1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU BAN TRIẾT HỌC
TÀI LIỆU ÔN THI
TUYỂN SINH CAO HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÔN
TRIẾT HỌC
MÁC - LÊNIN
LƯU HÀNH NỘI BỘ
2
3
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP.HCM
NỘI DUNG ÔN TẬP THI môn TRIẾT HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
DÙNG CHO TUYỂN SINH SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ
KT Trưởng khoa/ Phó trưởng khoa
TS. BÙI VĂN MƯA
4
I. QUAN NIỆM MÁCXÍT VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I.1. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊNH NGHĨA VỀ VẬT CHẤT CỦA V.I.LÊNIN
a) Nêu và phân tích định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin
•
Định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại khơng lệ thuộc vào cảm giác”.
•
Định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin cần được xem xét từ hai phương diện
Một là, trong bản thể luận cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan
niệm của các ngành khoa học cụ thể về vật chất.
-
Phạm trù triết học về vật chất dùng chỉ vật chất nói chung; đó là vật chất tồn tại vơ hạn, vơ
tận, khơng sinh ra, khơng mất đi.
-
Quan niệm của các ngành khoa học cụ thể về vật chất dùng để chỉ những vật thể / dạng thể
cụ thể của vật chất, có kết cấu và tính chất cụ thể mà các ngành khoa học cụ thể (ở những
thể biết; khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác
về vật chất.
Đối với khoa học cụ thể, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin định hướng đối với khoa học cụ thể
trong việc tìm kiếm các dạng thể cụ thể hoặc các hình thức mới của vật chất chất tồn tại trong
thế giới.
Đối với nhận thức xã hội, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã cho phép xác định tồn tại xã hội
là vật chất trong lĩnh vực xã hội. Từ đó giúp các nhà khoa học xã hội có cơ sở lý luận để giải
thích những ngun nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những ngun nhân thuộc về sự vận
động của tồn tại xã hội mà trước hết là của phương thức sản xuất; trên cơ sở ấy, người ta có thể
5
tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển.
I.2. BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC
a) Bản chất của ý thức
•
Các quan niệm phi mácxít về ý thức
Quan niệm duy tâm: Ý thức là một thực thể tinh thần độc lập (linh hồn, cái Tôi hay bản ngã,
thực tại tối cao,…) với bản tính năng động, ý thức sáng tạo ra vật chất. Chủ nghĩa duy tâm
không chỉ thừa nhận mà thậm chí còn tuyệt đối hóa, thần thánh hóa tính năng động sáng tạo của
ý thức; coi ý thức không phải là sự phản ánh của vật chất, thậm chi còn sáng tạo ra thế giớivật
chất.
Quan niệm duy vật cũ: Ý thức là sự phản ánh một cách thụ động, đơn giản, máy móc sự vật vật
chất tồn tại khách quan vào trong đầu óc con người; Chủ nghĩa duy vật cũ dù thấy được tính
phản ánh vật chất của ý thức nhưng không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, không
thấy được tính biện chứng của quá trình phản ánh của ý thức.
•
-
Ý thức con người - một thực thể xã hội năng động sáng tạo nên nó có tính năng động, giúp
con người sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu và điều kiện của thực tiễn xã hội.
Bản tính xã hội của ý thức
-
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội; ý thức ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với hoạt
động thực tiễn xã hội của con người và phản ánh các quan hệ xã hội.
-
Ý thức bị quy định bởi các điều kiện sinh hoạt hiện thực xã hội và nhu cầu giao tiếp xã hội
của con người; ý thức chịu sự chi phối chủ yếu bởi các quy luật xã hội, chứ không phải đơn
thuần bởi các quy luật sinh học.
Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức thống nhất với nhau trong hoạt động
6
thực tiễn xã hội của con người.
-
Phản ánh của ý thức là phản ánh sáng tạo.
-
Sáng tạo của ý thức là sáng tạo dựa trên sự phản ánh, theo quy luật của sự phản ánh.
Tri thức
-
Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện
trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình
thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.
-
Tri thức có nhiều loại như tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức về con người; có
nhiều cấp độ như tri thức thông thường, tri thức khoa học.
-
Ngày nay, tri thức là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Loài người
đang bước vào nền kinh tế tri thức, đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng
trưởng kinh tế dài hạn.
