HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
BÙI KHÁNH VĨNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN MỸ HÀO
TỈNH HƯNG YÊN, GIAI ĐOẠN 2015 – 2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNHTRỊ
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
GIAI ĐOẠN 2015-2020
Người thực hiện: Bùi Khánh Vĩnh;
Lớp: B12-14;
Chức vụ: Huyện ủy viên, Trưởng phòng;
Đơn vị công tác: Phòng Nội vụ - Ủy ban nhân dân huyện Mỹ
Hào;
Người hướng dẫn: PGS, TS Lê Văn Phụng.
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
2. Mục tiêu của đề án ............................................................................
2.1.
Mục
tiêu
chung ...............................................................................
2.2.
Mục
tiêu
cụ
thể ...............................................................................
3. Giới hạn đề án....................................................................................
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN ...............................................................
I. Cơ sở/căn cứ xây dựng đề án ..........................................................
1. Cơ sở khoa học/lý luận ......................................................................
2. Cơ sở chính trị, pháp lý .....................................................................
3. Cơ sở thực tiễn ..................................................................................
II. Nội dung thực hiện của đề án .......................................................
1. Khái quát tình hình địa phương........................................................
2. Thực trạng, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã của huyện Mỹ Hào..
2.1. Cơ cấu đội ngũ................................................................................
2.2.Chất
lượng
của
đội
ngũ
CBCC
cấp
xã.............................................
2.3.Đánh giá chung………………….………………………......…….
3. Nội dung cụ thể cần xây dựng ..........................................................
21
21
23
25
28
31
41
41
43
44
44
44
45
45
47
47
48
50
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: CNH,HĐH;
+ Cán bộ, công chức: CB,CC;
+ Hội đồng nhân dân: HĐND;
+ Ủy ban nhân dân: UBND;
+ Mặt trận Tổ quốc: MTTQ;
+ Kinh tế - xã hội: KT-XH;
1
2
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh CNH-HĐH đất
nước hiện nay, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ CB, CC có cả đức và tài, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ
chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham
nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi
dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, chủ trương: “ Xây dựng một xã hội
dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức thực sự là công bộc của
dân”. Trong những năm qua, đội ngũ CB, CC cấp xã từng bước phát triển cả
số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thời kỳ mới.
Đa số CB, CC cấp xã có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng, tin
tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng; có lối sống giản dị, trong sáng, gần
gũi với nhân dân, tâm huyết với công việc. Đây là nhân tố quan trọng góp
phần đảm bảo tổ chức thực hiện thành công đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi phát triển kinh
tế - xã hội, ổn định chính trị địa phương.
Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, một bộ phận
CB, CC cấp xã suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, hách dịch, chưa
thực hiện tốt công tác dân chủ cơ sở; tư tưởng cơ hội, ý thức kỷ luật kém gây
mất đoàn kết nội bộ; lợi dụng chức quyền làm trái các nguyên tắc quản lý,
tham nhũng, lãng phí… gây tổn hại đến uy tín và làm giảm sút lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt khác, tỉ lệ CB, CC chưa đạt chuẩn còn
cao….
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, vấn đề đặt ra là cần thiết phải
nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC cấp xã của huyện, để đáp ứng yêu cầu
thực tiễn phát triển đất nước và địa phương. Trên cơ sở những lý luận, thực tiễn
3.1. Đối tượng đề án áp dụng: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của
huyện Mỹ Hào.
4
3.2. Không gian của đề án: huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
3.3. Phạm vi thời gian: thực hiện từ năm 2015 đến năm 2020.
5
B- NỘI DUNG
1.Cơ sở, căn cứ xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học, lý luận.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cán bộ, công chức cấp xã:
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 quy định:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh… ở huyện,
quận, … trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…”.
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân ….. và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội……, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước…”;
Theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của
Chính phủ, thì CB,CC cấp xã gồm có:
chuyên môn của cán bộ không đồng đều. Nguyên nhân là do cán bộ hình
thành từ cơ chế bầu cử nên tiêu chuẩn chuyên môn chưa được chú ý đúng
mức.
Tính ổn định của công chức cấp xã cao hơn so với cán bộ cấp xã. Công
chức cấp xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND trong việc điều hành, chỉ
đạo công tác. Chất lượng của công chức cấp xã sẽ góp phần quyết định đến
hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở cấp xã.
