Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội - Pdf 36

Lời cảm ơn
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn
luyện tại Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS. Trần Thị Giang
Hương- Khoa quản lý đất đai đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện đề tài
này.
Em xin trân trọng cám ơn Ban lãnh đạo, Ban Quản lý dự án và nhân viên
Phòng Tài nguyên môi trường quận Long Biên đã giúp đỡ em trong quá trình thực
tập tại Quận.
Và em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, những người thân yêu và bạn bè đã
động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho em trong quá trình thực hiện đồ
án.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song do buổi đầu mới làm quen, tiếp cận với công tác nghiên cứu thực tế cũng như
hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Nên em rất mong sự đóng góp của thầy, cô giáo để đồ án tốt nghiệp được
hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin trân trọng cám ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016


Danh mục từ viết tắt
Từ, cụm từ viết tắt

UBND
GCN
CNH- HĐH
UBMTTQVN
CP
BTCT

Vị trí địa lý Quận Long Biên
Biểu đồ cơ cấu kinh tế Quận Long Biên năm 2015
Biểu đồ cơ cấu các loại đất Quận Long Biên năm
2015

Trang
9
27
32
40


Danh mục bảng biểu
STT
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15
Bảng 3.16

42
43
44
45
48
49
54
55
59
59
62
62
67


Mục Lục


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay của bánh xe
thời gian thì con người xuất hiện, tác động vào đất, cải tạo đất và biến chúng từ sản
phẩm của tự nhiên thành mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là một
sản phẩm của xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia
và cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại, phát triển của con người cùng các
sinh vật khác trên trái đất. Các Mác từng viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi của loài
người, là điều kiện để sinh tồn, điều kiện không thể thiếu để sản xuất và là tư liệu sản

5


địa phương phát triển lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ cũng như xây dựng những khu đô
thị mới cho người dân địa phương, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực
tiếp nước ngoài.
Quận Long Biên của Thành phố Hà Nội là một Quận có nhiều tiềm năng để phát
triển kinh tế, hiện đang có nhiều chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước, cùng
với quá trình CNH- HĐH thì nền kinh tế, xã hội tại đây đang từng ngày phát triển. Trên
địa bàn Quận Long Biên có rất nhiều dự án đã và đang được đầu tư nhưng bên cạnh đó
thì công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (GPMB) và tái định cư vẫn đang
gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là
đất ở, nhà cửa cũng như vật kiến trúc, hoa màu trên đất là tài sản rất lớn đối với người
dân nơi đây chưa được bồi thường một cách thỏa đáng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời
sống của người dân.
Với tình hình việc thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trên địa bàn Quận vẫn còn bộc lộ những thiếu xót, khiếm khuyết cần
được nghiên cứu để chỉ ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan và trên cơ sở đó,
kiến nghị, đề xuất với chính quyền những giải pháp khắc phục nhằm đẩy nhanh tiến độ
triển khai các dự án góp phần xây dựng Long Biên trở thành một Quận văn minh, giàu
đẹp. Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án
trên địa bàn Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội”.
2.

Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu
2.1.

-


1.1
1.1.1.

Khái niệm

a. Thu hồi đất

Theo Khoản 11, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc
Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền
sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
b. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Theo Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: “Bồi thường về đất là việc
Nhà nướctrả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử
dụng đất”.
c. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Theo Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định: “Hỗ trợ khi Nhà ước thu hồi
đất là việc Nhà nước trợ giúp người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và
phát triển”.
d. Tái định cư

Pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm “tái định cư”, tuy nhiên, nhiều văn
bản vẫn quy định về tái định cư và có thể khái quát như sau: Tái định cư là việc bố trí
chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp
xã, phường nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Như vậy, tái định cư là hoạt
động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, xã hội đối với một bộ phận dân cư đã
phải gánh chịu vì sự phát triển chung. Hình thức tái định cư bao gồm: Bằng nhà ở,
bằng đất ở hoặc bằng tiền.
1.1.2.

mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.
1.1.3.

Đặc điểm của quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính đa dạng
và phức tạp. Điều này thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, liên quan trực tiếp đến lợi
ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
-

-

Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với những điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau. Tại khu vực đô thị, mật độ dân cư cao, ngành
nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; trong khi đó khu vực ven đô, mức độ
tập trung dân cư chỉ khá cao, ngành nghề phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng gồm
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; còn khu vực nông thôn,
hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có
những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với đặc
điểm của từng khu vực và dự án cụ thể.
Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, đóng vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế, xã hội của người dân. Đối với khu vực nông thôn, người dân sống chủ yếu dựa
vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đất đai là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng,
tuy nhiên trình độ sản xuất của nông dân vẫn còn thấp, khả năng chuyển đổi nghề
nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất. Mặt khác
cây trồng, vật nuôi trên vùng cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động
dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi
nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống người dân sau này.
1.1.4.