Tình cảm
•
-
Tình cảm là cảm xúc ổn định của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh
và đối với bản thân mình. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh thực tại; nó
phản ánh quan hệ của con người đối với nhau; cũng như đối với thế giới khách quan.
-
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà con là tự ý thức của cả xã hội, của một giai
cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình, về lợi ích mục đích, về lý tưởng… của
mình.
-
Chính trong quan hệ xã hội, con người phải tự ý thức về mình để nhận rõ bản thân mình, tự
điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra.
Tiềm thức
-
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản
năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể; là ý thức dưới dạng tiềm năng.
-
Tiềm thức có vai trò quan trọng cả trong hoạt động tâm lý hàng ngày của con người, cả
trong tư duy khoa học (giúp giảm sự quá tải của đầu óc trong việc xử lý khối lượng lớn các
tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách lặp đi lặp lại mà vẫn đảm bảo được độ chính xác và
chặt chẽ cần thiết).
Vô thức
-
Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng
xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong,
chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí.
-
Ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lượng vật chất, nghĩa là phải
được con người thực hiện trong thực tiễn. Đó là các quá trình như: vật chất hóa tri thức khoa
học, quần chúng hóa quan điểm cách mạng,…
b) Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
•
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn con người phải tôn trọng khách quan, đồng thời phải phát
8
huy tính năng động chủ quan của mình.
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của vật chất, tôn trọng các quy luật tự nhiên
và xã hội…
-
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động
nhận thức và thực tiễn của mình;
-
Không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm làm
điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực của ý thức, vai trò tích cực của
nhân tố con người.
-
Phát huy tính năng động chủ quan của con người để nhận thức đúng quy luật khách quan;
•
Vấn đề: Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại,
tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biết lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ
qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?
Quan điểm siêu hình cho rằng: Các sự vật, hiện tượng tồn tại biết lập, tách rời nhau, cái này tồn
tại bên cạnh cái kia; chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau.
Nếu giả sử giữa chúng có sự quy định, liên hệ lẫn nhau thì đó chỉ là những quy định, liên hệ bề
ngoài, mang tính ngẫu nhiên, không có khả năng chuyện hóa lẫn nhau.
Quan điểm biện chứng cho rằng: Các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc
lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau.
•
-
Quan điểm biện chứng duy tâm cho rằng: Cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (trời) hay ở ý thức, cảm giác
của con người.
-
Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định: Các sự vật, hiện tượng chỉ là những dạng khác
nhau của một thế giới thống nhất, duy nhất – thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất vật
chất của thế giới mà các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau.
Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới.
-
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến chi phối sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng.
10
c) Ý nghĩa của phương pháp luận
•
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn trọng quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi:
Phải nhận thức về sự vật trong toàn bộ các mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố,
giữa các mặt của chính sự vật và giữa sự vật đó với các sự vật khác; Phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu,
mối liên hệ tất nhiên và lưu ý đến sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản
chất của sự vật.
Khi tác động đến sự vật phải chú ý tới mọi mối liên hệ của nó; phải biết sử dụng đồng bộ các
biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam: Để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt
khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại.
•
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ
thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi:
một quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi
về chất, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ; Phát triển không phải lúc nào cũng theo
đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời; đó là quá
11
trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu
nhưng ở cấp độ cao hơn.
•
-
Quan điểm biện chứng duy tâm - tôn giáo cho rằng: Nguồn gốc của sự phát triển là những
lực lượng siêu nhiên (Thượng đế,…).
-
Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định: Nguồn gốc của sự phát triển là những mẫu thuẫn
nằm trong bản thân sự vật. Chính quá trình liên tục giải quyết các mâu thuẫn bên trong bản
thân sự dẫn đến sự phát triển tự thân của mọi sự vật trong thế giới.
Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
b) Tính chất của sự phát triển
•
Triết học duy vật biện chứng khẳng định, phát triển có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa
12
III. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
III.1. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT CHUYỂN HÓA TỪ NHỮNG
SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG SỰ THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI
a) Khái niệm chất và lượng
•
Khái niệm chất
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, đặc trưng
cho sự vật là nó và phân biệt nó với sự vật khác nó. Chất là sự thống nhất hữu cơ của những
thuộc tính cơ bản làm nên sự vật, để sự vật là nó chứ không phải là những cái khác nó.
