nhận diện những khó khăn trong công tác chăm sóc trẻ khuyết tật tại trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ tàn tật hà nội bài tốt nghiệp - Pdf 36

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động thương binh và Xã hội tháng 6
năm 2012 ở Việt Nam có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật chiếm khoảng 6%
dân số, trong đó có khoảng 1,2 – 1,3 triệu trẻ em khuyết tật.(Nguồn:
; Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện
chăm sóc người khuyết tật).
Có thể thấy rằng, trẻ em khuyết tật là nhóm đối tượng chịu hậu quả nặng
nề nhất do khuyết tật mang lại. Dự báo trong những năm tới số lượng người
khuyết tật, đặc biệt là trẻ em khuyết tật ở nước ta chưa giảm do tác động của ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong
chiến tranh ở Việt Nam, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hậu quả thiên
tai…Đời sống vật chất của người khuyết tật ngày càng khó khăn, người
khuyết tật thường tự tin trong cuộc sống, họ chưa thấy được quyền và trách
nhiệm của mình, họ rất khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam là lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi sự
phối hợp toàn diện của nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội, do vậy cần lựa chọn
những mục tiêu ưu tiên, trước mắt tập trung vào một số nhóm dân cư bị thiệt
thòi (yếu thế). Vào ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật (số 51/2010/QH12). Gồm
có 10 chương, 53 điều, Luật Người khuyết tật có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2011. Có giá trị thay thế Pháp Lệnh về người tàn tật năm 1998, với
những nội dung mở rộng hơn về quyền của người khuyết tật, việc chăm sóc
sức khỏe, giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật; bảo trợ xã
hội đối với người khuyết tật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về công
tác người khuyết tật… Luật Người khuyết tật phát huy được vai trò, trách
nhiệm của cộng đồng, gia đình và xã hội đối với những đối tượng thiệt thòi là
người khuyết tật. Là một trong những trung tâm nuôi dưỡng trẻ khuyết tật,
1



+ Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người khuyết tật (2001).
+ Đề án Trợ giúp Người Khuyết tật của Chính phủ giai đoạn 2006-2010.
Được phê duyệt tháng 10 năm 2006. Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn
diện đối với vấn đề người khuyết tật với việc mở rộng đối tượng tham gia đề
án và có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan.
+ Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015. Chính phủ đặt mục tiêu thực
hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015.
+ Luật Người Khuyết tật năm 2011.
Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật cũng như Pháp luật
Việt Nam về người khuyết tật, bên cạnh những điều khoản quy định chung
cho tất cả các đối tượng người khuyết tật, còn có những điều, khoản quy định
riêng đối với trẻ em khuyết tật.
Cụ thể trong Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật có những điều
quy định riêng đối với trẻ em khuyết tật như sau:
- Tại Điều 3, Khoản h: tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và
tôn trọng quyền của trẻ em khuyết tật trong việc bảo tồn bản sắc của trẻ em.
- Điều 7. Trẻ em khuyết tật.
1. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những
biện pháp cần thiết để đảm bảo trẻ em khuyết tật được thụ hưởng đầy đủ
quyền con người và các quyền tự do cơ bản như những trẻ em khác.
2. Trong tất cả các hoạt động có liên quan tới trẻ em khuyết tật, thì
những lợi ích tối ưu nhất của một trẻ khuyết tật phải được quan tâm hàng đầu.
3. Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo trẻ em
khuyết tật có quyền tự do bày tỏ ý kiến của mình về tất cả các vấn đề có liên
quan tới trẻ em, quan điểm của các em sẽ được xem xét 1 cách thích đáng phù
hợp với lứa tuổi và sự chín chắn của các em, giống như các trẻ em khác và sẽ
có những hỗ trợ phù hợp với lứa tuổi và tình trạng khuyết tật để có thể thực
hiện được quyền đó.
3




- Tại Điều 24 Khoản 2 Mục … quy định: “Người khuyết tật không bị loại
khỏi hệ thống giáo dục chung vì lý do bị khuyết tật vì rằng trẻ em khuyết tật
không bị loại trừ khỏi chương trình giáo dục tiểu học miễn phí và bắt buộc
hoặc chương trình giáo dục THCS vì lý do bị khuyết tật”
- Điều 30, Khoản 5, Mục d quy định “Đảm bảo rằng trẻ em khuyết tật được
tiếp cận bình đẳng như những đứa trẻ khác vào các hoạt động thể thao, vui
chơi, giải trí, kể cả các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí trong hệ thống
giáo dục”.
* Pháp luật Việt Nam cũng có 1 số điều quy định riêng đối với trẻ em khuyết
tật. Cụ thể, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011 tại Điều 59 có quy
định: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp”.
* Luật người khuyết tật năm 2011:
- Tại Điều 5, Khoản 3 quy định: “Ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội và hỗ trợ người khuyết tật là trẻ em”
- Tại Điều 23, Khoản 2 quy định: “Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho người
khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật”
- Tại Điều 23 khoản 3: “Tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm
khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và
chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp”
- Tại Điều 44 Khoản 2 quy định: Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc
hàng tháng.
Mục c có quy định: “Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật
nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi”.
Khoản 3 có quy định: “Người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật
nặng là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức hỗ trợ cấp cao hơn đối tượng
khác cùng mức độ khuyết tật”
* Luật bảo vệ, chăm sóc & giáo dục trẻ em năm 2004:

tàn tật.
6


+ Được sự chỉ đạo sát sao và quan tâm hỗ trợ của Sở Lao động thương binh
và xã hội, phòng Lao động thương binh xã hội các quận huyện trên địa bàn
thành phố.
+ Cộng đồng xã hội cũng đã có những sự quan tâm đặc biệt đối với đối tượng
này.
+ Đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Trung tâm có trình độ chuyên môn
vững vàng, dày kinh nghiệm, đặc biệt là rất nhiệt tình và chuyên tâm đối với
công việc được giao.
- Khó khăn:
+ Chế độ đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ, công nhân viên công tác tại
Trung tâm còn hạn chế, đời sống còn nhiều khó khăn.
+ Định mức kinh phí nuôi dưỡng đối tượng còn thấp.
+ Sức khỏe đối tượng yếu, nhiều bệnh tật phát sinh.
- Một số giải pháp khắc phục khó khăn:
Nhà nước có chính sách quan tâm đến đội ngũ cán bộ làm công tác chăm
sóc đối tượng là trẻ khuyết tật tại các trung tâm bảo trợ xã hội. Để họ có thể
sống với mức thu nhập hàng tháng, yên tâm công tác và gắn bó với trung tâm.
Điều chỉnh chính sách đối với đối tượng là trẻ khuyết tật, khuyết tật nặng.
Tăng mức trợ cấp hàng tháng cho đối tượng thuộc diện hưởng trợ cấp hàng
tháng đang được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác trợ giúp người khuyết tật, huy động các tổ
chức, cá nhân và cộng đồng tham gia trợ giúp người khuyết tật.
7. Cơ quan thực tập.
Phòng phục hồi chức năng Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ tàn tật
Hà Nội.
8. Phương pháp nghiên cứu.

thnh tn tt l do thiu c hi tham gia cỏc hot ng xó hi v cú mt
cuc sng ging nh thnh viờn khỏc (DPI, 1982). Do vy, khuyt tt l mt
hin tng phc tp, phn ỏnh s tng tỏc gia cỏc tớnh nng c th v cỏc
tớnh nng xó hi m trong ú ngi khuyt tt sng.
1.1.2 Khỏi nim ngi tn tt:
- Theo Điều 1, Pháp lệnh về ngời tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 30
tháng 7 năm 1998, ngời tàn tật đợc định nghĩa nh sau: Ngời tàn tật là ngời
khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dới
những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng lao động, khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.
9


1.1.3 Các định nghĩa về trẻ khuyết tật.
Định nghĩa về trẻ em khuyết tật được sử dụng trong phân tích này liên quan
đến định nghĩa về trẻ em khuyết tật được sử dụng trong Pháp lệnh về người
tàn tật. Những định nghĩa này cũng được sử dụng trong Khảo sát khuyết tật
trẻ em Việt Nam 1998 .
Trẻ em bị khuyết tật là những trẻ em từ 0-18 tuổi, không kể những nguyên
nhân của khuyết tật, thiếu một hoặc hơn các bộ phận hoặc chức năng cơ thể
khiến giảm khả năng hành động và gây khó khăn trong công việc, cuộc sống
và học tập.
Nhìn chung Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế đã sử dụng những thuật ngữ như tàn tật,
khuyết tật, tật nguyền như Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa .
Tàn tật (ở mức độ cơ quan): Mất hoặc dị thường về cấu trúc cơ thể hoặc chức
năng về tâm lý và thể chất, giống như mất tay, chân hoặc mất thị giác. Điều
này có thể gây ra do bệnh tật, tai nạn, bẩm sinh hoặc chất độc từ môi trường.
Tàn tật đề cập đến sự tổn hại, yếu hoặc rối loạn khả năng chức năng tâm
lý/sinh lý.
Khuyết tật (mức độ cá nhân): Khả năng bị giảm hoặc mất khả năng thực hiện