thống nhất của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường GPMB đã
gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn
bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi
thường GPMB. Hệ thống văn bản pháp Luật Đất đai còn có những nhược điểm như là
số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống
chưa đồng bộ, chặt chẽ gây lúng túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật.
Ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai thì vấn đề
tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết quả kiểm tra thi
hành Luật Đất đai năm 2010 của Bộ Tài nguyên và môi trường cho thấy UBND các
cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các
quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở là rất yếu. Từ đó dẫn tới tình
trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp GCN, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến
của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát sao. Tại nhiều địa phương đang tồn tại
tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các
mối quan hệ về đất đai. Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt
nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
trên địa bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin
trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB.
b. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn, không gian sử dụng đất đai cũng như vậy. Để
tồn tại và duy trì cuộc sống, con người phải dựa vào đất đai, khai thác và sử dụng nó.
Thế nên quy hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý không thể thiếu trong việc tổ chức
sử dụng đất của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương, là công cụ thể hiện sự
9


chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết định cân đối giữa nhiệm vụ an toàn

việc cấp GCN vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà công tác bồi thường GPMB đã gặp
nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCN thì công tác bồi thường
GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ thực hiện được cải thiện.
d. Yếu tốt giá đất và định giá đất

Giá đất có vai trò rất quan trọng trong pháp luật bồi thường GPMB. Cụ thể giá đất
là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất và được hình thành
trong các trường hợp sau:
-

Do UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quy định được xây dựng 5 năm
một lần và công bố công khai, có hiệu lực thực hiện vào ngày 1/1 của năm đầu kỳ;
Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện
các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, góp vốn bằng
quyền sử dụng đất.
10


Để xác định giá đất chính xác và đúng đắn cần phải có những hiểu biết về định giá
đất. Định giá đất là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất
bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm, trong một thị trường nhất định. Nói cách khác,
định giá đất là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một
mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm. Khi định giá đất, người định giá
phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng
phương pháp định giá phù hợp với thực tế. Hiện nay việc định giá đất chủ yếu sử dụng
một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện đó là phương
pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập.
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và các nhà đầu tư, cụ thể:

án đầu tư của mình nhưng không thỏa thuận được giá cả với người dân nên nhiều dự án
bị kéo dài rất lâu. Do vậy, một giá đất hợp lý là giải pháp hữu hiệu để các nhà đầu tư có
thể tiếp tục thực hiện dự án đầu tư của mình cũng như bồi thường khoản giá trị tương
ứng cho người có đất bị thu hồi để ổn định cuộc sống.
Việc bồi thường giá đất hợp lý trong GPMB sẽ góp phần hạn chế những xung đột,
tranh chấp xảy ra khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất. Hiện nay, tình trạng khiếu kiện
về giá đất diễn ra khá phổ biến. Việc khiếu kiện đó hầu hết xuất phát từ vấn đề giá đất
11


chi trả cho người dân có đất bị thu hồi quá thấp khiến cho cuộc sống của họ lâm vào
tình cảnh khó khăn, vừa mất đất, vừa mất việc làm, chỗ ở lại bấp bênh... Điều đó càng
khẳng định vai trò của giá đất trong bồi thường GPMB đối với công tác an sinh xã hội
của Nhà nước cũng như sự ổn định trong cuộc sống của người dân bị thu hồi đất.
e. Yếu tố tâm lý người dân

Văn hóa của người Việt Nam dù ở nông thôn hay thành thị đều mang ít nhiều tính
chất của văn hóa làng xã. Trong đó điểm nổi bật là việc tâm lý của người dân bị tác
động rất nhiều từ phía những người sống xung quanh mình, hay còn gọi là “hàng xóm
láng giềng”. Trên thực tế đã xảy ra những tình huống như sau: Một hộ gia đình trong
diện bị giải tỏa không đồng ý với mức bồi thường, đã quyết định khiếu nại để được bồi
thường với mức giá cao hơn. Hàng xóm của gia đình này, những hộ dân khác cũng
trong diện giải tỏa đó thấy hộ gia đình này có khả năng được đền bù với mức giá cao
hơn cũng đâm đơn khiếu nại. Kết quả là tất cả các hộ dân thuộc diện giải tỏa đều có
đơn khiếu nại, khiếu kiện về mức giá bồi thường.
Ngoài ra còn có các trường hợp người dân trong diện GPMB cố ý chây ỳ, không
chịu giao mặt bằng với suy nghĩ “đất càng để lâu càng được đền bù giá cao”. Đây là
hành vi xuất phát từ tâm lý “phép vua còn thua lệ làng” trong suy nghĩ của người dân
Việt Nam, coi thường pháp luật và các biện pháp cưỡng chế khi GPMB.
Mặc dù những điều này có thể giải quyết bằng con đường pháp lý và biện pháp

1.2.

Thẩm quyền và trình tự thực hiện công tác thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư

Hoạt động thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo quy định
tại các Điều 66; 67; 69; 70; 71; 93 của Luật Đất đai 2013 do Quốc hội ban hành ngày
29/11/2013 như sau:
Bước 1: Thông báo thu hồi đất

Bước 2: Thu hồi đất

Bước 3: Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất

Bước 4: Lập phương án bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư

Bước 5: Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của người dân

Bước 6: Hoàn chỉnh phương án

Bước 7: Phê duyệt phương án chi tiết và tổ chức triển khai thực hiện

Bước 8: Tổ chức chi trả bồi thường

Bước 9: Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất

Hình 1.1: Trình tự thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

13


đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại
Việt Nam.
Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thì
UBND cấp Tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp
huyện quyết định thu hồi đất.
c. Bước 3: Kiểm kê đất đai và tài sản có trên đất

Sau khi có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, UBND cấp xã có trách
nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB triển khai thực hiện kế
hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. (Điểm b, Khoản 1, Điều 69,
Luật Đất đai 2013).
Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
GPMB thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở,
14


tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Điểm c,
Khoản 1, Điều 69, Luật Đất đai 2013).
Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ
chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm
thì UBND cấp xã, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN) cấp xã nơi có
đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB tổ chức vận động, thuyết phục
để người sử dụng đất thực hiện (Điểm d, Khoản 1, Điều 69, Luật Đất đai 2013).
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng
đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB thì Chủ tịch
UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có
trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi
không chấp hành thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực
hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại
Điều 70 của Luật Đất đai 2013 (Điểm d, Khoản 1, Điều 69, Luật Đất đai 2013).



d. Bước 4: Lập phương án bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB có trách nhiệm lập phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng tổ chức, cá nhân, hộ gia định bị thu hồi đất, trên
cơ sở tổng hợp số liệu kiểm kê, xử lý các thông tin liên quan của từng trường hợp; áp
giá tính giá trị bồi thường về đất, tài sản trên đất.
Điều 85, Luật Đất đai 2013 quy định lập và thực hiện dự án tái định cư như sau:
-

UBND cấp Tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái
định cư trước khi thu hồi đất.
Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn,
quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ
tầng của khu tái định cư.
e. Bước 5: Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của người dân

Theo Điểm a, Khoản 2, Điều 69, Luật Đất đai 2013 quy định, sau khi phương án
chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB có trách nhiệm phối hợp
với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối
tượng bị thu hồi đất. Hình thức lấy ý kiến là: Tổ chức họp trực tiếp với người dân trong
khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất
thu hồi.
Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện
UBND cấp xã, đại diện UBMTTQVN cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng
góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số

GPMB.
Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt; trường hợp người có đất thu hồi không
bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB thì UBND cấp xã, Ủy ban
MTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB tổ
chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện, nếu họ vẫn không chấp
hành việc bàn giao đất thì bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật Đất đai
2013.
h. Bước 8: Tổ chức chi trả bồi thường

Theo quy định tại Điều 93, Luật Đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người
có đất thu hồi.
Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh
toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo
17


phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người
có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo
quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Trường
hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ
trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.
Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện
nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ
đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả
ngân sách nhà nước. Về vấn đề này, Nghị định 47/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định

đủ các điều kiện:
-

-

Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi UBND cấp xã,
Ủy ban MTTQVN cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
GPMB đã vận động, thuyết phục;
Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm yết công khai tại
trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi;
Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực thi hành;
Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi
đất có hiệu lực thi hành; Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết
định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì UBND cấp xã lập
biên bản.
Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất được quy định tại Khoản 4, Điều
71, Luật Đất đai 2013, theo đó:

-

-

Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập Ban
thực hiện cưỡng chế;
Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; nếu
người bị cưỡng chế chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự
chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày lập
biên bản. Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì
Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;
Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những người có liên

toán;
Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi
hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất;
UBND cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên
quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất;
tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB
niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp với Ban thực
hiện cưỡng chế thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất khi Ban thực hiện cưỡng chế có
yêu cầu.

1.3.

Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số quốc
gia trên thế giới
1.3.1. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Trung Quốc

Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số
lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc
thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên
cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những
người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị
thu hồi đất.
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào
sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất được thanh toán
ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường
hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ
theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số.
Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện

dùng để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia
cho các hộ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của
Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ
tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB trước khi xây xong nhà tái định cư...