-
Thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố, kết cấu tạo thành
sự vật,… Đó là những cái vốn có của sự vật, quy định sự hình thành, tồn tại trong sự vận
động và sự phát triển của sự vật; Chỉ khi nào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay
đổi hay mất đi.
-
Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó. Nhưng không phải bất kỳ
thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật. Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và
thuộc tính không cơ bản. Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự
vật.
-
Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi
phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật. Vì vậy sự
•
Những thay đổi về lượng sẽ dẫn đến những thay đổi về chất
Sự vận động của sự vật bắt đầu bằng sự thay đổi về lượng. Lượng thay đổi trong một khoảng
giới hạn nhất định, nhưng chất của sự vật vẫn chưa thay đổi cơ bản. Khi lượng của sự vật được
tích lũy vượt quá điểm của khoảng giới hạn nhất định đó thì chất của sự vật sẽ thay đổi căn bản.
Chất cũ sẽ mất đi, chất mới thay thế chất cũ. Khoảng giới hạn đó gọi là độ. Điểm giới hạn đó
gọi là điểm nút. Sự thay đổi chất một cách căn bản gọi là bước nhảy.
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật
13
chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ
làm thay đổi về chất của sự vật.
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về
lượng của sự vật trước đó gây nên.
•
-
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một
giai đoạn phát triển mới.
-
Nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật.
Bước nhảy toàn bộ: Bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành
sự vật.
-
Bước nhảy cục bộ: Bước nhảy làm thay đổi chất của một trong những mặt, yếu tố riêng lẻ
của sự vật.
Căn cứ vào lĩnh vực, bước nhảy được chia thành:
•
-
Bước nhảy trong tự nhiên: Bước nhảy xảy ra trong giới tự nhiên.
-
Bước nhảy trong xã hội: Bước nhảy xảy ra trong xã hội; bước nhảy này lại được chia thành
bước nhảy có tính chất cách mạng và bước nhảy có tính tiến hóa.
-
Bước nhảy trong tư duy: Bước nhảy xảy ra trong lĩnh vực tư tưởng, nhận thức của con
người.
Tóm tắt nội dung của quy luật: Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất trong một giới
hạn độ nhất định; Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút, vượt qua độ sẽ dẫn đến sự thay đổi về
chất của sự vật thông qua bước nhảy; Bước nhảy xảy ra làm cho chất cũ mất đi chất mới ra đời, sự
vật cũ tiêu vong sự vật mới xuất hiện. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại làm xuất hiện lượng mới
Các mặt đối lập
Các mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có
khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau.
Các mặt đối lập tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng.
•
Sự thống nhất của các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt
đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau. Nhờ những yếu tố giống nhau mà chúng “đồng
nhất” trong sự vật. Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu
thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau.
•
Đấu tranh của các mặt đối lập
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau.
Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng; bởi vì nó phụ thuộc vào
tính chất, mối quan hệ giữa các mặt đối lập; phụ thuộc điều kiện cụ thể của bản thân sự vật.
•
Mâu thuẫn biện chứng
Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan, phổ biến và đa dạng.
b) Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của sự vận động, phát triển
•
Dù mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động và phát triển
của sự vật; nhưng việc các giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết các
mâu thuẫn bên ngoài.
•
Căn cứ vào vai trò đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong toàn bộ quá trình tồn tại của nó,
mâu thuẫn được chia thành:
Mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn quy định bản chất và chi phối sự vận động, phát triển của sự vật
trong mọi giai đoạn tồn tại của bản thân sự vật; khi nó được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn
bản về chất.
Mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn không quy định bản chất của sự vật; sự xuất hiện hay
được giải quyết của nó không làm cho sự vât thay đổi căn bản về chất.
•
Căn cứ vào vai trò đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn tồn tại nhất định,
mâu thuẫn được chia thành:
Mâu thuẫn chủ yếu: Mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật,
nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó. Khi mâu thuẫn chủ yếu được giải quyết, sự
phát triển của sự vật chuyển sang giai đoạn mới. Mâu thuẫn chủ yếu có thể là một hình thức
biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản hay là kết quả vận động tổng hợp của các mâu thuẫn cơ
bản ở một giai đoạn nhất định. Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng
bước mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn thứ yếu: Mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của sự vật
nhưng nó không có vai trò lớn mà ngược lại bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối. Giải quyết mâu
thuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu.