CB,CC cấp xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó, việc xác định rõ đặc
điểm,vị trí, vai trò của CB,CC cấp xã là rất cần thiết để có chính sách phù
hợp.
7
Từ đó, đưa ra khái niệm như sau: CB,CC cấp xã là công dân Việt Nam,
được bầu cử hoặc tuyển dụng để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong tổ chức
Đảng, HĐND, UBND, các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã hoặc giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1.1.2. Khái niệm chất lượng CB,CC cấp xã:
Chất lượng CB,CC cấp xã được xem xét dưới các góc độ sau:
Thứ nhất, chất lượng của CB,CC cấp xã được xác định trong mối tương
quan giữa số lượng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ được giao. Chất lượng đội
ngũ cán bộ trong thời kỳ mới đòi hỏi phải có số lượng, cơ cấu hợp lý so với
yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Sự hợp lý trong cơ cấu cán bộ sẽ tạo ra sức mạnh
tổng hợp của cả đội ngũ CB,CC trong hoạt động công tác.
Thứ hai, chất lượng CB,CC cấp xã được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả
trong hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã; phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: cơ sở vật chất, phương tiện, tính tổ chức khoa học, tính hợp lý trong hoạt
động của bộ máy.
sách, pháp luật của Nhà nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai
trái trong đời sống xã hội đi ngược với đường lối, chủ trương của Đảng.
Thứ hai, về phẩm chất đạo đức
Đạo đức là nền tảng, là “gốc” của con người, đối với mỗi CB,CC cấp
xã, đạo đức càng cần thiết hơn. Do vậy, người CB,CC cấp xã phải có:
- Lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh, có uy tín trước nhân dân.
- Khiêm tốn, giản dị, trung thực
- Có ý thức, tinh thần và trách nhiệm trong phòng, chống tham nhũng
và tiêu cực xã hội. Đồng thời phải chú trọng đến các phẩm chất khác như:
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
+ CB,CC cấp xã phải là những tấm gương tốt đối với nhân dân, mẫu
mực trong công tác, lời nói đi đôi với việc làm, luôn gương mẫu đi đầu.. Có
như thế nhân dân mới nghe, mới tin, mới phục và thực hiện theo.
9
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí quan trọng của
đạo đức đối với người cán bộ cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn, mới
có nước, không có nguồn thì cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo;
người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân”
Thứ ba, về trình độ văn hóa, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ
Để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, trình độ
của người CB,CC cấp xã phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn sau:
- Trình độ văn hóa: phải có trình độ THPT, đây là một đòi hỏi khách
quan vì nó là cơ sở, tiền đề cho việc nhận thức và tiếp thu các tri thức khác.
- Trình độ lý luận chính trị: CB,CC cấp xã phải có một trình độ lý
luận chính trị nhất định, từ trung cấp trở lên. Có trình độ lý luận chính trị sẽ
giúp CB,CC cấp xã có được bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng nhận
thức các quy luật vận động của kinh tế - xã hội, từ đó áp dụng vào việc tổ
quyết định nhanh chóng và dứt khoát, không do dự, không rụt rè, không
đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm trước những tình huống xảy ra.
- Năng lực làm việc với con người: biểu hiện ở năng lực giao tiếp - đối
thoại, đoàn kết, dân chủ, thu hút nhân dân.
1.1.4. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CB,CC cấp xã
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế- xã hội, đảm
bảo an ninh quốc phòng của địa phương;
- Sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ tổ chức Đảng, bộ máy chính
quyền và sự ổn định của hệ thống chính trị cơ sở;
- Kết quả xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị
trong sạch vững mạnh hàng năm.
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CB,CC cấp xã
- Một là, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng
Hiện nay, đội ngũ CBCC cấp xã còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đảm
đương được nhiệm vụ trong tình hình mới. Hội nghị TW5 khóa IX chỉ rõ: “…
Chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của cơ sở, quan liêu, để một thời gian khá
11
dài không có chính sách đồng bộ đối với cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng,
đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở”
Công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu để
nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ CB,CC cấp xã, ảnh hưởng không nhỏ
tới chất lượng đội ngũ CB,CC cấp xã, thể hiện qua một số bất cập sau:
+ Đào tạo, bồi dưỡng chưa thực sự đúng đối tượng, nhiều khi không
gắn với quy hoạch. Do đó, còn tình trạng người cần đi học thì không được
cử đi học; người không cần lại cử đi học, buộc đi học; Người đi học về
không được bố trí công việc, một số sau khi được đào tạo về thì nghỉ hưu.
