Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Thanh Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại Học Tài Nguyên và Môi
Trường Hà Nội được sự nhiệt tình, quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ của các Thầy,
Cô giáo, Giảng Viên Trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội nói chung
và khoa quản lý đất đai nói riêng đã trang bị cho chúng em hành trang vức chắc và
những lời góp ý, ý kiến đáng giá để em có thể hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
Xuất phát từ lòng biết ơn sâu sắc em xin được gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới Cô giáo - Th.S Nguyễn Thị Nga đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn
em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp theo đúng nội dung, kế hoạch được giao trong
suốt thời gian em thực hiện báo cáo.
Em xin cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy, Cô giáo trong khoa
Quản lý đất đai - Trường Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội trong suốt
thời gian em học tập.
Thân gửi lời cảm ơn sâu sắc ban lãnh đạo, Ban Địa Chính - UBND xã Thanh
Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và các hộ nông dân trên địa bàn xã đã trực
tiếp giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm đề tài trên địa bàn.
Do thời gian và trình độ có hạn nên trong báo cáo không tránh khỏi sự thiếu
sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của Thầy, Cô giáo để báo
cáo được hoàn thiện hơn. Đây cũng là bài học kiến thức bổ ích cho em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Điện Biên, ngày 12 tháng 09 năm 2015
Sinh viên

Khúc văn Vũ

1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPSX




: Lao động

NCLĐ
NTS

: Nuôi trồng thủy sản

TNHH

: Thu nhập hỗn hợp

VAC

: Vườn-ao-chuồng

UBND

: Ủy ban nhân dân

TP

: Thành phố

HQĐV

: Hiệu quả đồng vốn


thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào
có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi
trường duy nhất sản xuất ra những lương thực thực phẩm nuôi sống con người. Việc
sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc
gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng
về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con
người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày
càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích
nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức
của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện
tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả
năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng
hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang
tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một
nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên một thực tế hiện nay đó là diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp do chuyển sang các loại hình sử dụng đất khác như: đất ở, đất sản xuất kinh
doanh, đất phi nông nghiệp... Mặt khác dân số không ngừng tăng, nhu cầu của con
người về các sản phẩm từ nông nghiệp ngày càng đòi hỏi cao về cả số lượng và chất
lượng. Đây thực sự là một áp lực lớn đối với nghành nông nghiệp.
Xã Thanh Luông là một xã thuộc vùng miền núi Tây Bắc có tổng diện tích tự
nhiên là 3615,94 ha, với diện tích đất nông nghiệp 3122,97 ha, chiếm 86,37% tổng
diện tích tự nhiên toàn xã. Vì vậy, việc định hướng cho người dân trong huyện khai

5


thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức

Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và
khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tươi xốp
của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ
nhưỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là
do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy
quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính
thường xuyên và cơ bản.
Theo C.Mac: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của
sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh
của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”
Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng:
“ Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
Và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một phần diện tích cụ thể
của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái
ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt
nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lũng
đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người
trong quá khứ và hiện tại để lại”.
Vì thế đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái
niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều
thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực
vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng
đất; Theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy

7


văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và
có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài
người.

*Nông nghiệp là nguồn thu ngân sách quan trọng của Nhà nước
Nông nghiệp là ngành kinh tế sản xuất có quy mô lớn nhất của nước ta. Tỷ
trọng giá trị tổng sản lượng và thu nhập quốc dân trong khoảng 25% tổng thu ngân
sách trong nước. Việc huy động một phần thu nhập từ nông nghiệp được thực hiện
dưới nhiều hình thức: thuế nông nghiệp, các loại thuế kinh doanh khác…Hiện nay xu
hướng chung tỷ trọng GDP của nông nghiệp sẽ giảm dần trong quá trình tăng trưởng
kinh tế.
*Nông nghiệp là hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân nghèo nông
thôn
Nước ta với hơn 80% dân cư tập trung ở nông thôn họ sống chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cấp tự túc đã đáp ứng được nhu cầu
cấp thiết hàng ngày của người dân.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng sử dụng đất nông nghiệp.
1.1.3.1. Yếu tố tự nhiên
* Khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát
triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí,
nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí
chính là các yếu tố tiêu biểu cho khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong những
yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng
vùng. Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng
ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa
dạng và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới,
á nhiệt đới và cả ôn đới.

9



10


Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, các giống cây trồng, vật nuôi mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian
sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá bắt
đầu hình thành và phát triển, gắn trực tiếp với việc tăng hệ số sử dụng đất trong sản
xuất. Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng, vật nuôi đã tạo ra nhiều
cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá trong thời điểm kinh tế như hiện
nay.
1.1.3.2. Yếu tố kinh tế, xã hội
* Con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi dân
số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức
hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các
nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt
năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái tự nhiên bị xâm phạm, tính
bền vững của tài nguyên đất ngày càng trở nên kém hơn. Làm thế nào để đảm bảo
sự cân bằng giữa việc sử dụng và việc bảo vệ tài nguyên đất trở thành vấn đề cấp
thiết và cần phải được quan tâm hơn nữa trong thời điểm hiện nay.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân
số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về
lao động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có
thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc biệt, đối với một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức
trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.

bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử
dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn định và lâu dài.
* Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về

12


hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế. Mục tiêu đặt ra là cách thức
áp dụng khoa học (kiến thức), kỹ thuật (công cụ), công nghệ (kỹ năng) để tăng năng
suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
một cách bền vững. Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật trong
canh tác, trong chế biến bảo quản… làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật
nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, vốn.
1.2. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững:
Sản phẩm Trong quá trình sản xuất, các tác động của con người nhiều khi đã
làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của nó, đặc biệt là đối
với đất. Ngày nay, nhiều vùng đất đai màu mỡ đã bị thoái hóa nghiêm trọng, kéo
theo sự xói mòn đất và suy giảm nguồn nước đi kèm với hạn hán, lũ lụt… Vì vậy,
để đảm bảo cho cuộc sống con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những
chiến lược về sử dụng đất không những để duy trì khả năng hiện có của đất mà còn
có thể phục hồi những khả năng cơ bản đã mất. Thuật ngữ “sử dụng đất nông
nghiệp bền vững” ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên.
Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Rio
De Janerio – Braxin đã định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược
về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21. Hội nghị đã đưa ra
cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc cơ bản:

vay vốn ngân hàng.
+ Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là
điều cần quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi
trường,..). thu được cần thỏa mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của
người nông dân.
Để đạt được điều đó, nguồn nội lực và nguồn lực địa phương cần phải được
phát huy tối đa. Hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có
quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các
bên cụ thể. Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập
quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ.

14


+ Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất đang áp dụng phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh
thái. Khả năng giữ đất của loại hình sử dụng đất đang được áp dụng được thể hiện
bằng việc giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép.
+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu hàng năm…)
Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét và đánh giá các loại hình
sử dụng đất đang được áp dụng ở hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá các
yêu cầu trên để giúp cho việc đinh hướng phát triển nông nghiệp bề vững trong
tương lai.
cầu bắt buộc đối với quản lý sự bền vững.
+ Độ che phủ tối thiếu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%).
+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc
canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây.
1.2.1. Hiệu quảsử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để phát triển

tối đa với chi phí tối thiểu.
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm để
đạt được các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hóa bằng các
chỉ tiêu kinh tế, tài chính.
* Hiệu quả xã hội: là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người
với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế. Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng
các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng.
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Hiện
nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn
đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm. Việc lượng hóa các chỉ tiêu của hiệu
quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang
tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định
canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân,...

16


* Hiệu quả môi trường: là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường
trong sản xuất và xã hội. Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan
tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật.
Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây
tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, không gây
ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và vấn đề đa dạng sinh học.
Như vậy, quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thỏa mãn
vấn đề tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã
hội và bảo vệ được môi trường.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
1.3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế, các chỉ tiêu được tính toán trên một đơn

gian, thuế và tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài, có
thể tính theo công lao động hoặc tính theo đơn vị diện tích canh tác.
* Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động:
Hiệu quả kinh tế trên một ngày lao động thực chất là đánh giá kết quả đầu tư
lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất hoặc từng cây trồng, làm cơ sở để so sánh
với chi phí cơ hội của từng lao động, bao gồm các chỉ tiêu: GTSX/công LĐ và
GTGT/công LĐ.
Các chỉ tiêu được phân tích, đánh giá định lượng bằng tiền theo thời giá hiện
hành và định tính được tính bằng mức độ cao, thấp. Các chỉ tiêu đạt mức càng cao
thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
* Hiệu suất đồng vốn: Được tính bằng tổng giá trị sản xuất chia cho tổng chi
phí trung gian. Hiệu suất đồng vốn thể hiện hiệu quả sử dụng của khoản đầu tư cho
sản xuất.
HQĐV = GTSX / CPTG
1.3.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và
thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã
hội bao gồm:

18


+ Đảm bảo an ninh lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
+ Phải được sự chấp nhận và ủng hộ của người dân.
+ Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động địa
phương.
+ Phải đảm bảo đời sống, tăng thu nhập cho người lao động (xét trên cơ sở:
số công lao động, giá trị ngày công lao động).
+ Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật: khả năng ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Nguyên về cơ cấu đất lâm nghiệp. Song, đất nông nghiệp của khu vực TD - MNPB
lại chỉ chiếm hơn 14,9% tổng diện tích. Con số này cho thấy, đây là khu vực có diện
tích đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên thấp nhất trong cả nước. Tính
đến hết năm 2000 là như vậy, nhưng xét trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến
2007, diện tích đất nông nghiệp đã có sự biến động đáng kể. Xét xu hướng biến
động của đất nông nghiệp cùng với sự biến động của dân số trong giai đoạn này có
thể thấy, dân số không ngừng tăng lên theo thời gian, trong khi đó đất SXNN, bao
gồm cả đất trồng cây hàng năm liên tục giảm, khiến cho diện tích đất SXNN bình
quân đầu người cũng giảm.
Tính đến 2010, tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp bình quân đạt
gần 5,5%/năm. Trong giai đoạn gần đây, mặc dù trung bình mỗi năm giảm đi
khoảng 70.000 ha đất nông nghiệp, trên 100 nghìn lao động, tỷ trọng trong đầu tư
xã hội giảm, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưng nông, lâm, thủy sản vẫn
duy trì tốc độ tăng trưởng GDP 3,8%/năm.
Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường. Tỷ trọng nông
nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản) trong tổng GDP cả nước
giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,3% năm 2007 và tăng trở lại 22,1% năm
2008. Trong nội bộ ngành đang có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng thuỷ sản, giảm tỷ
trọng trồng trọt trong giá trị sản lượng. Trong giai đoạn 2000 - 2008, tỷ trọng thuỷ
sản tăng từ 16% lên 23% trong khi trồng trọt giảm từ 65% xuống còn 57%.
Trong nội bộ các ngành cũng diễn ra các chuyển biến cơ cấu tích cực. Trong
trồng trọt, giai đoạn 2000 - 2008 diện tích gieo trồng lúa giảm hơn 250.000 ha,
trong khi diện tích các cây công nghiệp, rau màu và cây ăn quả tiếp tục mở rộng.

20


Trong chăn nuôi, hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại đang thay thế dần mô hình
chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ ở gia đình. Trong thủy sản, nghề khai thác xa bờ phát


+ Đất lâm nghiệp: 15.845.333 ha chiếm 59,07% diện tích đất nông nghiệp.
+ Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản: 707.827 ha chiếm 2,64% diện tích đất
nông nghiệp.
+ Đất làm muối:17.887 ha chiếm 0,07% diện tích đất nông nghiệp.
+ Đất nông nghiệp khác:20.190 ha chiếm 0,08% diện tích đất nông nghiệp

22


CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại xã Thanh
Luông, Huyện Điện Biên, Tỉnh Điện Biên
2.1.2. Phạm vi
Phạm vi không gian: xã Thanh Luông, Huyện Điện Biên, Tỉnh Điện Biên.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
2.2.3. Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất chính của xã.
2.2.4. Đánh giá hiệu quả vềkinh tế - xã hội, môi trường.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp, thứ cấp
2.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp
- Khảo sát thực địa nhằm kiểm chứng các thông tin, số liệu đã thu thập được
qua điều tra.
2.3.1.2. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp

8km, đồng thời cũng là một xã lòng chảo phía Tây huyện Điện Biên, có vị trí tiếp
giáp như sau:
- Phía Đông giáp TP. Điện Biên Phủ
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào
- Phía Bắc giáp xã Thanh Nưa
- Phía Nam giáp xã Thanh Hưng
Xã Thanh Luông có tổng diện tích tự nhiên là 3615,94 ha có vị trí địa lý
thuận lợi giáp với TP. Điện Biên Phủ nên có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế, xã
hội.
3.1.2. Địa hình, địa mạo
3.1.2.1. Địa hình
Xã Thanh Luông là xã nằm trong khu vực lòng chảo bồn địa Điện Biên, địa
hình của xã được chia thành 2 vùng rõ rệt:
- Vùng Đồng bằng có độ cao khoảng 480 - 495m, địa hình tương đối bằng
phẳng.
- Vùng đồi núi có độ cao trên 495m.
3.1.2.2. Địa chấn
Cùng với các khu vực xã , phường khác trong tỉnh Điện Biên, xã Thanh
Luông chịu ảnh hưởng của vùng địa chấn thuộc hệ thống đứt gẫy á kinh tuyến với:
- Chu kỳ động đất là 120 năm với cường độ chấn động trên mặt đất là Lomax
= 8.
- Cấp động đất Mmax = 5.1 - 5.5. độ Richter, độ sâu h = 10 - 15km.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status