Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động trong pháp luật lao động ở việt nam - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HOÀI THƢƠNG

BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYÊN THỊ HOÀI THƢƠNG

BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu


DN

Doanh nghiệp

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

NLĐ

Ngƣời lao động

NSDLĐ

Ngƣời sử dụng lao động

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

TNLĐ,BNN Tai naṇ lao đông, bêṇ h nghề nghiêp p


MỤC LỤC

Trang

2.2.2. Bảo vệ tính mạng sức khỏe người lao động và thực tiễn triển khai ..... 40
2.2.3. Bảo vệ danh dự nhân phẩm, uy tín của người lao động và thực tiễn
triển khai ......................................................................................................... 72
2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động.......................75
2.3.1. Biện pháp tự bảo vệ............................................................................... 75
2.3.2 Biện pháp liên kết tạo sức mạnh tập thể.............................................. 76
2.3.3. Biên pháp bồi thường thiêṭ hại.............................................................. 78
2.3.4. Biên pháp thanh tra , kiểm tra , giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật về lao động............................................................................ 80
2.3.5. Biện pháp giải quyết tranh chấp........................................................ 81
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VÀ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN

THÂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
VIỆT NAM .................................................................................................... 84
3.1. Những yêu cầu đặt ra cần phải nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân
của ngƣời lao động trong pháp luật Lao động Việt Nam......................................84
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của
ngƣời lao động trong pháp luật Lao động Việt Nam .............................................86
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ
quyền nhân thân của ngƣời lao động. ........................................................................90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI NÓI ĐẦU

1.


luật về bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị
trƣờng hiện nay nhằm đƣa ra nhƣng kiến nghị hoàn thiện BLLĐ về vấn đề bảo
vệ quyền nhân thân của NLĐ và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các quy
định của BLLĐ về bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ trên thực tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ và đảm bảo thực thi quyền nhân thân
của NLĐ trong thực tế luôn là đề tài thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều giới
trong xã hội. Bởi trong quan hệ lao động, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với
NSDLĐ, và là ngƣời phải thực hiện các nghĩa vụ lao động nên thƣờng đối diện
với các rủi ro dẫn đến quyền nhân thân của họ rất dễ bị xâm phạm. Qua tìm
hiểu, đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh
bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ nhƣ: vấn đề việc làm, thời giờ làm việc, thời
giờ nghỉ ngơi, vấn đề ATVSLĐ, vấn đề lƣơng tối thiểu…Cũng nhƣ đã có rất
nhiều đề tài nghiên cứu trực tiếp về bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ nhƣ:
Cuốn sách chuyên khảo "Đảm bảo quyền con ngƣời trong pháp luật lao
động Việt Nam" do PGS.TS.Lê Thị Hoài Thu chủ biên năm 2013.
Luận văn thạc sỹ "Bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động dƣới góc độ
pháp luật lao động" của Ths.Đỗ Minh Nghĩa do PGS.TS Nguyễn Hữu Chí
hƣớng dẫn;
Khóa luận tốt nghiệp "Bảo đảm sự an toàn tính mạng, sức khỏe cho ngƣời
lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng của luật lao động" của tác
giả Đỗ Viết Huy năm 2012;
Khóa luận tốt nghiệp "Bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động theo
quy định của pháp luật lao động Việt Nam" của Nhâm Thúy Lan do Tiến sỹ
Nguyễn Kim Phụng hƣớng dẫn năm 2004;
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đã đƣợc thực hiện từ khá lâu, có những
công trình trƣớc khi BLLĐ 2012 có hiệu lực. Chính vì vậy, các quy định của
pháp luật cũng nhƣ các số liệu thống kê về tình hình thực tế đã có những sự
2

3


- Phạm vi nghiên cứu: Bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ trong pháp luật
lao đông ở Vi ệt Nam là một đề tài rất rộng , số lƣơng văn bản quy điṇ h về vấn
đề này rất nhiều . Vì vậy, phạm vi nghiên cứu xin đƣợc giới hạn ở các vấn đề
chính của quyền nhân thân của NLĐ đó là quyền lao động

, quyền đƣơc đam p̣̉

bảo về tính mạng sức khoẻ, quyền đƣơc đam bao về danh d ự nhân phẩm, uy tin
p̣̉
của NLĐ trong pháp luật lao động ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác_Lê Nin với phép
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phƣơng pháp cụ thể: phƣơng pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số
liệu, tài liệu, thống kê… để làm rõ từng mặt, từng lĩnh vực của đề tài.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luâṇ văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và bảo vệ quyền
nhân thân của ngƣời lao động.
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam trong việc bảo vệ
quyền nhân thân của ngƣời lao động.
Chƣơng 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động trong pháp
luật lao động Việt Nam.

4


này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản đó
là gắn liền với cá nhân và không thể chuyển dịch. Tuy nhiên bên cạnh các đặc
điểm của quyền dân sự đó còn có những đặc điểm đặc biệt là mang giá trị
5


tinh thần và không định giá đƣợc. Nhƣ vậy, cách hiểu toàn diện nhất về quyền
nhân thân là "Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần
của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho
chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [17.tr40].
NLĐ là một cá nhân trong xã hội và trƣớc hết họ cũng là một công dân, do
đó họ có những quyền nhân thân cơ bản của một công dân nhƣ: quyền đối với
họ tên, dân tộc, quốc tịch, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy
tín…Tuy nhiên, khi tham gia vào một quan hệ lao động cụ thể, với một NSDLĐ cụ
thể, các quyền nhân thân của NLĐ sẽ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố nhƣ điều kiện
lao động, thái độ của chủ sử dụng, chế độ làm việc…Nhƣ vậy, luật dân sự chỉ là
cơ sở xác định các giá trị nhân thân của NLĐ. Trên cơ sở đó, Luật lao động
cũng có những quy định phù hợp, đặc thù liên quan đến việc tôn trọng và bảo
vệ các quyền nhân thân của NLĐ trong phạm vi điều chỉnh của mình. Nói một
cách cụ thể: "Quyền nhân thân của người lao động là quyền lao động và các
quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín…của người lao
động trong quá trình tham gia quan hệ lao động với người sử dụng lao động".
Việc xác định nội dung cụ thể của các quyền nhân thân của NLĐ có ý
nghĩa rất quan trọng để xây dựng các chế định luật nhằm bảo vệ toàn diện
NLĐ - một nhiệm vụ đặc trƣng của luật lao động Việt Nam.
1.1.2. Phân loại quyền nhân thân của người lao động
BLDS 2005 liệt kê tƣơng đối nhiều các quyền nhân thân (từ Điều 26 đến
Điều 51), bao gồm: quyền đối với họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định
dân tộc; quyền đƣợc khai sinh, khai tử; quyền đối với hình ảnh; quyền đƣợc
đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể;

quy định về xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về việc
làm và hợp đồng lao động.
Nhóm thứ nhất là quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe
thân thể của NLĐ. Trong đó bao gồm các nội dung: quy định chế độ làm việc,
7


nghỉ ngơi hợp lý; quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; quy định về
chế độ tiền lƣơng hợp lý nhằm bù đắp hao phí sức lao động, bảo đảm sức
khỏe cho NLĐ. Thân thể của mỗi cá nhân không phải là tài sản, mà thuộc về
nhân thân của cá nhân đó. Các quyền liên quan đến thân thể của NLĐ đƣợc
bảo vệ một cách giống nhau ở mọi NLĐ (tính mạng, sức khoẻ, thân thể của mỗi
cá nhân đều đƣợc bảo vệ nhƣ nhau và đều là vô giá mà không phụ thuộc vào
giới tính hay địa vị xã hội) và đƣợc bảo vệ một cách tuyệt đối khỏi sự xâm
phạm của bất kỳ chủ thể khác, bất kể chủ thể quyền có yêu cầu hay không yêu
cầu đƣợc bảo vệ.
Nhóm thứ ba là quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền
lao động của NLĐ. Trong đó bao gồm cac quy điṇ h về cấm phân biêṭ đối xƣ̣̉ ,
NLĐ đƣơc tôn trọng, đƣợc đối xử bình đẳng và đúng việc (NLĐ đƣợc tham
gia công đoàn; khi đình công NSDLĐ không đƣợc vùi dập - trả thù, khi có vi
phạm xảy ra chủ sử dụng lao động cũng phải thực hiện các biện pháp xin lỗi
công khai). Nghiêm cấm moị hanh vi : quấy rối tình dục và ngƣợc đãi ngƣời
lao động…
Việc phân loại quyền nhân thân của NLĐ sẽ tạo nền tảng để xây dựng
các quy định PLLĐ phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của NLĐ một cách hiệu quả
nhất bởi đối với mỗi nhóm quyền nhân thân pháp luật sẽ có những cơ chế bảo vệ
riêng.
1.1.3. Ý nghĩa quyền nhân thân của người lao động
Đối với người lao động
Sức khỏe, tính mạng là những thứ quý giá nhất của con ngƣời không gì