•
nhận thức đúng bản chất sự vật; đồng thời tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt
động thực tiễn.
Muốn phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật phải tìm ra những mặt đối lập và vạch ra những mối
liên hệ, tác động qua lại (thống nhất và đấu tranh), chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng.
Muốn sự vật phát triển phải tìm mọi cách đẩy mạnh sự đấu tranh của các mặt đối lập và tạo ra
điều kiện cần thiết để mâu thuẫn sớm được giải quyết. Khi mâu thuẫn đã chín muồi, điều kiện
khách quan đã hội đủ phải kiên quyết giải quyết mâu thuẫn. Không được điều hòa mâu thuẫn;
Không chủ quan, nóng vội trong việc giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra phương thức,
phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với từng
loại mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.
III.3. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
a) Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
•
Phủ định là sự thay thế sự tồn tại (sự vật) này bằng sự tồn tại (sự vật) khác trong quá trình vận
động và phát triển.
•
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, là mắt khâu tất yếu
trong quá trình phát triển, dẫn tới sự ra đời của cái (sự vật) mới tiến bộ hơn, được khẳng định so
với cái (sự vật) cũ lỗi thời, bị phủ định. Phủ định biện chứng mang tính khách quan và tính kế thừa.
Tính khách quan: Phủ định biện chứng do việc giải quyết những mâu thuẫn, việc thực hiện bước
nhảy về chất xảy ra bên trong bản thân sự vật gây ra; chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người (cho dù con người có thể tác động làm cho quá trình phủ định ấy diễn ra
nhanh hay chậm hơn).
Tính kế thừa: Phủ định biện chứng xảy ra trên cơ sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời của cái
(sự vật) cũ, đồng thời chọn lọc, cải tạo những mặt tích cực, tiến bộ của cái (sự vật) cũ để tạo
lỗi thời; đồng thời lưu giữ, cải tạo những yếu tố tích cực, tiến bộ của cái cũ để biến thành cái mới.
Thông qua phủ định của phủ định, sự vật đường như quay về với cái cũ nhưng ở một trình độ cao
hơn; Sự vận động, phát triển của sự vật diễn ra theo khuynh hướng “xoắn ốc” tiến lên vô tận.
c) Ý nghĩa phương pháp luận
•
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chúng ta:
Phải coi quá trình phát triển của sự vật không theo đường thẳng, mà diễn ra quanh co, phức
tạp (thậm chí có những bước lùi) trải qua các chu kỳ khác nhau. Đó là một cuộc đấu tranh lâu
dài, khó khăn, phức tạp giữa cái mới với cái cũ; cái mới có thể thất bại tạm thời nhưng cuối
cùng nó sẽ thắng lợi; sự vật sẽ phát triển tiến lên. Không bi quan trước sự thất bại tạm tời của
cái mới.
Phải biết khắc phục, loại bỏ những cái tiêu cực, lỗi thời; đồng thời biết kế thừa những cái tích
cực, tiến bộ (tinh hoa) của cái cũ.
Phải biết phát hiện cái mới để ủng hộ, bảo vệ nó; đồng thời phải nhận định đúng cái cũ để đấu
tranh, loại bỏ nó.
Phải tránh thái độ “phủ định” sạch trơn hay “kế thừa” toàn bộ.
18
IV. BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
IV.1. KHÁI NIỆM VÀ KẾT CẤU CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
a) Khái niệm lực lượng sản xuất
•
Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu
cầu đời sống của mình; là sự biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất trong tiến trình sản xuất của nhân
loại.
-
Cùng với quá trình không ngừng tích lũy kinh nghiệm, đẩy mạnh phát minh và sáng chế kỹ
thuật là quá trình không ngừng cải tiến và hoàn thiện của công cụ lao động, không ngừng
tìm kiếm những đối tượng lao động mới. Điều này làm biến đổi toàn bộ lực lượng sản xuất
và là nguyên nhân sâu xa của mọi thay đổi trong đời sống xã hội. Trình độ phát triển của
công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân
biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
-
Khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát
triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi
to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”. Sức lao động
đặc trưng cho lao động hiện đại không còn chỉ là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri
thức khoa học. Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
Trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất: Ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của mình, lực
lượng sản xuất có một trình độ và tính chất nhất định.
