TạO BIểU TƯợNG NHÂN vật để GIÁO dục NHÂN CÁCH CHO học SINH TRONG DHLS VIệT NAM (THế kỷ x – XV) lớp 10 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẩN) - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TẠO BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT
ĐỂ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH
TRONG DHLS VIỆT NAM (THẾ KỶ X – XV)
LỚP 10 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

Giảng viên hướng dẫn

: PGS. TS Nguyễn Thị Thế

Bình
Sinh viên

: Vũ Thị Chiên

Chuyên ngành

: Phương pháp dạy học Lịch

sử
Mã SV

: 625.602.012


Hà Nội – 2016



GV :

Giáo viên

HS :

Học sinh

NV :

Nhân vật

NXB :

Nhà xuất bản


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh nhân cách con
người là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới sự phát
triển của xã hội. Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc trọng lễ nghĩa, nhân ái,
khoan dung. Nhân cách của người Việt Nam trong lịch sử là di sản quý giá, là
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ngay từ ngày xưa, ông cha ta đã khuyên nhủ
“đói cho sạch, rách cho thơm” hay “giấy rách phải giữ lấy lề” nghĩa là dù
trong hoàn cảnh nào, con người cũng phải giữ vững được những phẩm chất
tốt đẹp. Trong bối cảnh hiện nay, nước ta đang hòa vào làn sóng toàn cầu hóa

trường phổ thông và về nhận thức của thanh thiếu niên học sinh nhất là lớp 10
đầu cấp hiện nay, có một bộ phận không nhỏ chưa hiểu rõ và tỏ ra thờ ơ đối
với các nhân vật lịch sử, kể cả các nhân vật lịch sử tiêu biểu của dân tộc. Sự
nhận thức lịch sử của học sinh hời hợt, sai lệch, làm ảnh hưởng đến thái độ, tư
tưởng tình cảm và hành động của các em trong cuộc sống.
Từ những vấn đề lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi cho rằng, việc tạo
biểu tượng nhân vật trong DHLS có vai trò quan trọng góp phần nâng cao
chất lượng dạy học của bộ môn và đặc biệt là tập trung giáo dục nhân cách
cho học sinh. Từ đó, khơi dậy niềm say mê học tập đồng thời bồi dưỡng
những phẩm chất quý báu, cần thiết cho thế hệ trẻ - thế hệ tương lai của đất
nước. Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài khóa luận: “Tạo biểu tượng nhân
vật để giáo dục nhân cách cho học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỷ X –
XV) lớp 10 THPT (chương trình chuẩn)”, hi vọng đưa ra những đề xuất hữu
ích góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử tại
trường THPT.
2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong bộ sách Đổi mới phương pháp dạy học gồm các cuốn: Nghệ thuật
và khoa học dạy học – tác giả Robert J Marzano; Những phẩm chất của người
giáo viên hiệu quả - tác giả James H. Stronge; Tám đổi mới để trở thành
người giáo viên giỏi – tác giả Giselle o. Martin-Kniep; Quản lí lớp học hiệu
7


quả - tác giả Robert J Marzano, Jana S.Marzano &Debra J. Pickering… được
NXB Giáo dục Việt Nam tổ chức dịch sang tiếng Việt đã chỉ ra rằng: Khó có
một phương pháp dạy học nào phù hợp với mọi học sinh và mọi lớp học. Điều
tốt nhất là có thể tìm ra một phương pháp dạy học có nhiều khẳ năng nhất để
thực sự có hiệu quả với các học sinh. Trong đó, cuốn Nghệ thuật và khoa học

trình dạy học.
Bên cạnh đó, các đề tài khóa luận thuộc chuyên ngành Phương pháp dạy
học lịch sử của các sinh viên khoa Lịch sử - Đại học Sư phạm Hà Nội trong
những năm gần đây nghiên cứu về nhân vật, tạo biểu tượng nhân vật: Luận
văn của Trần Thị Nhung với đề tài “Một số biện pháp giảng dạy nhân vật
trong bộ môn lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1930 ở trường phổ thông”
hay Luận văn của Nguyễn Văn Tài với đề tài:” Về việc tạo biểu tượng các
nhân vật lịch sử cho học sinh lớp 10 THPT phần lịch sử thế giới cận đại” đã
phân tích, làm rõ vai trò ý nghĩa của tạo biểu tượng lịch sử nói chung và tạo
biểu tượng nhân vật lịch sử nói riêng trong quá trình dạy học đồng thời đề
xuất các biện pháp sư phạm mang tính khả thi khi tạo biểu tượng nhân vật.
Như vậy, các tài liệu trên đều đề cao vai trò, ý nghĩa của phương pháp tạo
biểu tượng lịch sử đối với hiệu quả học tập của HS, một trong số đó là nhằm
giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm. Tuy nhiên, hầu như chưa có một tài liệu
nào đi sâu vào nghiên cứu về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử nhằm giáo dục
nhân cách cho HS.
Nói đến giáo dục nhân cách HS, có nhiều công trình của các nhà nghiên
cứu trong nước và ngoài nước đề cập tới vấn đề này, chủ yếu là các loại tài
liệu nghiên cứu của ngành tâm lí học.
Trước hết cần phải kể đến các công trình nghiên cứu của những tác gia
kinh điển chủ nghĩa Mác –Lênin. Các Mác - Luận cương về Phơ bách, trong
Tuyển tập, tập II - NXB Sự thật, 1972, tác giả đề cập đến vấn đề: “Giáo dục
nhân cách là mục tiêu cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và đang là vấn
đề quan tâm của toàn xã hội. Trong xã hội hiện đại, chất lượng con người với
các tiêu chí về phẩm chất và năng lực đang đòi hỏi toàn xã hội phải dốc sức
trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mô hình nhân cách
9


có thể có những yêu cầu mới khác nhau, song quy luật về sự hình thành và


có, nam có, nữ có với nhân cách cao thượng, sống và chiến đấu một cách vô
tư, vì dân vì nước tiêu biểu nhất là vị lãnh tụ Hồ Chí Minh là những tấm
gương cho thế hệ trẻ noi theo” [tr120].
Như vậy có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở
việc đưa ra khái niệm, phân tích ý nghĩa của phương pháp tạo biểu tượng nói
chung hoặc có tìm hiểu sâu hơn về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử nhưng
chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu và đề xuất các biện pháp sư phạm
để tạo biểu tượng nhân vật nhằm giáo dục nhân cách cho HS trong dạy học
môn Lịch sử. Bởi vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tạo biểu tượng nhân vật để
giáo dục nhân cách cho học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỷ X – XV) lớp
10 THPT (chương trình chuẩn)” để đi sâu vào nghiên cứu.
3.
3.1.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quá trình tạo biểu tượng nhân vật
lịch sử để giáo dục nhân cách cho HS trong dạy học ở trường THPT hiện nay

-

Phạm vi nghiên cứu
Về lý luận: Việc tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân cách cho HS trong

-

DHLS Việt Nam ở trường THPT hiện nay.
Về điều tra thực tiễn: Điều tra thực tiễn việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử



-

nhân vật lịch sử.
Tiến hành điều tra về thực trạng việc tạo biểu tượng nhân vật trong DHLS ở 2

-

trường: THPT Hồng Quang (Hải Dương) và THPT Quang Trung (Hà Nội).
Đề xuất các biện pháp sư phạm về tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân

-

cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế kỉ X – XV).
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khoa học và tính khả thi của

5.

6.
6.1.

các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận:
Với đề tài nghiên cứu thuộc nhóm ngành khoa học giáo dục – khoa học
xã hội, chúng tôi đứng trên cơ sở của chủ nghĩa Mac – Lenin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục nói chung và dạy
học lịch sử nói riêng. Về mặt nội dung được nghiên cứu trong đề tài cũng đảm
bảo được tính khoa học và tính Đảng Macxit – Leninnit.
Phương pháp nghiên cứu:

đó, giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử hiện nay.
9.

Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
chính của khóa luận được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng nhân vật để
giáo dục nhân cách cho HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật để giáo dục nhân
cách học sinh trong DHLS Việt Nam (thế kỉ X – XV) lớp 10 – THPT (chương
trình chuẩn)

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU
TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT ĐỂ GIÁO
DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH
13


1.1.
1.1.1.
1.1.1.1


Cơ sở lí luận
Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Biểu tượng và biểu tượng nhân vật lịch sử
Khái niệm về biểu tượng lịch sử
Nhà tâm lí học - P.A. Rudich cho rằng biểu tượng là “những hình ảnh
của các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ lại trong ý thức