+ Mua thuốc chữa bệnh thông thường
+ Mua dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng;
+ Mai táng khi chết;
+ Vệ sinh cá nhân hàng tháng đối với người khuyết tật là nữ.
- Chính phủ quy định mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng và kinh phí quy
định tại khoản 2 Điều này
1.2 Các chính sách của Trung tâm trong công tác chăm sóc trẻ em tàn
tật.
1.2.1 Giới thiệu về trung tâm.
Nằm cách Trung tâm Hà Nội 60 km, Trung tâm Nuôi dưỡng người già và
trẻ tàn tật Hà Nội (Xã Thụy An, Ba Vì) được thành lập từ năm 1966.

11


*Chức năng, nhiệm vụ
Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ tàn tật Hà Nội là đơn vị trực thuộc Sở
Lao động thương binh và xã hội Hà Nội với chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:
- Chức năng:
Tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc, người già cô đơn; chăm sóc, phục hồi
chức năng, dạy chữ, hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ khuyết tật.
- Nhiệm vụ:
+ Tổ chức tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, phục hồi chức năng cho trẻ tàn
tật;
+ Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, phục hồi chức năng chăm sóc
sức khỏe cho trẻ khuyết tật.
+ Phối hợp với Phòng Lao động -TBXH các quận, huyện, thị xã tiếp tục
theo dõi giúp đỡ trẻ tàn tật khi trở về địa phương; giới thiệu việc làm cho trẻ
có khả năng lao động.
+ Thực hiện quản lý, sử dụng cán bộ, đánh giá cán bộ hàng năm theo thẩm

* Theo Điều 48 của Luật Người khuyết tật thì trách nhiệm của cơ sở chăm sóc
người khuyết tật bao gồm:
- Tuân thủ điều kiện hoạt động của cơ sở chăm sóc người khuyết tật; thực
hiện đầy đủ các quy chuẩn về nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư vấn, trợ giúp
người khuyết tật tương ứng với từng loại cơ sở.
- Thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận
đối với người khuyết tật.
* Tình hình thực tế tại trung tâm:
- Trong thời gian từ tháng 1/2012 đến tháng 11/2012 Trung tâm nuôi dưỡng
người già và trẻ tàn tật Hà Nội đã liên tục gia tăng gia sản xuất, trồng rau
xanh các loại, chăn nuôi lợn, cá, làm đậu phụ nên đã cung cấp được từ 90 –
95% nhu cầu thực phẩm vào bếp ăn đối tượng, góp phần nâng cao chất lượng
và cải thiện bữa ăn cho đối tượng.

13


- Đơn vị đã thực hiện đầy đủ các chế độ, tiêu chuẩn cho đối tượng từ ăn, ở,
mặc và các sinh hoạt khác. Thực hiện ăn ba bữa trong ngày (sáng ăn phụ) các
bữa ăn đều được chế biến cải tiến món ăn để đối tượng ăn ngon miệng, ăn hết
tiêu chuẩn.
- Được sự quan tâm của Thành phố - Sở Lao động thương binh và Xã hội Hà
Nội, đơn vị đã nâng cấp, cải tạo nhà trẻ 1, 2, 3 và 4; xây mới nhà nuôi dưỡng
trẻ, nhà đa năng đã đi vào sử dụng, nên công tác chăm sóc nuôi dưỡng đối
tượng đã được cải thiện.
- Trong công tác phục hồi chức năng: Đơn vị thường xuyên duy trì và phát
triển công tác phục hồi chức năng. Đối với người tàn tật hằng này có từ 20 –
35 người được tập phục hồi chức năng từ 1 – 2 giờ trong ngày, các cụ được
đọc sách báo, xem tivi, tập dưỡng sinh. Trung tâm còn khuyến khích động
viên đối tượng còn khả năng lao động tham gia công tác vệ sinh, hướng dẫn