-
Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn
lịch sử đó; nó được biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng
lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa
học vào sản xuất. Quá trình phát triển sản xuất và sự tác động của các cuộc cách mạng khoa học
– kỹ tuật / công nghệ làm cho trình độ của lực lượng sản xuất không ngừng nâng cao.
•
Quan hệ sản xuất gồm ba mặt thống nhất với nhau: Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất,
quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản (quyết định các quan hệ sản xuất
còn lại) và chi phối các quan hệ xã hội khác. Có hai loại hình sỡ hữu cơ bản về tư liệu sản xuất:
-
Sở hữu tư nhân: Tư liệu sản xuất tập trung vào trong tay một số ít người, còn đại đa số
không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất; do đó, quan hệ giữa người với người trong sản xuất
vật chất và trong đời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột.
-
Sở hữu công cộng: Tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng; nhờ đó, quan
hệ giữa nguời với người trong cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản
xuất. Nó có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm quá trình sản xuất. Dù quan hệ tổ chức và quản lí sản
xuất do quan hệ sở hữu quyết định và phải thích ứng với quan hệ sở hữu; nhưng có trường hợp,
quan hệ tổ chức và quản lí không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra tác động đến thái độ của con người trong lao động
sản suất (do kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người) nên nó có thể thúc đẩy hoặc kiềm
hãm sản xuất phát triển; mặc dù do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản
lý sản xuất chi phối.
IV.3. NỘI DUNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
a) Phương thức sản xuất và sự vận động của phương thức sản xuất
•
cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất (trước hết là công cụ lao
động). Lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ
phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, trở thành “xiềng xích”
kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển.
•
Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay đổi quan hệ sản xuất
cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy
lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Điều này làm cho phương thức sản xuất cũ mất đi, phương
thức sản xuất mới ra đời thay thế.
Nhưng rồi quan hệ sản xuất mới này cũng sẽ không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển
hơn nữa, sự thay thế phương thức sản xuất một lần nữa lại diễn ra.
c) Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất
•
Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao
động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và
công nghệ, v.v. và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển.
Quan hệ sản xuất không phù hợp (lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo) so với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
-
Theo quy luật chung, lực lượng sản xuất cuối cùng phải phát triểnkhi đó, quan hệ sản xuất
cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất
định. Cơ sở hạ tầng là trật tự kinh tế của đời sống xã hội, là nền tảng của kiến trúc thượng tầng
nói riêng, của xã hội nói chung.
b) Kết cấu của cơ sở hạ tầng
•
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm ba nhóm quan hệ sản xuất thống nhất với nhau:
-
Quan hệ sản xuất thống trị,
-
Quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ,
-
Quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.
•
Trong cơ sở hạ tầng, quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo chi phối các quan hệ sản xuất
khác và quy định đặc trưng, xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quan hệ sản
xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định.
•
Xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng
sản xuất, nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì các quan hệ sản xuất “hợp thành” cơ sở
-
Các yếu tố có quan hệ gián tiếp như triết học, tôn giáo, nghệ thuật,…
Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp, trong đó, nhà nước có vai trò đặc
biệt quan trọng: Nhà nước tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định; nhờ có nhà nước,
giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội.
V.3. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
a) Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
22
•
Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng có những tính chất do
cơ sở hạ tầng quyết định
Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo, v.v.
đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong chính trị tư tưởng;
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt
chính trị và đời sống tinh thần của xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu
hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế.
•
Trong một hình thái kinh tế - xã hội hay giữa các hình thái kinh tế - xã hội, khi cơ sở hạ tầng thay
đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
Xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó,
Chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó.
•
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai hướng.
Nếu phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì kiến trúc thượng tầng là động lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ.
Nếu không phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì kiến trúc thượng tầng sẽ kìm hãm
phát triển kinh tế - triển xã hội. Tuy nhiên, sự kìm hảm này chỉ mang tính tạm thời; bởi vì kiến
trúc thượng tầng cũ nhất định sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới để thúc đẩy kinh
tế tiếp tục phát triển.
•
Kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế, nhưng không làm thay
đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội; Bởi vì, xét đến cùng, nhân tố kinh tế đóng
vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng.
