Xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo, Trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội
Khoa Môi trường
Hội đồng chấm Đồ án tốt nghiệp
Tên em là: Vũ Thị Hằng - Sinh viên nghành Quản lý Tài nguyên và Môi
trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm đồ án một cách khoa học,
chính xác và trung thực.
Các kết quả, số liệu nêu trong đồ án đều có thật, thu được trong quá trình nghiên
cứu và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào.
Bắc Ninh, ngày 30 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Vũ Thị Hằng

1


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại Trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình
và bạn bè xung quanh
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô ở Khoa Môi
trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã cùng với tri thức và
tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời
gian học tập tại đây. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ
là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đồ án tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu
giúp ích cho công việc của em sau này để em thành công hơn trong cuộc sống
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
cô TS.Nguyễn Thị Hồng Hạnh người đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt quá trình

BVTV
BVMT

3

: Chỉ thị
: Thông tư
: Chính phủ
: Nghị quyết
: Nghị định
: Trung ương
: Ban chấp hành
: Thông tư liên tịch
: Ủy ban nhân dân
: Bảo vệ thực vật
: Bảo vệ môi trường


MỤC LỤC

4


DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

5



6


điểm quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự tham gia của cộng đồng và
lồng ghép các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả
các giai đoạn của hương ước, quy ước, gồm những quy định cụ thể về vệ sinh nơi ở
và những khu vực chung, quản lý rác thải, sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón và chất
kích thích cây trồng một cách hợp lý, đồng thời quy định về việc bảo vệ hệ sinh thái
và đa dạng sinh học.
Vì vậy trong báo cáo đồ án tốt nghiệp em đã chọn đề tài“Xây dựng hương
ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn
Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng đồng
nhằm thực hiện công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường từ cấp trung ương đến địa
phương tại thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng môi trường tại thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Hiện trạng về công tác quản lý môi trường tại thị trấn Thứa, huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Bản hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn
Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
.

7


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1. Cơ sở pháp lý xây dựng hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của

gắt.
Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do chưa có nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách
nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo
vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ
môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của nhà nước, của các doanh
nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường
còn nhiều yếu kém, phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành
pháp luật chưa nghiêm.
3) Chỉ thị số 29/ CT-TW Chỉ thị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết
41/ NQ-TW của Bộ chính trị
- Tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ
Chính trị; xác định rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân, nhất là nguyên
nhân chủ quan, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; đề ra các giải pháp cụ thể để thực
hiện tốt các nhiệm vụ trong Nghị quyết 41 và Chỉ thị này; đưa nội dung kiểm điểm
công tác bảo vệ môi trường vào báo cáo tổng kết, đánh giá định kỳ của cơ quan, đơn vị
- Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức
bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong tuyên
truyền về bảo vệ môi trường; đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền, làm cho
nhân dân hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và
biến đổi khí hậu đối với sức khỏe con người, đời sống xã hội và sự phát triển bền
vững của đất nước; những bài học và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường và ứng phó
với biến đổi khí hậu của các nước trong khu vực và trên thế giới; công bố công khai
những tổ chức, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và hình thức xử
lý. Đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ
thống giáo dục quốc dân. Coi trọng việc phát động phong trào bảo vệ môi trường

Nội dung của hương ước
Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự
chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội
10


mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập
quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư,
góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ
dân trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống
của cộng đồng dân cư, nội dung của hương ước tập trung vào một số vấn đề cụ thể
sau đây:
- Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham
gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ của
nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa
vụ công dân;
- Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn
minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xoá bỏ hủ tục, phát triển các hoạt động
văn hoá lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương
thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các
chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước;
- Đề ra biện pháp góp phần bảo vệ tài sản nhà nước tài sản công cộng và tài
sản công dân, bảo vệ môi trường sống,bảovệ rừng, biển,sông, hồ, danh lam
thắngcảnh, đền chùa,miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương,
kè cống, đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây
xanh;
- Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹtục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã
hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang; lễ hội, thờ phụng ở địa phương;
khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn

lập sổ vàng truyền thống nêu người tốt, việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của
tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hoá, và các hình thức khen
thưởng khác do cộng đồng tự thoả thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen
thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước thì chủ
yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, thông
báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường hợp vi phạm nghiêm
trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất tập thể cộng
đồng, có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp
dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề xâm
12


phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân. Trong hương ước không đặt ra các khoản phí, lệ phí.
Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những người
có hành vi vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn;
giáo dục, cảm hoá, giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở thành những người
lương thiện, có ích cho xã hội.
Những hành vi vi phạm pháp luật phải do các cơ quan có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hương ước
không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Hình thức thể hiện của hương ước
- Về tên gọi: có thể dùng tên gọi chung là Hương ước hoặc Quy ước (làng,
bản, thôn, ấp, cụm dân cư).
- Về cơ cấu và nội dung: Hương ước có thể có lời nói đầu ghi nhận truyền
thống văn hoá của từng làng bản, thôn, ấp, cụm dân cư và mục đích của việc xây
dựng hương ước.
Nội dung của hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản,
điểm. Các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của

đổi trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi, bổ sung hoặc chính địa
phương cần có những thay đổi bổ sung cho phù hợp với cách sống, phong tục của
mình.
Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và sửa đổi,
bổsung hương ước
Hương ước phải được xây dựng một cách thực sự dân chủ, công khai, phù
hợp với các quy định của pháp luật, được chia theo các bước cơ bản như sau:
Bước 1. Thành lập Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước
Trưởng thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư (sau đây gọi chung là Trưởng thôn)
chủ trì cùng Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thống nhất các nội dung
cơ bản cần soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn thảo. Thành
viên Nhóm soạn thảo là những người có uy tín và kinh nghiệm sống, có trình độ văn
hoá, hiểu biết về pháp luật và phong tục tập quán ở địa phương, có phẩm chất đạo
đức tốt. Nhóm soạn thảo cần có sự tham gia của đại diện một số cơ quan, tổ chức và
đại diện của các thành phần trong cộng đồng dân cư như: cán bộ hưu trí, cựu chiến
binh, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, trưởng tộc và những người khác
có uy tín, trình độ trong cộng đồng.
14


Trưởng thôn chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt trận, dưới sự lãnh đạo
của chi bộ Đảng ở cơ sở chỉ đạo Nhóm soạn thảo xây dựng hương ước.
Việc dự thảo hương ước cần tập trung vào các vấn đề được nêu tại điểm 1
Phần a ở trên. Đồng thời, cần tham khảo nội dung các hương ước cũ (nếu có) cũng
như nội dung của các hương ước của địa phương khác để lựa chọn, kế thừa được
những nội dung tích cực, phù hợp đã trở thành phong tục, tập quán tốt đẹp. Ở những
nơi phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được thể hiện bằng Luật tục
thì chọn lọc đưa vào hương ước những quy định của Luật tục phù hợp với pháp luật
và thuần phong mỹ tục.
Bước 2. Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vào dự

phù hợp với pháp luật, thuần phong mỹ tục và trao đổi thống nhất với Chủ tịch Hội
đồng nhân dân cấp xã về nội dung của hương ước trước khi trình Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp huyện phê duyệt
Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí
thư chi bộ, Trưởng ban công tác Mặt trận và già làng (nếu có) kèm theo Biên bản
thông qua tại Hội nghị
Hương ước gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phải có công văn
đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và công văn đề nghị phê
duyệt
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định phê duyệt hương ước.
Hương ước đã được phê duyệt phải có dấu giáp lai.
Trong trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp chủ
trì phối hợp vớiPhòng Văn hoá - Thông tin hướng dẫn để cơ sở chỉnh lý, hoàn thiện
các hương ước đó để trình lại.
Tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ sung hương ước
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển hương ước đã được phê
duyệt để Trưởng thôn niêm yết tuyên truyền, phổ biến đến từng thành viên trong
cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện hương ước.
Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội ở cơ sở chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện nghiêm chỉnh các
nội dung của hương ước; kiểm tra, phát hiện và kịp thời chấn chỉnh những sai trái,
lệch lạc, tiêu cực trong việc thực hiện hương ước, định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân
cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện hương ước ở địa phương.
16


Hàng năm, cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện hương ước. Trong trường
hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình

17


Trình bày một số ví dụ về các hương ước của những địa phương khác để lấy
ý kiến.
Các phương pháp và công cụ để các thành viên trong cộng đồng tham gia
xác định các vấn đề và giải pháp (ví dụ, sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ vấn
đề).
Bước 3: Thu thập thông tin
Mỗi lãnh đạo phường cần lập một nhóm khoảng 10 người. Nhiệm vụ của các
nhóm là thu thập ý kiến của người dân và xây dựng dự thảo hương ước trên cơ sở
các ý kiến và ưu tiên của phường. Nhóm này nên có số lượng bình đẳng nam nữ và
cố gắng có sự tham gia của các thành viên đại diện cho các nhóm xã hội và độ tuổi
khác nhau.
Mỗi nhóm quyết định sử dụng phương pháp nào để thu thập ý kiến. Ví dụ và
các phương pháp có sự tham gia được nêu ở Chương 3: Sự tham gia của cộng đồng.
Các nhóm có thể phối hợp với các tổ chức xã hội để tổ chức họp.
Bước 4: Tổ chức họp dân
Khi đã có bản dự thảo hương ước lần thứ nhất, mỗi phường cần tổ chức một
buổi họp dân. Tại cuộc họp này, có mời các hộ gia đình đến để thảo luận và điều
chỉnh dự thảo hương ước nếu cần. Điều quan trọng là thông tin rõ ràng cho mọi
người về lý do và lợi ích của việc xây dựng hương ước.
Nếu có thể, có thể bỏ phiếu thông qua hương ước tại cuộc họp này. Nếu như
có sự bất đồng hoặc có nhiều ý kiến về nội dung hương ước, có thể phải tổ chức
một buổi họp thứ hai.
Bước 5: Phê duyệt hương ước
Các nhóm cần sửa đổi dự thảo hương ước theo những ý kiến phản hồi từ
buổi họp dân.
Sau đó, hương ước có thể được trình lên cơ quan có thẩm quyền (UBND
huyện) để phê duyệt. Cơ quan có liên quan sẽ xem xét và ban hành quyết định phê

liệu kiểm kê đất đai năm 2010, thị trấn Thứa có tổng diện tích tự nhiên là 714,57 ha.
Phía Bắc giáp xã Tân Lãng, xã Quỳnh Phú (huyện Gia Bình)
Phía Nam giáp xã Phú Lương
Phía Đông giáp xã Trung Chính, xã Phú Hoà
Phía Tây giáp xã Bình Định

19


Hình 1.1. Vị trí địa lý thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Thị trấn Thứa gồm 8 thôn: thôn Bùi, thôn Giàng, thôn Đông Hương, thôn
Phượng Giáo, thôn Phượng Trì, thôn Tân Dân, thôn Đạo Sử, thôn Kim Đào.
-

Địa hình, địa mạo
Thị trấn Thứa nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên nhìn chung địa
hình tương đối bằng phẳng. Có hướng dốc chủ yếu từ Đông Bắc xuống Tây Nam về
chênh lệch địa hình trong khoảng 2,3 - 4,2m so với mực nước biển, do vậy gặp khó
khăn trong sản xuất vào mùa mưa.
- Khí hậu
Thị trấn Thứa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng khí hậu
nóng ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc. Mùa hè nóng ẩm
mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 28,5 oc, độ ẩm trung
bình 87,5%, tổng lượng mưa 1750 mm. Mùa đông ít mưa từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau, nhiệt độ trung bình 18,5 oC, tổng lượng mưa là 255 mm.
Với điều kiện khí hậu như trên nhìn chung tạo điều kiện thuận lợi cho việc
20


phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên, có những giai đoạn khí hậu thay đổi

của thị trấn Thứa được phân ra nhiều loại đất khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở
3 loại đất chính sau:
21


+Đất phù sa không được bồi, không có tầng glây của hệ thống sông Thái
Bình, loại đất này có độ phì khá, chủ yếu được sử dụng để trồng 2 vụ lúa hoặc 2 vụ
lúa - 1 cây vụ màu.Để đảm bảo tăng năng suất lúa và cây vụ đông cần tăng cường
bón các loại phân hữu cơ.
+ Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Thái Bình, đất có thành
phần cơ giới trung bình, các chất dinh dưỡng của đất đối với cây trồng đều từ nghèo
đến trung bình. Cây trồng chính là 2 lúa hoặc lúa - màu, để nâng cao hiệu quả của
cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất lên tăng cường bón phân chuồng, lân và
vôi.
+Đất phù sa úng nước mùa hè, đất này thích hợp với việc trồng 2 vụ
lúa/năm. Để đảm bảo vừa nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời nâng cao độ phì
cho đất cần tăng cường bón vôi để cải tạo độ chua của đất [10].
Tài nguyên nước:
- Nguồn nước mặt: thị trấn Thứa sử dụng nguồn nước mặt từ sông Lai, thông
qua hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất và sinh hoạt, lượng nước khá dồi
dào. Qua thực tế sử dụng cho thấy chất lượng nước mặt ở đây khá tốt, ít bị ô nhiễm.
- Nguồn nước ngầm: thị trấn Thứa nằm trong vùng trầm tích Châu thổ sông
Hồng nên về mặt địa chất thủy văn mang rõ nét tính chất của vùng Châu thổ sông
Hồng. Nguồn nước ngầm hiện là nguồn chủ yếu được khai thác phục vụ cho sinh
hoạt và sản xuất. Hiện chưa có những nghiên cứu chi tiết về trữ lượng nước ngầm
trong vùng, nhưng qua thăm dò một số giếng nước trong khu dân cư cho thấy mực
nước ngầm nằm khá sâu (8 - 10m), chất lượng nước tốt phục vụ cho nhu cầu sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Tài nguyên nhân văn:
Nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc nói chung và huyện Lương Tài nói riêng,

bệnh cũng như do chăn nuôi nhỏ lẻ không mang lại lợi ích kinh tế cao nên người
dân bỏ dần chăn nuôi nhỏ và tập trung đầu tư trang trại ở xa khu dân cư [6].
Thủy sản
Trong những năm qua, thị trấn Thứa đầu tư phát triểnthủy sản, đã có nhiều
mô hình VAC kết hợp theo hướng trang trại, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Diện
tích nuôi trồng được mở rộng, riêng diện tích nuôi thả cá đã tăng từ 60 ha năm 2005
lên 65ha năm 2015 [6].
Khu vực kinh tế công nghiệp:
Công nghiệp và xây dựng của thị trấn có bước phát triển nhưng còn chậm,
quy mô sản xuất nhỏ. Năm 2015 trên địa bàn thị trấn có 9 doanh nghiệp lớn, thu hút
gần 500 lao động, hạng chục cơ sở sản xuất nhỏ
23


Số cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, năng lực
trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất cũng đã được nâng lên, một số sản phẩm
đã có sức cạnh tranh và tăng trưởng khá như: Thức ăn gia súc, may mặc, cơ khí –
xây dựng,… Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp đã góp phần tích
cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm của cải vật chất, tạo việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động và tăng thu ngân sách địa phương
Tuy nhiên, các giá trị của ngành công nghiệp và xây dựng vẫn còn rất nhỏ bé
và không ổn định, cơ cấu thành phần kinh tế trong công nghiệp chưa ổn định, có
biến động lớn.
Khu vực kinh tế dịch vụ:
Các ngành kinh tế dịch vụ của thị trấn phát triển nhanh trong những năm gần
đây, tận dụng được lợi thế của khu kinh tế đô thị. Thị trường buôn bán được mở
rộng, hàng hoá ngày càng phong phú, hình thành chợ đầu mối tại trung tâm thị trấn
Thứa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng dịch vụ thương mại thông thương
hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Một số hộ
làm dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp và thu gom sản phẩm khi đến vụ, các dịch

thương mại dịch vụ, công trình công cộng vẫn tập trung chính ở khu vực này. Việc
bố trí đất đai ở đô thị cần phải được xem xét thật hợp lý nhằm tạo điều kiện phát
triển cho đô thị mà vẫn đảm bảo tiết kiệm đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái cảnh
quan thiên nhiên.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng:
Giao thông:
Các con đường liên xã liên thôn, đường ngõ xóm. Phần lớn đã được dải bê
tông và cấp khối.
Ngoài ra còn có các tuyến giao thông nội đồng, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại
phục vụ sản xuất.
Nhìn chung, hệ thống giao thông của thị trấn Thứa còn chưa hoàn chỉnh.
Thiếu các tuyến giao thông theo hướng Bắc Nam để có thể phát triển không gian
theo chiều sâu.
Thủy lợi:
Thị trấn Thứa đang sử dụng hệ thống thoát nước chung tuy nhiên hệ thống
thoát nước còn chưa đồng bộ. Tuyến cống thoát nước chính bằng bê tông cốt thép
nằm trên tuyến đường trung tâm thu nước mặt rồi thoát về khu vực sông Thứa.
Ngoài ra trong các xóm, làng nước mặt tự chảy vào hệ thống mương tưới tiêu thủy
lợi.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status