trí độc quyền ............................. 49

3.1.1. Hoàn thiện các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường, vị trí độc quyền ................................................................................... 49
3.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền .................................................................. 52
3.2.3. Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền .................................................................. 55
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 62
CÁC TRANG WEB ............................................................................................. 64

v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA

: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC

: Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương

EU


điều tiết của nhà nước đang từng bước đổi mới cho phù hợp và đáp ứng đòi hỏi của
quy luật kinh tế thị trường; lối mòn hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn
còn ảnh hưởng, sự gia tăng nhanh chóng và không ngừng lớn mạnh của các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài có sự vượt trội về khả năng tài chính, tư duy kinh tế và kinh
nghiệm thương trường, đã khiến cho các hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh, hạn
chế cạnh tranh, mà trong đó có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí
độc quyền đang có chiều hướng gia tăng khó kiểm soát, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến môi trường đầu tư, và xa hơn đó là gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội,
ảnh hưởng không tốt đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xem xét, đối chiếu với thực
tiễn nhằm xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường từ đó xây dựng
chính sách pháp luật có thể kiểm soát và ngăn chặn các hành vi trên, duy trì trật tự
cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế là vấn đề có

1


tầm quan trọng được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm. Luật Cạnh tranh được
Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7
năm 2005, thi hành đến nay được 10 năm , đã phát huy tác dụng to lớn trong trật tự
quan hệ thương mại, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh. Tuy nhiên
qua quá trình thực hiện còn có nhiều vấn về phát sinh, bộc lộ những bất cập cần
phải nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tại Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc
quyền còn khá mới mẻ ở nước ta, cho đến nay việc nghiên cứu về lĩnh vực này còn
khá khiêm tốn. Có một số công trình nghiên cứu như: Đặng Vũ Huân (2002), Pháp
luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,

cứu cụ thể của khoa học xã hội như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ
thống hoá...
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ trương, đường lối
của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật
của Nhà nước về cạnh tranh và kiểm soát các hành vi độc quyền, lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường .
5. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ỏ Việt Nam, phân tích nguyên nhân kinh tế-xã hội,
những tác động tích cực hay tiêu cực của tình trạng thống lĩnh thị trường và đặc biệt
là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền .
- Tìm hiểu chính sách pháp luật về kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị
trí độc quyền ở một số nước trên thế giới để tham khảo, rút kinh nghiệm.
- Tìm hiểu thực trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và tình trạng lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường, độc quyền ở Việt Nam, qua đó rút ra những đánh
giá và những nguyên nhân.
- Đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả chính sách
pháp luật về điều chỉnh, kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
và vị trí độc quyền trong thương mại ở Việt Nam.

3


6. Những kết quả nghiên cứu mới
- Khái quát những vấn đề lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền và việc kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc
quyền, phân tích nguyên nhân, những tác động tích cực và tác động tiêu cực vào
nền kinh tế.
- Trình bày khái quát các quy định của pháp luật về kiểm soát các hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp ở một số nước

1.1.1. Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chính là động lực phát triển của các
thành phần, các chủ thể kinh tế cùng tham gia kinh doanh. Động lực cạnh tranh kích
thích các doanh nghiệp cải tiến thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý để ứng
dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm, hàng hoá và của doanh nghiệp của mình. Theo một phương diện nào đó, cạnh
tranh cũng có ý nghĩ tích cực là nó duy trì áp lực liên tục lên tất cả các đối thủ trên
thương trường, buộc chúng phải luôn tìm cách đổi mới để thích nghi và tồn tại, nếu
không muốn bị loại khỏi cuộc chơi. Nhưng mặt khác, sự cạnh tranh sẽ dẫn đến các
đối thủ sẽ tìm mọi cách tiêu diệt, thôn tính lẫn nhau để chiếm lĩnh thị trường và
khẳng định sức mạnh kinh tế của mình. Quá trình này thường diễn biến theo logic
từ cạnh tranh lành mạnh đến cạnh tranh không lành mạnh và dẫn đến một hệ quả tất
yếu là sản sinh ra tình trạng thống lĩnh và độc quyền.
Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng đối
với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ của một
hoặc một số doanh nghiệp. Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống lĩnh không chỉ
được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn có thể là vị trí của
một nhóm doanh nghiệp cùng hành động. Tức là giữa nhóm doanh nghiệp này
không có sự thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện các
hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối
thủ…

5


Trong khi đó, vị trí độc quyền được hiểu là vị trí của một doanh nghiệp khi
không còn đối thủ nào cạnh tranh với doanh nghiệp đó hoặc có sự cạnh tranh nhưng
sự cạnh tranh đó rất yếu ớt và không đáng kể. Nói cách khác sự cạnh tranh trên thị
trường liên quan của doanh nghiệp hầu như bị loại trừ.
Độc quyền có thể hình thành từ việc doanh nghiệp có ưu thế về vốn, quy mô

hình thái độc quyền còn được nhà nước xác lập và duy trì như một trạng thái cần
thiết cho sự phát triển cân bằng của nền kinh tế. Quan trọng là ở chỗ, các doanh
nghiệp sau khi đã có được vị trí thống lĩnh, độc quyền hoặc được nhà nước xác lập
cho vị trí thống lĩnh, độc quyền thì luôn có xu hướng lạm dụng vị trí của mình để
thu lợi nhuận, gây hại đến lợi ích của các chủ thể khác và của nhà nước. Chính từ
thực trạng các doanh nghiệp khi có vị trí thống lĩnh, độc quyền thường lạm dụng vị
trí của mình đã làm cho pháp luật tất yếu phải có những quy định để điều chỉnh và
kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để kiếm lời và
xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác thì bị coi là bất chính.
Với bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không có sự quản lý, điều tiết hiệu quả bằng
chính sách, luật pháp thì rất dễ phát sinh lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền.
Khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường thì quá
trình tích tụ Tư bản dẫn tới sự hình thành các tập đoàn kinh tế có khả năng chi phối
hoạt động kinh doanh, sản xuất, cung ứng và giá cả trên thị trường.
Muốn kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết pháp luật phải nhận
diện được đối tượng đó và những thuộc tính của nó. Tương tự như vậy, để điều
chỉnh hành vi thống lĩnh và độc quyền thì pháp luật về cạnh tranh và chống lạm
dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền cũng phải đưa ra được khái niệm về thống
lĩnh, vị trí độc quyền. Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của
mỗi nước cũng đưa ra những quan niệm và tiêu chí xác định hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền khác nhau.
Tại Canada Điều 79 của Luật cạnh tranh quy định ba dấu hiệu của hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh là
- (i) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trường liên quan
- (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh;
- (iii) hành vi đó đã, đang và hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị
trường một cách đáng kể [11].
Bên cạnh đó, còn có một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế
giới khi định nghĩa về hành vi lạm dụng. Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hiệp


theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh
theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích
phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan

8


trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Thêm vào đó, Nghị quyết Hội
nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, khoá IX đã chỉ rõ: “Thực hiện độc quyền nhà
nước trong những lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành
độc quyền doanh nghiệp...”.
Thực hiện chủ chương đúng đắn đó của Đảng, với việc phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, chúng ta đã từng bước xoá bỏ sự độc quyền của các doanh nghiệp
nhà nước và tạo lập được môi trường kinh doanh bình đẳng cho tất cả các chủ thể
tham gia kinh doanh trên thị trường. Điều này đã tạo động lực cho nền kinh tế Việt
Nam phát triển lành mạnh và đúng hướng. Để trở thành thành viên chính thức thứ
150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam đã phải mất hơn 11 năm
đàm phán và sửa đổi, bổ sung chính sách kinh tế thương mại của mình. Trong số
những nguyên tắc chủ đạo của WTO thì nguyên tắc không phân biệt đối xử và cạnh
tranh bình đẳng có vai trò cực kỳ quan trọng. Là Thành viên của WTO, Việt Nam
bắt buộc phải thực hiện nguyên tắc này. Hơn thế nữa, để đảm bảo có được một môi
trường kinh doanh bình đẳng, ngay từ trước khi gia nhập, trong số hàng trăm văn
bản quy phạm pháp luật Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới có Luật
Cạnh tranh. Ngày 03/12/2004, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Cạnh tranh và
Luật này đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2005.
1.1.2. Các yếu tố cầu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền
Các yếu tố dù được mô tả bằng nhiều hình thức khác nhau, song nhìn chung
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền thường có ba dấu hiệu
để nhận dạng.

cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua. [13,tr682]
Về mặt học thuật, có hai vấn đề cần phải làm rõ là: thứ nhất, hành vi lạm
dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên
quan đã được xác lập. Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xóa
bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi
lạm dụng vị trí thống trị thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh. Một khi
doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì
chúng vẫn có chủ thể được pháp luật bảo vệ; thứ hai, chủ thể thực hiện việc lạm
dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4)
có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan.

10


Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp có
quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Bởi trong pháp luật về
hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng có một số
điểm giống nhau, ví dụ (i) đều có thể do một nhóm doanh nghiệp thực hiện; (ii) nội
dung của chúng cũng giống nhau, như: phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, phân
phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ thuật… Tuy nhiê, khi một nhóm
doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có
sự thỏa thuận trước. Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng
cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thỏa thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực
hiện những hành vi nói trên thì hành động của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật
chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Dấu hiệu thứ ba: Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc
giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan. Dấu hiệu này cho thấy khả năng hạn chế
cạnh tranh của hành vi lạm dụng và tác hại của nó đối với thị trường. Như đã phân

hợp nhất, mua lại và liên doanh, là những chiến lược do các doanh nghiệp thực hiện
có khả năng hình thành nền các thế lực độc quyền thông qua các sự tích tụ dần từ
hiệu quả kinh tế. Như vậy, nếu mức giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh mà hành
vi lạm dụng gây ra được chứng minh bằng những lợi ích mà các doanh nghiệp khác,
hoặc khách hàng phải gánh chịu, thì đối với tập trung kinh tế, điều đó sẽ được
chứng minh bằng những suy đoán là việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua
lại hay liên doanh có thể thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trên thị trường do chúng đã tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có
quyền lực thị trường. Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng hướng đến việc cấm
đoán hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chạn khả
năng hình các thế lực có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành tập trung
kinh tế.
1.1.3. Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường
Thống lĩnh và độc quyền có thể xuất hiện với tính cách là hậu quả của thủ
pháp thông đồng ngầm của các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng hoặc
vùng tiêu thụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngành. Thống lĩnh và độc quyền cũng
có thể xuất hiện do sự tồn tại của những vật cản đối với khả năng nhập cuộc của các

12


doanh nghiệp tiềm năng. Đó là những vật cản mang tính pháp lý, hành chính và
những vật cản mang tính kinh tế. Những vật cản mang tính pháp lý chính là các điều
luật loại bỏ hoàn toàn sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng vào một ngành
kinh tế trong một giai đoạn nhất định. Một ví dụ phổ biến nhất trong thực tế là lĩnh
vực bảo hộ việc độc quyền khai thác các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp
của chủ văn bằng bảo hộ. Việc làm này, một mặt khuyến khích đầu tư cho khoa học
kỹ thuật, mặt khác lại gây ra sự thiệt haị cho xã hội do có sự độc quyền. Bởi vậy,
pháp luật phải tìm được thời hạn tối ưu cho việc khai thác độc quyền các đối tượng

lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh, độc
quyền của mình bằng cách tiêu diệt các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuất hiện trên
thị trường của các đối thủ này. Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh thực chết
đã triệt tiêu sự cạnh tranh thương trường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ
không còn áp lực để các doanh nghiệp phát triển.
Thứ hai, lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền tạo ra nguy cơ khủng hoảng
và suy thoái của nền kinh tế. Các doanh nghiệp thống lĩnh và độc quyền sử dụng vị
thế này vào việc tự định giá cả hàng hóa độc quyền, kìm hãm sản lượng hàng hóa để
tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổi mới
công nghệ, tăng năng suất nữa. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các
công ty thống lĩnh và độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến suy giảm và suy thoái
của cả một ngành sản xuất nào đó. Sự khan hiếm của hàng hóa và giả cá leo thang
do tình trạng thống lĩnh và độc quyền gây ra sẽ là nguyên nhân đến sự lạm phát và
gây ổn định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp.
Thứ ba, lạm dụng vị trí thống lĩnh và độc quyền tạo ra cho các công ty thống
lĩnh và độc quyền những khoản thu nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp
phần làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội. Ngay từ thế kỷ
XIX, trong tác phẩm nổi tiếng “Sự giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã chỉ ra
bản chất của độc quyền là: “Bằng cách làm cho thị trường luôn luôn không đủ dự
trữ, các nhà độc quyền… đã bán hàng hóa của họ với mức giá cao hơn giá tự nhiên
rất nhiều, và nhờ đó, tăng phần thu nhập của họ dưới dạng tiền thưởng hay lợi
nhuận…”. Như vậy, lợi nhuận mà các công ty độc quyền có được thực chất là nhờ
vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng từ giá cả độc quyền với giá tự nhiên của
hàng hóa, tức là đã bòn rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi một
số ít công ty độc quyền, đẩy những người nghèo đi đến chỗ càng nghèo thêm, còn
các công ty độc quyền thì phất lên nhanh chóng.

14




15


nhuận của một doanh nghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản suất kinh doanh. Không
phải ngẫu nhiên mà nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ là Joseph Shcumpeter
(1883 – 1950) đã ủng hộ mô hình kinh tế trong đó có sự tồn tại của các thế lực
thống lĩnh và độc quyền.
Đối với độc quyền nhà nước, nếu duy trì ở quy mô thích hợp và được kiểm
soát tốt sẽ góp phần tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế cũng như trong việc thực thi
các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của chính phủ, tạo thế chủ động trong hội
nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ các ngành và các cơ sở sản xuất trong nước, bảo vệ lợi
ích của người tiêu dùng và đáp ứng tốt các nhu cầu của quốc kế dân sinh. Ở hầu hết
các quốc gia, độc quyền nhà nước được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu
bên cạnh các công cụ khác trong việc điều tiết nền kinh tế quốc dân.
Cũng cần nói thêm rằng người tiêu dùng không chỉ phải chi phí đắt thêm cho
hàng hóa, dịch vụ thống lĩnh, độc quyền, mà họ chỉ chịu thiệt thòi khi không được
hưởng những thành quả sáng tạo trong sản xuất. Nhà sản xuất sau khi đã đạt đến vị
trí thống lĩnh và độc quyền sẽ lơ là việc đầu tư cho nghiên cứu phát minh vì giờ đây
họ không còn đối thủ để ganh đua nữa, thay vào đó họ chỉ lo việc khống chế sản
lượng để tăng giá nhằm thu về lợi nhuận thống lĩnh, độc quyền tối đa. Kết quả là
nền sản xuất bị giậm chân tại chỗ, thị trường sẽ thiếu vắng những sản phẩm dịch vụ
mới với những chất lượng tốt hơn, còn người tiêu dùng thì vẫn phải chấp nhận
những sản phẩm, dịch vụ cũ với giá cao vì họ không còn có sự lựa chọn nào khác.
1.2. Pháp luật kiểm soát với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền.
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị
trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Về khái niệm và đặc điểm đó là: Nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát

pháp luật nội dung trong thực tiễn. Pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền cũng
quy định cụ thể và các thiết chế có thẩm quyền thực thi pháp luật kiểm soát thống
lĩnh, độc quyền như Cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh. Bên cạnh đó
pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành
luật khác nhau như Hiến pháp, Luật hình sự, Luật hành chính và các lĩnh vực khác
như Luật tài sản, Luật hợp đồng, Luật về bồi thường thiệt hại, Luật sở hữu trí tuệ…
Thứ hai, cho dù nội dung cụ thể có khác nhau, nhưng mục đích chung của
việc điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền bằng

17


pháp luật ở các nước là nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa
lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Pháp luật
chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền nhằm mục đích đảm
bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng và từ đó đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh được công bằng, tự do. Nó là công cụ của Nhà nước để duy trì quyền tự do
cạnh tranh lành mạnh bằng việc hạn chế các đặc quyền kinh tế trong kinh doanh.
Mục đích lớn nhất của pháp luật chống các thỏa thuận hoặc hành vi hạn chế cạnh
tranh, kiểm soát độc quyền là đảm bảo sự điều hành nền kinh tế phát triển một cách
tự do, xác lập các hoạt động kinh doanh công bằng. Và ngày nay, ở nhiều nước trên
thế giới người ta nói rằng, pháp luật chống các thỏa thuận hoặc hành vi hạn chế
cạnh tranh, kiểm soát độc quyền được xem như là hiến pháp của kinh tế.
Thứ ba, Pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, đôc quyền của hầu hết các nước
đều tập trung vào hai vấn đề trọng tâm là quy định hành lang pháp lý để kiểm soát
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các công ty thống lĩnh, độc
quyền, và kiểm soát hoạt động tập trung quyền lực kinh tế thông qua việc hợp nhất,
sáp nhập, mua lại quyền điều hành dưới mọi hình thức. Trong đó khía cạnh thứ hai
được pháp luật kiểm soát hành vi thống lĩnh, độc quyền của các nước đặc biệt quan
tâm. Tuy nhiên, pháp luật các nước có sự điều chỉnh cũng không hoàn toàn giống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status