23
VI. BIỆN CHỨNG CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
VI.1. KHÁI NIỆM VÀ KẾT CẤU CỦA TỒN TẠI XÃ HỘI
a) Khái niệm và kết cấu của tồn tại xã hội
•
Tồn tại xã hội là toàn bộ phương thức và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
b) Kết cấu của tồn tại xã hội
Theo trình độ phản ánh ý thức xã hội được chia thành:
ý thức xã hội thông thường
ý thức lý luận.
c) Ý thức thông thường và ý thức lý luận
•
Ý thức xã hội thông thường
Ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm… của con người trong
một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn
hằng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Trong ý thức xã hội thông
thường, tâm lý xã hội là một bộ phận rất quan trọng.
Ý thức xã hội thông thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hằng ngày của
con người và thường xuyên chi phối cuộc sống đó.
Ý thức thông thường tuy là trình độ thấp so với ý thức lý luận, nhưng những tri thức kinh
nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành ý thức lý luận (các
lý thuyết xã hội).
•
Ý thức lý luận
Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các
học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. Trong ý
24
thức lý luận, hệ tư tưởng là một bộ phận rất quan trọng.
Ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái
Hệ tư tưởng phản ánh một cách gián tiếp, tự giác, những mối quan hệ bên trong của
phương thức và điều kiện sinh sống (tức tồn tại xã hội) hàng ngày của con người. Nó
mang tính lý luận và chứa đầy những yếu tố lý trí, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của
ý thức xã hội.
Quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng
-
Nhờ tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi mà hệ tư tưởng của giai cấp xâm nhập vào đời
sống tinh thần của các thành viên giai cấp; Nhờ mối liên hệ chặt chẽ với tâm lý xã hội, với
thực tiễn cuộc sống sinh động mà hệ tư tưởng, lý luận (đặc biệt là các tư tưởng cách mạng,
khoa học tiến bộ) bớt xơ cứng, ít sai lầm.
-
Nhờ hệ tư tưởng (lý luận) khoa học, cách mạng mà tâm lý xã hội gia tăng yếu tố trí tuệ,
phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, hệ
tư tưởng phản khoa học, phản động củng cố những yếu tố tiêu cực, bảo thủ, cổ hữu của
tâm lý xã hội, kìm hãm xã hội phát triển.
-
Dù có liên hệ với tâm lý xã hội nhưng hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội,
không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội. Bởi vì, bất kỳ hệ tư tưởng xã hội
nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng kế thừa những học thuyết
xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó. Như vậy, hệ tư tưởng xã hội liên
hệ hữu cơ với tâm lý xã hội, chịu sự tác động của tâm lý xã hội, nhưng nó không phải đơn
giản là sự “cô đặc” của tâm lý xã hội.
tác dụng trong đời sống xã hội khi và chỉ khi nó thậm nhập được vào tồn tại xã hội và tác động
thông qua tồn tại xã hội, tức thông qua và nhờ vào hoạt động thực tiễn (có ý thức) của con
người.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội một cách không đơn giản, trực tiếp: Thông thường, tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội phải thông qua các khâu trung gian; hơn nữa, không phải bất
cứ tư tưởng (quan niệm, lý luận) nào của ý thức xã hội cũng phản ánh rõ ràng, trực tiếp những
quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối
quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy. Bởi vì ý
thức xã hội có tính độc lập tương đối.
b) Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội: Ý thức xã hội không phụ thuộc một cách máy móc vào tồn
tại xã hội; nó có tính độc lập tương đối. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được biểu hiện như
sau:
•
Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội: Xã hội cũ đã mất đi, thậm chí từ lâu, nhưng ý
thức xã hội do nó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng (truyền thống, tập quán, thói quen,... ). Ý thức xã hội
thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội là do ba nguyên nhân sau đây:
Do sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của hoạt động thực tiễn mà tồn tại xã hội
biến đổi nhanh mà ý thức xã hội phản ảnh không kịp và trở nên lạc hậu; hơn nữa, ý thức xã hội
là cái phản ánh tồn tại xã hội nên nói chung nó chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã
hội.
Do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một số
hình thái ý thức xã hội.
Do các lực lượng xã hội phản tiến bộ thường lưu giữ và truyền bá những tư tưởng cũ, lạc hậu
nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.
•
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xả hội: Trong những điều kiện nhất định, các tư tưởng của