2.1 Nhận diện những khó khăn trong công tác chăm sóc trẻ tàn tật tại
trung tâm chăm sóc người già và trẻ tàn tật Hà Nội.
2.1.1 Về chế độ chính sách đối với cán bộ công tác tại trung tâm.
Trung tâm có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng các đối tượng yếu
thế trong xã hội như người bị bệnh tâm thần nặng, người khuyết tật, trẻ mồ
côi, người già yếu không tự phục vụ, chăm sóc cho bản thân được. Hiện nay,
số đối tượng được nuôi dưỡng tại các Trung tâm ngày càng nhiều, nhưng biên
chế của các trung tâm không tăng, bậc lương cán bộ, viên chức thấp. Ngoài
tiền lương theo hệ số lương, các cán bộ, viên chức không còn khoản thu nhập
nào khác, đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và tâm lý phục vụ.
Theo thông tư của ban tổ chức cán bộ - chính phủ số 17/2002/TTBTCCBCP ngày 01 tháng 4 năm 2002 về việc hướng dẫn thực hiện chế độ
phụ cấp phục vụ đối với nhân viên được giao nhiệm vụ thường xuyên, trực
tiếp chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung của
Nhà nước.
Cán bộ, công chức Nhà nước và nhân viên thuộc biên chế hợp đồng trong
chỉ tiêu biên chế (gọi chung là cán bộ, nhân viên) làm việc trong các cơ sở
nuôi dưỡng tập trung của Nhà nước, các cơ sở bảo trợ xã hội của Bộ, ngành,
địa phương được giao nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp chăm sóc người tàn
tật nặng và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS với các công việc cụ thể như: Cho ăn,
uống, đi lại, tắm giặt, vệ sinh cá nhân, vệ sinh buồng ở.
Mức phụ cấp phục vụ cho nhân viên được giao nhiệm vụ thường xuyên,
trực tiếp chăm sóc người tàn tật nặng và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS bằng
30% trên mức lương ngạch, bậc hiện hưởng và được trả cùng kỳ lương hàng
tháng.
16


Các cán bộ đã làm việc lâu năm ở Trung tâm đều chia sẻ: Quả thực, với
đồng lương trên 2 triệu/tháng – kể cả lương trực đêm, trực các ngày nghỉ, ngày
lễ tết 24/24 thì cuộc sống của đội ngũ cán bộ đang gặp rất nhiều khó khăn. Đối

với các cháu nhỏ sơ sinh, chi phí cho việc mua sữa và tã lót gặp rất nhiều khó
khăn…Việc đảm bảo ăn no cho các bệnh nhân ở đây trong thời buổi giá cả
leo thang cũng là cả một vấn đề.
2.1.3 Về phía đối tượng.
- Đối tượng tại Trung tâm, ngoài một số người già neo đơn là hơn 100 đứa trẻ
tàn tật, mồ côi, chủ yếu là trẻ em lang thang hoặc bị bỏ rơi trên hè phố hoặc
các bệnh viện Hà Nội. Chỉ một số ít đi lại bình thường và nói được, nhưng
cũng chỉ là dăm bảy từ ngữ đơn giản, còn phần đông các bé đều bị liệt hoặc
bại não.
- Đối tượng đặc biệt này không có khả năng tự chăm sóc mình, tất cả những
sinh hoạt cá nhân đều phải dựa vào đội ngũ cán bộ, nhân viên, hộ lý làm việc tại
đây, mà mọi người âu yếm gọi là các mẹ.
- Cán bộ của trung tâm luôn tất bật tới lui làm không hết việc. Bốn mẹ ở phòng
sơ sinh “đánh vật” với 29 đứa con, đứa uống sữa, đứa thì ăn bột, ăn cháo…
- Hiện nay tại trung tâm có 106 trẻ em khuyết tật từ 3-15 tuổi (trong đó có 60
trẻ em bị khuyết tật nặng, sống đời sống thần kinh thực vật, các em còn lại
đều bị dị tật nhẹ, chỉ một số ít là hoàn toàn bình thường); 28 trẻ sơ sinh từ 0-2
tuổi (trong đó 28 trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, một số em bị dị tật, thể trạng yếu).
*Các dạng tật của trẻ tại trung tâm và khó khăn trong chăm sóc, nuôi
dưỡng:
- Khuyết tật vận động các em mất chức năng cử động chân, tay, thân mình
dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. Đối với những đối tượng khuyết
tật đặc biệt nặng dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc
không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và
những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có
người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.

18




KẾT LUẬN
Chăm sóc một đứa trẻ bình thường đã khó, chăm sóc trẻ khuyết tật còn khó
khăn hơn nhiều. Mỗi khi các em đau ốm không thể diễn tả được tình trạng của
mình hay những em bị bại liệt không thể tự chăm sóc được, mọi việc đều phải
nhờ đến các cán bộ của Trung tâm. Bên cạnh đó, tâm lý của các em thường hay
mặc cảm về những khiếm khuyết của mình. Do vậy, người chăm sóc phải có sự
đồng cảm, thương yêu thật sự đối với các em. Chính tình yêu thương đó sẽ giúp
các em có thêm động lực và niềm tin yêu vào cuộc sống.
Hiện tại, ở Việt Nam có khoảng 1,2 - 1,3 triệu trẻ em khuyết tật, đây là
nhóm đối tượng chịu hậu quả nặng nề nhất bởi khuyết tật mang lại. Do đó, từ
nhiều năm qua các chính sách bảo trợ xã hội luôn hướng đến nhóm trẻ em
này, đồng thời huy động mọi nguồn lực trợ giúp từ cộng đồng, các tổ chức,
doanh nghiệp, các cá nhân, nhà hảo tâm nhằm đảm bảo trẻ em khuyết tật có
môi trường sống bình thường như các trẻ em khác trong xã hội.
Trong năm 2011 nhiều hoạt động hỗ trợ trẻ em khuyết tật đã được triển
khai trên phạm vi cả nước. Các Bộ, ngành, các cơ quan, tổ chức đã chủ động
xây dựng kế hoạch, chương trình, hoạt động cụ thể về trợ giúp trẻ em khuyết
tật và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đã xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 với tổng kinh phí là 1.755,5 tỷ đồng.
Theo đó, một trong những mục tiêu đặt ra là phấn đấu đến năm 2015, có
80% trẻ em khuyết tật cả nước được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe, chỉnh hình và phục hồi chức năng, giáo dục và các dịch vụ công
cộng. Đồng thời năm 2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây
dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ
phẫu thuật tim cho trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh nhằm góp phần giảm tỷ lệ
tử vong ở trẻ em, theo đó đề xuất 5 đối tượng trẻ em được hưởng chính
sách hỗ trợ phẫu thuật tim bẩm sinh.
Hiện nay công tác xã hội là một ngành đang phát triển của nước ta. Quan

Bên cạnh đó, công tác xã hội còn thúc đẩy môi trường xã hội bao gồm
chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để giúp người khuyết tật hòa nhập
xã hội và làm tốt chức năng của họ. Người khuyết tật trong đó có trẻ em
khuyết tật có quyền được hòa nhập và phát triển và xã hội. Nhân viên xã hội
có trách nhiệm trợ giúp để họ thực hiện được quyền đó. Nhân viên xã hội cần
đóng vai trò là người xúc tác, biện hộ để cá nhân, gia đình người khuyết tật,
tiếp cận được nguồn lực trong cộng đồng, được hưởng những chính sách an
sinh xã hội dành cho họ. Trên cơ sở đó người khuyết tật, sẽ năng cao chức
năng xã hội của mình và đóng góp cho xã hội. Như vậy phát triển đội ngũ
nhân viên công tác xã hội làm việc với trẻ khuyết tật sẽ là một phương pháp
thiết thực để trợ giúp trẻ khuyết tật trong cuộc sống.
Tên cơ quan thực tập

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trung tâm nuôi dưỡng

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
21


Người già và trẻ tàn tật Hà Nội.
PHIẾU NHẬN XÉT HỌC VIÊN THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Họ và tên người nhận xét: Đỗ Đức Hồng.
Chức vụ người nhận xét: Giám đốc Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ
tàn tật Hà Nội.
Họ và tên học viên thực tập: Lê Thị Hà.
Tên cơ quan ( nơi học viên công tác): Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ
tàn tật Hà Nội.
Chức vụ của học viên ( tại nơi học viên công tác): Nhân viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status