Trong các loại biểu tượng mà tác giả Phan Ngọc Liên trình bày, biểu
tượng nhân vật lịch sử là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các biểu
tượng lịch sử nói chung trong chương trình THPT. Bởi vì, bức tranh của lịch sử
chính là sự phản ánh quá trình tồn tại, hoạt động và phát triển của con người
qua các thời đại lịch sử kế tiếp nhau một cách hợp quy luật. Con người hoạt
động phải gắn liền với thời gian, không gian, với cộng đồng và bị chi phối bởi
những quan hệ xã hội khác nhau qua các thời đại. Vì thế, việc tạo biểu tượng về
nhân vật lịch sử không tách khỏi mối quan hệ với các loại biểu tượng lịch sử
khác. Trước hết, một câu hỏi được đặt ra là: Con người như thế nào được xem
là nhân vật lịch sử? Có nhiều quan niệm khác nhau về nhân vật lịch sử tuỳ theo
mục đích, nội dung của mỗi ngành khoa học, môn học khác nhau.
Theo quan điểm Macxit – Leninit, nhân vật lịch sử là sản phẩm của một
hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bị chi phối bởi thời đại họ sinh sống và hoạt động
của họ có tác động nhất định đến hoàn cảnh lịch sử đó.
Tương tự, trong cuốn “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông” do tác giả
Phan Ngọc Liên chủ biên: “Nhân vật lịch sử là người có một vai trò
nhất định trong một sự kiện lịch sử, một thời kỳ lịch sử” [25; tr 293].
Từ những quan điểm trên suy ra, nhân vật lịch sử được xem là người có
một vai trò nhất định (theo hướng tích cực hoặc tiêu cực) trong một hoàn cảnh
lịch sử cụ thể. Trong DHLS, giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh hiểu biết
các nhân vật lịch sử hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong mỗi thời
kì khác nhau. Tính phong phú, đa dạng trong hoạt động của các nhân vật
chính là những “mảnh ghép” thú vị giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bức
tranh lịch sử trên các mặt kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa…
Tóm lại, có thể hiểu rằng, biểu tượng về nhân vật lịch sử là những đại
biểu điển hình của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiệt
xuất và những nhân vật đê hèn, ti tiện, bán nước. Đó là những hình ảnh chung
nhất, khái quát nhất cần được phản ánh trong óc học sinh. Tạo biểu tượng
nhân vật trong DHLS chính là tạo biểu tượng về hành động cụ thể của cá
15

nước vì nhân dân.
- Biểu tượng nhân vật lưỡng tuyến: là những nhân vật đại diện cho một
giai cấp cụ thể, không chỉ có những đóng góp cho lịch sử dân tộc mà còn có
16


những hành động đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Những
nhân vật này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu sử học hiện
nay. Tạo biểu tượng về nhân vật lưỡng tuyến là xây dựng cho các em cái nhìn
minh bạch về khoa học lịch sử trong việc đánh giá nhân vật một cách khách
quan, đa chiều.
Tóm lại, biểu tượng nhân vật lịch sử có vai trò, vị trí quan trọng trong
nhận thức lịch sử. Việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử dù phản diện, chính
diện hay lưỡng tuyến đều hướng đến mục đích giáo dục nhân cách cho học
sinh, vì thông qua những hình ảnh – việc làm cụ thể, sinh động, có sức gợi
cảm sẽ tác động mạnh mẽ đến tư tưởng thái độ, giúp các em xây dựng lí
tưởng sống đúng đắn, biết vươn lên trong học tập và lao động.
1.1.1.2. Nhân cách và giáo dục nhân cách học sinh


Khái niệm về nhân cách
Theo nghĩa đen của từ thì “nhân” là người và “cách” là tính cách, tính
tình. Nghĩa là, “nhân cách” chỉ tính cách của một con người. Một nhà nghiên
cứu giáo dục đã tách từ “nhân cách” thành 2 từ bộ phận: “Nhân và Cách”, lấy
“Nhân” làm nền tảng và “Cách” xuyên suốt qua từ “Nhân” để tiếp cận 3 tầng:
Cốt cách là Người, Phẩm cách là Người, Cách thức nên Người. Thuật ngữ
“nhân cách” có hàng trăm định nghĩa khác nhau, khó có thể tìm ra một định
nghĩa nào có tính phổ quát và bao trùm nhất, nói lên đầy đủ các tố chất trở
thành khái niệm nhân cách. Đã có nhiều giải thích về khái niệm nhân cách,
trong đó, chúng tôi xin nêu ra một số quan niệm sau:

Như vậy, trên cơ sở đúc kết từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng,
nhân cách là sự thể hiện bản chất đạo đức của một con người thông qua thái
độ trong lời nói, việc làm, cách ứng xử với con người nói chung, đối với cộng
đồng, đối với mọi cám dỗ vật chất hay tinh thần cũng như trước mọi thách
thức. Nhân cách là cái riêng của mỗi người nhưng cũng phải hiểu cái riêng đó
bao hàm cả cái chung của các cộng đồng lớn và nhỏ, cả tính lịch sử và tính
thời đại. Đặc biệt, thông qua việc tạo biểu tượng về một nhân vật lịch sử
chính diện nổi bật, GV có thể định hướng giáo dục những phẩm chất nhân
cách tiêu biểu của nhân vật đó cho học sinh.

1.1.2.
1.1.2.1.


Biểu hiện của nhân cách con người và ưu thế của bộ môn Lịch sử với việc
giáo dục nhân cách HS
Biểu hiện của nhân cách con người
Theo quan niệm nhân cách của người phương Đông qua các học thuyết, tôn
giáo
Người phương Đông quy định 2 thành tố là thước đo chuẩn mực tạo nên
một chính nhân quân tử: tính Thiện và tính Nhân. 423 lời Phật dạy được ghi
trong Pháp cú kinh đều nói về tính Thiện. Phật Thích Ca từng răn dạy:
-

Phải sống hợp đạo đức: “Đời ta yên lặng, không oán không

phiền.Người đều thù oán, ta vẫn thản nhiên” [8; tr127]. Mỗi con người được
sống yên vui là nhờ tâm thiện, không thù, không oán.
18


19


mang nghĩa rộng là nhân ái yêu người, yêu vật, đó là lòng tự nhiên, bình thản.
Nhân là cái đích tu dưỡng của con người. Nhân còn có nghĩa là trung, đó cũng
là đạo đối với người, với nước và đối với mình. Nhân còn có nghĩa là hiếu đễ,
là lòng kính yêu cha mẹ, người lớn. Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì làm,
không hề mưu tính lợi cho mình, cũng không cần biết hậu quả ra sao. Lễ là
ngọn, nhân là gốc. “Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì?”[31;tr68]. Trí
là sáng suốt, biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét, đề bạt người
chính trực, bỏ người gian dối, xảo trá. Tín là việc thực hiện thành thực điều đã
nói ra, không sai lệch.
81 chương trong Đạo đức kinh của Lão tử phần lớn đều nói đến tính
Thiện. Lão tử nói: “Ta có 3 vật báu thường ôm giữ: Một là Từ, hai là Kiệm,
ba là Không dám đứng trước thiên hạ” [8;tr196]. Từ là từ bi hiền lành, rộng
lòng thương kẻ khác là người mạnh. Sức mạnh của người quân tử là tự thắng
vậy. Kiệm là biết chi tiêu hợp lý, không phung phí. Không dám đứng trước
thiên hạ có nghĩa là không tranh giành địa vị để được ngồi cao. Còn việc có
được vị trí trong xã hội hay không là phải được sự công nhận của tự nhiên
chứ không do mình tranh giành mà có.
Bên cạnh đó, Nho giáo còn quy định nhân cách của một người phụ nữ là
phải theo “Tam tòng, tứ đức”. “Tam tòng” tức là khi còn là con gái thì theo
cha, khi có chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì theo con. Nói cách khác,
người phụ nữ phải phụ thuộc vào người đàn ông. “Tứ đức” thì có Công,
Dung, Ngôn, Hạnh. Công thì lấy việc may vá, thêu thùa, nấu nướng làm chủ,
giữ lửa cho “trong ấm ngoài êm”. Dung thì coi trọng sự thùy mị đoan trang.
Ngôn là cẩn trọng lời ăn tiếng nói sao cho nhẹ nhàng, thoát tục. Hạnh là đề
cao tiết hạnh, sự chung thủy của người phụ nữ. Người Việt Nam xưa với bản
sắc văn hóa riêng kết hợp lời răn dạy trên của đạo Nho đã tạo nên hình tượng
về một người phụ nữ lí tưởng:


-

nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước phát triển đi lên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, liêm là những
phẩm chất nhân cách cốt lõi của con người. Nhân là thật thà thương yêu, hết
lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người,
hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực
khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm
việc bậy, không có việc gì phải giấu đoàn thể. Ngoài lợi ích của đoàn thể,
không có lợi ích riêng phải lo toan. Trí là không có việc gì tư túi làm mù
quáng, cho nên đầu óc trong sạch sáng suốt, dễ tìm phương hướng, biết xem
người, biết xét việc. Vì vậy, người có “trí” biết làm việc có lợi, tránh làm việc
21