+ Việc quản lý đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ.
Nhiều khi đào tạo, bồi dưỡng chỉ để hoàn thành chỉ tiêu do cấp trên giao,
Do đó dẫn đến thiếu tính nhất quán trong đào tạo, bồi dưỡng lẫn bố trí, sử
dụng, làm ảnh hưởng đến chất lượng CB,CC cấp xã là điều khó tránh khỏi.
- Bốn là, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát CB,CC cấp xã:
Thông qua công tác quản lý, kiểm tra, giám sát CB,CC cấp xã mới có
thể phát hiện được những tiêu cực, bất cập nảy sinh từ cán bộ và công tác cán
bộ. Qua đó để khen thưởng những nhân tố tích cực, xử lý kịp thời những sai
phạm nhằm phát huy nhân tố tích cực, tạo lập lòng tin của nhân dân đối với
Đảng và chính quyền. Đồng thời, nắm được thực trạng chất lượng của CB,CC
cấp xã để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với những CB,CC có trình độ,
năng lực còn hạn chế, luân chuyển cán bộ, thay thế cán bộ yếu kém, tăng
cường cán bộ có chất lượng cho những nơi yếu kém.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý
Đề án được xây dựng trên cơ sở chính trị, căn cứ pháp lý sau:
1.2.1.Cơ sở chính trị
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII;
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa IX;
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX;
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX;
+ Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11/2003 của Bộ chính trị;
+ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X;
13
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa X;
+ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI;
+ Hướng dẫn số 17-HD/TCTW ngày 23/4/2004 của Ban Tổ chức Trung
ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
1.2.2.Cơ sở pháp lý
+ Luật Cán bộ, công chức 2008.
được nâng lên rõ rệt, được tăng cường cả cơ cấu và số lượng.
Tuy nhiên, còn một bộ phận CB,CC cấp xã trình độ chưa đạt chuẩn,
phẩm chất chính trị giảm sút, suy thoái về đạo đức, thiếu ý thức trách nhiệm
trong thực hiện nhiệm vụ.gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động
của chính quyền cơ sở, không đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH đất nước.
Do đó, việc tiếp tục nâng cao chất lượng CB,CC cấp xã là yêu cầu cần
thiết mà thực tiễn đòi hỏi.
1.3.2. Kinh nghiệm của một số địa phương
a. Kinh nghiệm của tỉnh Điện Biên
Điện Biên là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu (cũ) theo Nghị quyết số
22/2003/QH11 ngày 26//11/2003 của Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới
hành chính tỉnh Lai Châu.
Điện Biên có địa hình hiểm trở, chia cắt, đi lại khó khăn, là tỉnh miền
núi có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nhân dân cũng như CBCC
cấp xã ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện giao lưu, tiếp thu tri thức khoa
học. Đa số CB,CC cấp xã ở tỉnh Điện Biên là dân tộc thiểu số.
Phần lớn CB,CC cấp xã phải quản lý, hoạt động trên một địa bàn rộng,
hiểm trở, dân cư thưa thớt, dân trí thấp. Trình độ CB,CC cấp xã thấp hơn
nhiều so với tiêu chuẩn, yêu cầu và mặt bằng chung của cả nước. Bên cạnh
đó, CBCC cấp xã phải đương đầu thường xuyên với những vấn đề an ninh
quốc gia...
Trong chiến lược phát triển cán bộ, nhằm nâng cao chất lượng CBCC
cấp xã, tỉnh Điện Biên đặc biệt chú trọng làm tốt công tác “Luân chuyển
15
CBCC”. Để nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ về cơ sở, tỉnh
Điện Biên đã và đang thực hiện tốt các nội dung chủ yếu, như:
- Chỉ luân chuyển đối với cán bộ lãnh đạo ở cơ sở, không luân chuyển
công chức vì đây là các chức danh chuyên môn cần sự chuyên sâu và ổn định.