1.3.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết.
Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo
trình tự: Tổ chức lắng nghe ý kiến người dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang tính
chiến lược quốc gia thì Nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường. Nhìn
chung, khi tiến hành lấy đất của dân, Nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với
mức cao hơn giá thị trường.

21


1.3.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, với tình trạng di dân ồ ạt từ các
vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Seoul đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định
cư trầm trọng trong Thành phố. Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền
Thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận. Việc đền bù được
thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn
hộ do Thành phố quản lý và chính sách tái định cư.
Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do Thành phố quản lý, được
xây tại khu đất thu hồi có bán kính cách Seoul khoảng 5 km. Khi thị trường bất động
sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của
mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc.

1.4.

Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Việt Nam
1.4.1. Thời kỳ trước năm 1987

Trước năm 1987, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, ở nước ta phát
Luật Đất đai chưa phát triển. Trong thời kỳ này chỉ có một số văn bản quy phạm pháp
luật về đất đai mà tiêu biểu là Nghị định số 151/TTg ngày 14/1/1959 của Hội đồng
Chính phủ quy định Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, tại Chương 2 đã đề cập
việc “Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư số
1729/TTg ngày 11/1/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về
bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu năm, các loại hoa màu cho nhân dân ở những
vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất; Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về tăng
22


cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Các quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất mặc dù được ban hành song chưa đầy đủ, thống nhất.

1.4.2. Thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1993
Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật Đất đai,
trong đó quy định: “Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc của
xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác (Khoản 5, Điều 49). Tuy
nhiên quy định này mới dừng lại ở mức độ khái quát chưa nêu cụ thể các trường hợp
được bồi thường hay không được bồi thường, mức độ bồi thường như thế nào,… Để cụ
thể hóa quy định này của Luật Đất đai 1987, Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990
của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp chuyển mục đích từ đất nông nghiệp, lâm
nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác. Theo đó, người được Nhà nước cho phép

Bộ Tài chính ra Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 4/11/1998 hướng dẫn thi hành
Nghị định trên. Các văn bản này đã có những sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau:
-

-

Quy định rõ tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm đền
bù thiệt hại (Điều 2, Nghị định 22/1998/NĐ-CP);
Giá đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất do UBND cấp tỉnh ban
hành theo khung giá của Chính phủ nhân với hệ số K nhằm đảm bảo giá đền bù phù
hợp với khả năng sinh lợi và không quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trên thị trường;
Ngoài việc được đền bù, người bị thu hồi đất còn được trợ cấp nhằm ổn định đời sống
trong trường hợp phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản xuất, kinh doanh; trả
chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, được chuyển đến khu tái định cư nếu có nhu cầu;…
(Điều 25, Điều 28, Nghị định 22/1998/NĐ-CP).
Tuy nhiên trên thực tế do việc xác định hệ số K quá phức tạp nên nhiều địa phương
xác định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn thấp hơn nhiều giá đất chuyển
nhượng trên thị trường. Điều này gây ra nhiều tranh chấp, khiếu kiện về đất đai phức
tạp và kéo dài.

1.4.4. Thời kỳ từ năm 2003 đến năm 2013
a. Giai đoạn Luật Đất đai 2003

Để khắc phục những hạn chế trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của
thời kỳ từ năm 1993 và sửa đổi một số quy định của pháp Luật Đất đai cho phù hợp với
yêu cầu của công cuộc CNH- HĐH đất nước, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI kỳ
họp thứ 4 đã thông qua Luật Đất đai 2003 thay thế Luật Đất đai 1993. Trong đó có các
quy định sửa đổi, bổ sung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất. Và để cụ thể hóa các quy định này, ngày 3/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị

xuất.
Tiếp đó, để xử lý những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thu hồi đất, GPMB,
ngày 25/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung
về việc cấp GCN, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Mặc dù
thường xuyên được sửa đổi, bổ sung song những quy định trên đây cũng chỉ giải quyết
một số vấn đề bức xúc nảy sinh từ công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi
đất. Do đây là công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân nên nếu các quy định được xây dựng không hợp lý và thường xuyên sửa đổi, bổ
sung thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định
về chính trị. Nhận thức được vấn đề này, ngày 13/8/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày
1/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất,
phát triển quỹ đất, cấp GCN, sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử dụng đất.
Ngày 1/10/2009, Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành Thông tư số 14/2009/TTBTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi
đất, giao đất, cho thuê đất nhằm xử lý các tình huống mới phát sinh trong quá trình thu
hồi đất, GPMB.
b.

Giai đoạn Luật Đất đai 2013

Nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc
phục bất cập và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và
nhà đầu tư, đồng thời nhằm giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, GPMB, Luật Đất
đai 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào
cuộc sống của pháp Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một
số quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của pháp Luật Đất đai năm
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status