có hại cho đoàn thể. Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc gì phải có gan làm,
thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa, cực khổ khó khăn có gan chịu đựng
hoặc có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần
thì có gan hy sinh tính mệnh cho đoàn thể, cho Tổ Quốc, không bao giờ rụt rè
nhút nhát. Liêm: là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung
sướng, không ham người tâng bốc mình; chỉ có một cái ham là ham học, ham
làm, ham tiến bộ.
Như vậy, theo quan điểm Hồ Chí Minh, nhân cách của một người phải
được thể hiện qua hành động, ý chí đặc biệt là giá trị xã hội của hành động đó
phải đem lại lợi ích cho cách mạng, cho nhân dân. Tư tưởng đạo đức cách
mạng của Hồ Chí Minh cũng là tư tưởng về đổi mới nhân cách con người Việt
Nam ngày nay.
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra những biểu hiện quan trọng nhất
của nhân cách con người là: trung thực, dũng cảm trước mọi thử thách, biết

trong thi cử. Để giáo dục đức tính trung thực cho các em, GV có thể kể về
những tấm gương của Nho sĩ Việt Nam trọng khí tiết, thanh bạch, ví dụ như
nhân vật Tô Hiến Thành:
Ông không vì tiền bạc của cải mà bà hoàng hậu họ Lê dụ dỗ, đút lót để
đánh mất lòng trung thực của mình. Ông đã khảng khái từ chối: “Làm việc
bất nghĩa mà được giàu sang, người trung thần nghĩa sĩ lẽ nào lại làm?
Huống chi lời nói của vua trước còn văng vẳng bên tai! Tôi không dám
làm”[39; tr70]. Ông cũng không vì biết ơn người khác chăm sóc lúc ốm đau
mà trung thực lựa chọn người thực sự có tài phục vụ cho đất nước. Nhà sử
học Phan Huy Chú có nhận xét trong Lịch triều hiến chương loại chí: “Ông
làm quan đầu triều nhận trọng trách, hết lòng hết sức, khéo xử trong khi biến
cố, dù sóng đánh đập, chuyển lay mà cột đá vẫn trơ trơ không đổi, cuối cùng
khiến cho trên yên dưới thuận, thực không thẹn với phong độ của bậc đại
thần xưa”[39;tr74]
- Tinh thần dũng cảm: Dũng cảm có nghĩa là có dũng khí đương đầu
với nguy hiểm, khó khăn để làm những việc nên làm. Dũng cảm cũng có
nghĩa là dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nói lên sự thật. Tình cảm yêu nước
đã phát huy cao độ tinh thần dũng cảm của nhân dân ta, tạo thành khí phách
23


anh hùng, chủ nghĩa anh hùng. Tố Hữu đã có những vần thơ thật đẹp, thật hay
ca ngợi truyền thống cao quý của dân tộc:
“Dân ta gan dạ anh hùng
Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn”
Những trang sử vàng, những chiến công chói lọi từ Bạch Đằng, Chi
Lăng đến Điện Biên Phủ lừng lẫy khắp năm châu của dân tộc Việt Nam từ
xưa tới nay đều được làm nên bằng xương máu, bằng truyền thống yêu nước và
tinh thần chiến đấu dũng cảm. Tinh thần dũng cảm, lòng dũng cảm không chỉ thể
hiện trong chiến đấu, trước thử thách giữa “chết vinh” hay “sống nhục” mà còn

tốt đẹp cần được phát huy của người lao động đặc biệt trong thời đại “toàn
cầu hóa” hiện nay. Từ xưa, ông cha ta đã có những lời khuyên vàng ngọc về
tính siêng năng trong lao động, học tập:
“Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ đem phần đến cho!”
hay:
“Đời người chỉ một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn một nửa gang”
Bên cạnh đó, trí sáng tạo của con người cũng luôn được đề cao từ trước
tới nay. Nhân vật nổi tiếng Steve Jobs đã từng khẳng định: “Sự sáng tạo phân
biệt người lãnh đạo và kẻ theo sau” (Innovation distinguishes between a
leader and a follower). Có thể nói, siêng năng cộng với sáng tạo chính là
động lực để xã hội ngày càng phát triển tiến bộ, văn minh. Trong lịch sử, GV
có thể lấy những tấm gương siêng năng, sáng tạo trong học tập mà đạt tới
thành công như Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh… để giáo dục ý thức tự vươn
lên học hỏi, tìm tòi, sáng tạo trong học tập cho HS.
- Lòng khoan dung, độ lượng: Khoan dung ở đây được hiểu là sự tha
thứ cho lỗi lầm của kẻ khác, là làm bạn khi kẻ thù đã cúi đầu nhận tội. Khoan
dung còn có nghĩa là tự tha thứ cho chính mình để tiếp tục đứng lên, tiếp tục
hoàn thiện bản thân. Vì vậy, khoan dung là biểu hiện của một nhân cách cao
đẹp, thể hiện một tâm hồn rộng mở, giàu lòng yêu thương. Vào năm 1427,
khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Trước kẻ thù giết cha, cướp nước đang thất
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status