c. Kinh nghiệm của tỉnh Cà Mau
Cà Mau là một tỉnh cuối cùng cực Nam của Tổ quốc, có nhiều dân tộc,
tôn giáo cùng sinh sống trên địa bàn, có vị trí địa lý phức tạp (là vùng bán
đảo, rừng, biển, đồng bằng và cả hải đảo), là vùng chịu nhiều hậu quả của
chiến tranh, là vùng đất chịu nhiều thiên tai. Khi tái lập tỉnh, đội ngũ CB,CC
nói chung và cấp xã nói chung thiếu hụt trầm trọng và yếu kém về chất lượng.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (2005), Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cấp,
các ngành trong tỉnh đã có những Nghị quyết, kế hoạch, giải pháp hiệu quả nâng
cao chất lượng CBCC cấp cơ sở, đó là:
- Đặc biệt chú trọng đổi mới các khâu, các bước công tác xây dựng đội
ngũ CBCC cấp xã, cụ thể là:
+ Cụ thể hóa tiêu chuẩn các chức danh CBCC cấp xã, quy định cụ thể
về tiêu chuẩn cho từng loại CB,CC cấp xã của tỉnh.
+ Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã: Đổi mới nội
dung, chương trình đào tạo, quán triệt phương châm lý luận gắn với thực tiễn,
học đi đôi với hành; nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo kiến thức toàn
diện và chuyên sâu; phải bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải
quyết các tình huống cụ thể.
- Phát huy vai trò của cấp ủy và các tổ chức của hệ thống chính trị cấp
xã trong các hoạt động.
+ Trước hết, lựa chọn cho Đảng, chính quyền những người ưu tú, xuất
sắc, có triển vọng phát triển thông qua các phong trào. Từ đó, lựa chọn CBCC
đưa đi đào tạo, bồi dưỡng và bố trí công việc khi đáp ứng yêu cầu.
+ Đề cao việc tự học tập, tự rèn luyện của CB,CC cấp xã; đề cao trách
nhiệm cá nhân và tăng cường sự giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể
cấp trên trong xây dựng CB,CC cấp xã, nhằm nâng cao chất lượng CB,CC
cấp xã.
17
18
quân đầu người đạt 56 triệu đồng/năm. Giá trị xuất khẩu tăng bình quân
25,8%/năm.
- Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được thực
hiện hiệu quả, bộ mặt nông thôn đổi mới. Toàn huyện đã đạt 204/228 tiêu
chí.
- Mạng lưới giao thông được đầu tư phát triển; đã nâng cấp hàng chục
km đường từ xã lên cấp huyện và đường từ huyện lên tỉnh.
- Thương mại - dịch vụ tăng trưởng bình quân đạt 23,42%/năm. Phát
triển mạnh như: vận tải, hệ thống ngân hàng, viễn thông, nhà hàng, dịch vụ
hàng hóa tại các chợ và siêu thị...
- Mỹ Hào là một huyện công nghiệp phát triển nhanh và mạnh nhất của
tỉnh Hưng Yên. Hiện nay, huyện có các khu công nghiệp lớn như: Phố Nối A,
Phố Nối B (khu công nghiệp dệt may), Thăng long II (Mitsutomo Nhật Bản),
Minh Đức, Minh Quang…. với 188 dự án được phê duyệt và đi vào hoạt
động, thu hút trên 20.000 lao động. Sản phẩm công nghiệp của huyện là dệt
may, giày da, ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm... Cơ cấu theo hướng phát
triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo. Nhưng phân hoá kinh tế
không đồng đều giữa các địa phương trong huyện đang là vấn đề đặt ra đối
với đội ngũ cán bộ, lãnh đạo của huyện và các xã, thị trấn.
b/Về văn hóa xã hội
- Các chính sách xã hội được thực hiện tốt, đúng chế độ; Toàn huyện có
48 mẹ được truy tặng, phong tặng Mẹ VNAH và 06 gia đình liệt sỹ được tặng
Huân chương độc lập. 100% các xã, thị trấn có điểm vui chơi cho trẻ em.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo, đạt 65%. Tỷ lệ hộ nghèo còn 2%.
- Giáo dục và đào tạo: tiếp tục có bước phát triển, chất lượng giáo dục
toàn diện và mũi nhọn được nâng lên. Tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường Đại
học hàng năm đạt trên 35%. Toàn huyện đã có 34/43 trường được công nhận
đạt chuẩn quốc gia đạt 79,1%.
*Những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội: