BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VŨ ĐẠT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THỊ XÃ PHÚC YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VŨ ĐẠT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Nguyễn Vũ Đạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, sự đóng
góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Vòng đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo
Khoa Quản lý đất đai, Ban quản lý đào tạo - Học viện nông nghiệp Việt Nam đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài.
Tôi xin trân trọng cám ơn Uỷ ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tập thể phòng
Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, phòng Quản lý đô thị, cấp uỷ, chính
quyền và bà con nhân dân các xã, phường trên địa bàn thị xã Phúc Yên đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn.
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Vũ Đạt
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng
đất và sản xuất nông nghiệp TX Phúc Yên 27
2.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp TX Phúc Yên 27
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.2.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 28
2.3.2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 28
2.3.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 29
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 29
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã. 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2. Các nguồn tài nguyên 32
3.1.3. Đánh giá tổng hợp về điều kiện tự nhiên thị xã Phúc Yên 35
3.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.2. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của Phúc Yên 52
3.2.1. Tình hình quản lí đất đai 52
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất 52
3.2.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã. 53
3.3. Xác định, mô tả và đánh giá các LUT hiện tại 56
3.3.1 Phân vùng sản xuất nông nghiệp 56
3.3.2. Mô tả các loại hình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính 56
3.4. Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 60
3.4.1. Hiệu quả kinh tế 60
3.5 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 77
năm 2013 54
Bảng 3.6: Các loại hình sử dụng đất chính của Phúc Yên 56
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất ở tiểu vùng 1 62
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế một số loại hình sử dụng đất ở tiểu vùng 2 63
Bảng 3.9: Mức đầu tư lao động và thu nhập trên ngày công lao động ở tiểu vùng
1 69
Bảng 3.10: Mức đầu tư lao động và thu nhập trên ngày công lao động ở tiểu
vùng 2 69
Bảng 3.11: Phân cấp chỉ tiêu đánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 73
Bảng 3.12: Đánh giá khả năng sử dụng bền vững các loại hình
sử dụng đất 74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
Hình 3.1: Cơ cấu sử dụng đất thị xã Phúc Yên năm 2013 53
Hình 3.2: Đất 2 vụ lúa ở xã Tiền Châu 66
Hình 3.3: Đất 2 màu – 1 lúa ở xã Nam Viêm 66
Hình 3.4: Đất trồng cây ăn quả ở xã Cao Minh 67
Hình 3.5: Đất chuyên màu ở phường Phúc Thắng 67
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
khi khả năng khai hoang, mở rộng lại rất hạn chế.
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là việc làm hết sức quan trọng
và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như sự
phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, làm cơ sở để định
hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Phúc Yên là thị xã (TX) nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Vĩnh Phúc, với vị
trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Từ
khi được tách khỏi huyện Mê Linh năm 2003 trên địa bàn thị xã thì một diện tích
không nhỏ đất nông nghiệp đã được chuyển sang đất phi nông nghiệp. Vấn đề đặt
ra là phải xác định được hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, đồng thời định
hướng sử dụng đất đai cho thị xã là vấn đề hết sức cần thiết.
Phúc Yên có hai dạng địa hình chính: vùng bán sơn địa, sản xuất nông
nghiệp chủ yếu là trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả; vùng đồng
bằng, sản xuất truyền thống ở đây chủ yếu là 2 vụ lúa, một phần diện tích đất
cao có thể trồng một số loại rau, màu (ngô, lạc, đỗ tương, khoai lang, rau các
loại ). Những diện tích thấp trũng chủ yếu được sử dụng để nuôi trồng thủy
sản kết hợp với chăn nuôi thủy cầm. Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ
trong cơ cấu kinh tế của thị xã.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Trong thời gian qua việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp sang
các mục đích khác của thị xã diễn ra mạnh mẽ, thiếu kiểm soát, không theo quy
hoạch làm đất sản xuất nông nghiệp liên tục giảm. Hiệu quả kinh tế của các loại
hình sử dụng đất trên địa bàn thị xã chưa cao, các loại hình sản xuất tại Phúc Yên
phần lớn còn mang tính tự phát theo phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa tương
xứng với tiềm năng đất đai của thị xã, thiếu tính bền vững do môi trường đất, nước
bị ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi sản xuất và quá trình đô thị hóa.
1.1 Đất nông nghiệp và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái quát chung về tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng.
Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không
giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng
thừa nhận. Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát
triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực
phẩm là một sức ép rất lớn. Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông
nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp. Để
đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác,
khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp. Vì vậy đất đai là đối
tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho
đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng
loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, người ta ước tính có tới
15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con
người gây ra.
Toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới chừng khoảng 3,3 tỉ ha (chiếm
khoảng 22% tổng diện tích đất liền); nhưng có khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha)
không dùng được vào nông nghiệp. Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có
loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt. Đất đang trồng trọt
cả thế giới có khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46%
đất đang có khả năng trồng trọt). Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt
chưa được khai thác. Tiềm năng đất nông nghiệp của hành tinh chúng ta khoảng
3 - 5 tỷ ha. Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, con người đã làm hư hại khoảng
1,4 tỷ ha đất và hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do
xói mòn và thoái hóa. Với năng suất trung bình hiện nay để thỏa mãn nhu cầu về
sản phẩm nông nghiệp phải có 0,40 ha đất canh tác trên đầu người. Như vậy,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người. Theo kết quả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
điều tra của FAO, 1992 (FAO, 1992), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói
mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng
đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: châu Âu, châu Úc,
châu Phi: 5 -10 tấn/ha, châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; châu Á: 30 tấn/ha.
Đông nam á là một khu vực đặc biệt, từ số liệu của UNDP năm 1995 []
cho ta thấy đây là khu vực dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác
thấp: bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia
0,12ha; Malaysia 0,27ha; Philipin 0,13ha; Thái Lan 0,42ha; Việt Nam 0,1ha.
Như vậy, chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và
Việt Nam là quốc gia đứng vào hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.
Những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân
thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại,
loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng
một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự
nhiên, buộc con người phải sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên
và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm
phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây
dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là hướng đi trong tương lai.
Việt Nam là nước có diện tích không lớn, đứng thứ 4 ở khu vực Đông
Nam á, dân số đứng thứ 2, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người
thấp, với gần 80% dân số là nông dân, hiện nay nước ta vẫn đang thuộc nhóm 40
nước có nền kinh tế kém phát triển. Theo số liệu thống kê (Nhà xuất bản Thống
kê Hà Nội năm 2000), diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác của
Việt Nam có sự biến động lớn: năm 1990 diện tích đất nông nghiệp 9.940.000 ha,
diện tích đất canh tác là 8.101.500 ha, bình quân đất canh tác trên đầu người là
1.223 m
đơn giản rằng nông nghiệp, công nghiệp hoá sẽ đầu tư từ bên ngoài vào. Phạm
Chí Thành cho rằng, có 3 điều kiện để tạo nông nghiệp bền vững đó là công nghệ
bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức từ các nhóm
địa phương. Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các
nước phát triển khởi xướng mà hiện nay đã trở thành đối tượng để các nước
nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc các tinh tuý của các nền nông nghiệp,
chứ không chạy theo cái hiện đại mà bác bỏ những cái thuộc về truyền thống.
Trong nông nghiệp bền vững như chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
tương ứng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra, nghiên cứu
để hiểu biết thiên nhiên.
Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính
những người sinh ra và lớn lên ở đó. Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững cần
thiết phải có sự tham gia của nông dân trong vùng nghiên cứu. Phát triển bền
vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những
thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức, sao cho đạt đến sự thoả
mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay
và mai sau.
Fetry cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông
nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy
thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt
xã hội. FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể trong nông nghiệp bền vững là:
- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai
về số lượng và chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc
tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở
tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
giới. Theo Mollison B., nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn
môi trường bền vững cho con người, liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công
trình xây dựng và hạ tầng cơ sở (nước, năng lượng, đường xá…). Tuy vậy, nông
nghiệp bền vững không hẳn là những yếu tố đó mà chính là mối liên quan giữa
các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân bố chúng trên bề mặt trái đất.
Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về
mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con
người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp bền
vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc
trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách thống nhất.
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được,
sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không
liên tục huỷ diệt sự sống trên trái đất. Đạo đức của nông nghiệp bền vững bao
gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
vật lực vào các mục tiêu đó. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông nghiệp
thường trực, tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đô thị và nông
thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu giữa sản
xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc và hoạt động của con người.
Gần đây xuất hiện khuynh hướng “Nông học hữu cơ”, chủ trương dùng
máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh,
phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các
loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh.
Anbert K. và Voisin A. đã hình thành trường phái “Nông nghiệp sinh
học”, bác bỏ việc sản xuất và sử dụng nhiều loại phân hoá học vì như thế sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng nông sản và sức khoẻ người tiêu dùng.
Theo Đỗ Ánh, Phần Lan đã đưa ra thị trường những sản phẩm nông nghiệp
sản xuất theo con đường “Green way” hoàn toàn không dùng phân hoá học.
của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội”
* Quan điểm 2: các nhà kinh tế XHCN, đại diện là Liên Xô cũ đã dựa vào
lý luận chung của Các Mác để phát triển CNXH. Ở đây, hiểu hiệu quả kinh tế cao
được biểu hiện bằng sự đáp ứng được yêu cầu quy luật kinh tế cơ bản của CNXH
và hiệu quả kinh tế cao khi được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm xã
hội hoặc thu nhập quốc dân cao. Do vậy quan điểm này mới chỉ đề cập đến nhu
cầu tiêu dùng, quỹ tiêu dùng là mục đích cuối cùng cần đạt được của nền sản
xuất xã hội, nhưng chưa đề cập đến quỹ tích luỹ để làm điều kiện phương tiện đạt
được mục đích đó
* Quan điểm 3: các nhà khoa học kinh tế Samuelson – Nordhuas cho
rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí”. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải
xét đến chi phí cơ hội, “hiệu quả sản xuất phải diễn ra khi xã hội không thể tăng
sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một số loại hàng
hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả phải nằm trên đường giới hạn và sản
lượng tiềm năng khả năng sản xuất của nó”
* Quan điểm 4: hiệu quả trên quan điểm kinh tế thị trường:
Xã hội chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, thực tế các
nguồn lực như đất đai, lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm. Trong
khi đó nhu cầu xã hội tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng. Do vậy, vấn đề đặt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
ra là phải tiết kiệm nguồn lực, từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sản xuất phải lựa chọn đầu vào tối ưu
* Quan điểm 5: hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi
phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích
hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kì, góp phần làm tăng thêm lợi ích của
xã hội, của nền kinh tế quốc dân.
Ưu điểm của quan điểm này là gắn chi phí với kết quả, coi hiệu quả là sự
phản ánh của trình độ sử dụng chi phí. Nhược điểm là chưa rõ ràng, thiếu tính
quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó.
Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng,
vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các
nước trên thế giới (Viện thổ nhưỡng nông hoá, 1999). Nó không chỉ thu hút sự
quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh
doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực
tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của
Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, hiệu quả phải được xem xét
trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Phát triển nông
nghiệp bền vững ở Việt Nam, 2009).
a. Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động sản xuất. Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động
sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh
tương quan giữa kết quả lao động, vật tư, tài chính. Đó là chỉ tiêu phản ánh trình
độ, chất lượng sử dụng của các yếu tố sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết
quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu. Tuỳ theo mục đích đánh giá ta có thể đánh
giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như: năng suất sử dụng vốn,
hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu lại vốn…
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động
theo các ngành sản xuất khác nhau (FAO, 1992).
Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn
vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
đa dạng sinh học (FAO, 1992)
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu
quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Phát triển nông
nghiệp bền vững ở Việt Nam, 2009).
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ sử dụng và tác động của các hóa chất trong nông nghiệp. Đó là
việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô
nhiễm môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, giữa cây trồng trong mối tương tác với các đối tượng sinh học
có lợi và có hại khác nhằm đảm bảo tính đa dạng mà vẫn đạt được yêu cầu đặt ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất
tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để
đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí năng lượng đầu vào.
1.2.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.3.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng nghiên cứu
a. Vùng đồi núi
Ở khu vực miền núi do đặc điểm về địa hình khí hậu thời tiết và tập quán
sản xuất. Khi tính toán hiệu quả kinh tế sản xuất nông lâm nghiệp cần chú ý đến
đặc điểm này để đảm bảo việc tính đúng, đủ, toàn diện. Cụ thể như sau:
Đối với miền núi, do trình độ dân trí, mức độ kinh tế của nông hộ thấp và
tập quán sản xuất còn lạc hậu, sản xuất 1 vụ là chính, sản xuất chủ yếu là tự cung
tự cấp và theo hướng quảng canh. Trên diện tích đất nông lâm nghiệp, người sản
xuất có thể bố trí nhiều công thức luân canh, xen canh khác nhau trên địa hình dốc.
Do vậy, cần phải tính toán, so sánh, đánh giá hiệu quả của từng công thức luân
canh và toàn bộ hệ thống công thức luân canh. Từ đó lựa chọn những công thức
luân canh phù hợp đạt hiệu quả cao.
Viêc sử dụng đất ở miền núi rất đa dạng và phong phú, có nhiều loại cây
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh
sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết
định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất