Các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức của hợp đồng dân sự - Pdf 36

Đánh giá qui định của pháp luật hiện hành về hình thức của hợp đồng
dân sự
Hợp đồng dân sự là phương thức cơ bản để các chủ thể thực hiện việc lưu thông,
trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Trong bối cảnh nền kinh tế thì trường thì nhu cầu giao
lưu kinh tế ngày càng mở rộng ra ngoài phạm vi mỗi quốc gia. Vì vậy, để hợp đồng
dân sự trở thành một phương thức pháp lý đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các
chủ thể trong quá trình giao lưu dân sự thì Bộ luật Dân sự 2005 của nước ta quy
định ở các điều ở phần thứ 3 : Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự rất đầy đủ. Có
thể thấy cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thỏa thuận bằng ý
chí tự nguyện của các bên, phù hợp với quy định của nhà nước về cả hình thức lẫn
nội dung. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2005 hiện nay còn một số mâu thuẫn, chưa
được quy định nhất quán. Do vậy, em xin chọn đề tài “Đánh giá qui định của pháp
luật hiện hành về hình thức của hợp đồng dân sự”.
NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng dân sự và hình thức của hợp đồng dân
sự.
1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự.
Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với
nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
dân sự nhất định. “Hợp đồng dân sự là những thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê,
vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc
các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,
tiêu dùng” (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự). Nhưng trong Bộ luật Dân sự có
định nghĩa ở dạng khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt và nghĩa vụ dân sự” (Điều 338 BLDS). Như


vậy, có thể thấy hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển
giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà còn có thể là sự thỏa thuận để
thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó.

như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Theo đại từ điển tiếng việt do tác giải Nguyễn Như Ý làm chủ biên hình thưc được
hiểu là cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung. Trong cuốn từ điều luật học thì hình
thức hợp đồng dân sự được định nghĩa là cách thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các
bên. Khái niệm hình thức hợp đồng dân sự đầy đủ như sau: “Hình thức hợp đồng
dân sự là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng, là sự công bố ý chí của
các bên, ghi nhận nội dung thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng và là biểu hiện
cho sự tồn tại của hợp đồng”.
b. Phân loại:
b.1. Căn cứ vào hình thức thể hiện nội dung của hợp đồng.
Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
“ 1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được
giao kết bằng một hình thức nhất định.
2.Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn
bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân
theo các quy định đó.


Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường
hợp có quy định khác”.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:“ Giao dịch dân sự
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu
được coi là giao dịch bằng văn bản”
Vì hợp đồng cũng là một loại giao dịch dân sự, nên theo các quy định nêu trên thì
có thể thấy, hình thức của hợp đồng bao gồm các loại sau: bằng lời nói, bằng văn
bản, bằng hành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử). Như vậy, so
với quy định của Bộ luật Dân sự 1995, quy định về hình thức của hợp đồn trong Bộ
luật Dân sự 2005 được bổ sung thêm một hình thức mới là thông điệp dữ liệu, phù

định: “Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng
văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải
tuân theo các quy định đó”. Thông qua chỉ dẫn này ta thấy rằng hợp đồng bằng văn
bản được chia tiếp ra làm hai loại là : hợp đồng bằng văn bản thông thường và hợp
đồng bằng văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của
Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.


- Hình thức hành vi cụ thể: chủ thể của hợp đồng giao kết với nhau bằng những cử
chỉ mà không nói với nhau, không viết ra giấy. Đối với hình thức này thì chỉ cần các
bên thực hiện một hoặc một vài (không bắt buộc phải tất cả) hành vi là nghĩa vụ của
hợp đồng thì hợp đồng đã được coi là giao kết.
- Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử): Ngày nay, cùng với sự phát
triển của công nghệ thông tin, việc giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản giấy
không còn là hình thức thích hợp khi các bên có khoảng cách xa về mặt địa lý. Chủ
thể ở một quốc gia này có thể ký kết hợp đồng với chủ thể của một quốc gia khác
mà không phải đi đến tận nơi gặp nhau trực tiếp để thương thảo hợp đồng. Thông
qua mạng Internet, các doanh nghiệp ở các địa phương khác nhau, ở các quốc gia
khác nhau có thể nhanh chóng tìm kiếm được bạn hàng để thiết lập mối quan hệ làm
ăn, mở rộng thị trường. Với chiếc máy tính nối mạng Internet, ngồi ở nhà chúng ta
có thể dạo quanh thị trường một cách thoải mái vào bất cứ thời điểm nào trong
ngày. Khi cần mua một món hàng, chúng ta chỉ cần liên lạc với cửa hàng qua hệ
thống mạng, sau đó sẽ có người mang món hàng đó đến tận nơi theo yêu cầu. Sự
phát triển mạnh mẽ của giao dịch điện tử kéo theo sự ra đời một hình thức hợp đồng
mới: hợp đồng điện tử- hợp đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử.
b.2. Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bắt đầu giao kết giữa các bên, làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, kể từ thời điểm đó các bên phải chịu
trách nhiệm dân sự nến không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát
sinh từ hợp đồng.



thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”. Như vậy, theo
quy định trên ta thấy rằng hình thức hợp đồng là một điều kiện bắt buộc để giao
dịch có hiệu lực trong những trường hợp cần thiết, và nếu hợp đồng không tuân thủ
hình thức luật định thì có thể bị tuyên bố vô hiệu. ¬
Có những quan điểm cho rằng với việc quy định như vậy thì nhà nước đã can thiệp
quá sâu vào hợp đồng và xâm phạm nguyên tắc tự do hợp đồng, làm cản trở sự phát
triển của các quan hệ pháp luật tư vì đã hạn chế sự tự do ý chí của các bên. Một số
quan điểm khác lại cho rằng, không nên quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực
của giao dịch, thậm chí nên bỏ hẳn các quy định về hình thức. Các quan điểm này
có vẻ như coi nhẹ hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có
thể dẫn đến việc thiếu cơ chế để bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn trong quan hệ
hợp đồng, thiếu chứng cứ chứng minh tồn tại của hợp đồng.
Về mối quan hệ giữa hình thức với hiệu lực của hợp đồng được quy định tại khoản
2 Điều 122 BLDS 2005: “hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của
giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”, Điều 134 BLDS 2005: “trong
trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực
của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên,
Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện
quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không
thực hiện thì giao dịch vô hiệu”, khoản 2 Điều 401: “trong trường hợp pháp luật có
quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng
thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Hợp đồng
không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác”. ¬
Các quy định nói trên cho thấy, mặc dù pháp luật có quy định một loại hợp đồng
nào đó phải được ký kết bằng văn bản, văn bản có chứng thực, tuy nhiên hợp đồng
sẽ không bị coi là vô hiệu nếu các bên không tuân thủ hình thức, trừ trường hợp



thực chất là phải được lập bằng văn bản nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật nên 90%
các tranh chấp về hợp đồng mua bán bị vô hiệu về hình thức.¬
Hinh thức bằng văn bản: trường hợp các bên giao kết hợp đồng muốn đảm bảo tính
rõ ràng về nội dung mà họ cam kết, thỏa thuận đối với những hợp đồng có giá trị tài
sản lớn hoặc giữa những chủ thể koong có mối liên quan thân thiết … thì hợp đồng
sẽ giao kết bằng hình thức văn bản, thể hiện đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp
đồng mà hai bên đã thỏa thuận. Trên cơ sở đó các bên có quyền yêu cầu bên kia có
nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ đối với mình. Hình thức này đảm bảo sự thể hiện rõ
ràng ý chí của các bên đã thỏa thuận với nhau, là chứng cứ khi các bên có tranh
chấp nên các loại hợp đồng được thiết lập bằng hình thức văn bản được thiết lập rất
đa dạng và phong phú với số lượng lớn (hơn 50 loại): hợp đồng thế chấp tàu bay,
đặt cọc (Điều 358), thế chấp tài sản (điều 343)… cho thấy vai trò của nó trong giao
kết hợp đồng.¬
Những hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng
thực, đăng ký hoặc xin phép¬
Ngoài một số loại hợp đồng được pháp luật quy định dưới hình thức là văn bản, thì
pháp luật còn quy định một số loại hợp đồng bắt buộc phải là văn bản, kèm theo
công chứng, chứng thực và phải được đăng ký hoặc xin phép (theo quy định điều
401BLDS 2005). Các hình thức, thủ tục bắt buộc gồm:
+ Một là hình thức hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực: Pháp luật
hiện hành có nhiều quy dịnh yêu cầu hợp đồng phải đươc công chứng, chứng thực
nhưng chủ yếu là các hợp đồng liên quan đến bất động sản. Hợp đồng bằng văn bản
có công chứng, chứng thực có giá trị pháp lý rất cao, nội dung hợp đồng dễ nhận
biết. Việc quá lạm dụng coi công chứng, chứng thực như là một điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực lại cũng đang là nguyên nhân dẫn đến việc hợp đồng bị tuyên vô


hiệu ngày cáng nhiều, và là lý do để các chủ thể phá hủy hợp đồng đã thiết lập
nhằm mục đích vụ lợi, các quy định vẫn có sự chồng chéo, còn nhiều mâu thuẫn.

nước ta về cơ bản mới ở giai đoạn xây dựng các dịch vụ ứng dụng, chưa có dịch vụ
nào được thực hiện trực tuyến hoàn toàn. Trước thực tế trên, để tạo cơ sở pháp lý
cho giao dịch điện tử phát triển, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã ghi nhận hình thức
hợp đồng điện tử thông qua việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu;
Luật Thương mại năm 2005 được thông qua, trong đó Điều 15 ghi nhận nguyên tắc
thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại: “Trong
hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ
thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương
văn bản". Và đặc biệt, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Giao
dịch điện tử 2005. ¬
Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện
thông qua thông điệp dữ liệu. Việc trao đổi, thoả thuận đó sẽ tạo ra hiệu lực pháp lý
của hợp đồng mà không cần hai bên phải thực hiện thêm bất kỳ một thủ tục nào
khác (trừ trường hợp pháp luật đòi hỏi hợp đồng phải được lập theo một hình thức
và trình tự cụ thể). Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ
vì nó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 34 Luật Giao dịch điện tử
2005). Nó có giá trị làm chứng cứ, khi các bên có tranh chấp khởi kiện yêu cầu toà
án giải quyết (Điều 14 Luật Giao dịch điện tử 2005).
KẾT LUẬN
Căn cứ xác nhận các quan hệ đã, đang tồn tại giữa các bên chính là ở hình thức hợp
đồng dân sự. Hình thức hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài của các
bên giao kết hợp đồng. Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thể biết
được nội dung của giao dịch đã xác lập, từ đó xác định trách nhiệm dân sự khi có vi
hợp đồng phạm xảy ra. Với các quy định về hinh thức hợp đồng dân sự trong Bộ


luật dân sự thì đã có thể một phần xác định được hợp đồng dân sự nào có thể trở
thành phương thức pháp lý, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các chủ thể trong
quá trình giao lưu dân sự.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status