đánh mất đi nhƣng quyền nhân thân cơ bản nhất của mình. Trong điều kiện
nhƣ vậy, để cho NLĐ có thể yên tâm làm việc và phát huy năng lực của mình thì
họ phải đƣợc đảm bảo cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, đƣợc hòa
nhập vào đời sống cộng đồng. "Sức lao động" mà họ bỏ ra đƣợc thừa nhận là
sự đóng góp cho xã hội.
Đối với ngƣời sử dụng lao động
9


Việc tôn trọng và đảm bảo quyền nhân thân của NLĐ không chỉ đơn
thuần đem lại quyền lợi cho NLĐ mà bên cạnh đó đối với NSDLĐ nó cũng có
những ý nghĩa, tác dụng to lớn.
Thứ nhất, khi các giá trị nhân thân của NLĐ đƣợc đảm bảo sẽ thúc đẩy họ
hăng say lao động, đem lại lợi ích cho chủ sử dụng lao động. Trong quan hệ lao
động, các yêu tố nhƣ tâm lý, tình cảm, lòng tin, sự thoái mái trong công việc có
tác động rất quan trọng đến hiệu quả công việc. Khi NLĐ đƣợc đảm bảo tính
mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm,…họ sẽ có ý thức tự nguyện làm việc,
không còn coi công việc là nghĩa vụ để đổi lấy tiền lƣơng. NLĐ tìm thấy niềm
vui trong công việc, họ sẽ yêu quý và yên tâm gắn bó với doanh nghiệp, nỗ
lực hết sức trong công việc. Bên cạnh tâm lý thoải mái NLĐ sẽ phát huy hết
khả năng sáng tạo của mình làm cho năng suất chất lƣợng lao động tăng cao,
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc giữ vững. Và khi đó lợi ích sẽ thuộc
về phía NSDLĐ.
Thứ hai, việc đảm bảo tốt quyền nhân thân của NLĐ còn giúp NSDLĐ
tránh đƣợc những chi phí không cần thiết nhƣ: chi phí để khắc phục hậu quả
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chi phí giải quyết các tranh chấp lao động có
liên quan, chi phí đào tạo lại nguồn nhân lực bị mất do việc xâm hại quyền nhân
thân…Trên thực tế, các chi phí này hàng năm không hề nhỏ và đó là một sự lãng phí
đối với doanh nghiệp. Không chỉ lãng phí về mặt tiền của để giải quyết các vấn
đề liên quan, NSDLĐ còn phải giành thời gian, công sức để giải quyết những

chuẩn đó. Có thể thấy việc đảm bảo quyền nhân thân của NLĐ sẽ giúp NSDLĐ
đáp ứng đƣợc điều kiện hội nhập quốc tế khi mà các nƣớc trên thế giới đều
đƣa ra các điều kiên hay tiêu chuẩn tƣơng đối khắt khe về việc bảo vệ quyền
nhân thân của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động.
Đối với xã hội
Một xã hội văn minh, tiến bộ là một xã hội mà trong đó các quyền con
ngƣời đƣơc tôn trọng và bảo đảm. Trong xu thế phát triển và hội nhập, mỗi
quốc gia luôn mong muốn cộng đồng quốc tế thừa nhận những nỗ lực nhằm

11


xóa bỏ sự bất bình đẳng, sự bóc lột sức lao động. Bảo vệ quyền nhân thân của
NLĐ trở thành cách thức góp phần tạo dựng một xã hội tiến bộ, văn minh, tạo
đƣợc vị thế của quốc gia trên trƣờng quốc tế.
Ngoài ra, việc đảm bảo quyền nhân thân của NLĐ còn giúp cho nền kinh tế
của đất nƣớc ổn định và phát triển, làm tăng tổng sản phẩm của toàn xã hội, giúp
mức sống của các thành viên trong xã hội đƣợc đảm bảo, tăng phúc lợi xã hội,
ổn định kinh tế của đất nƣớc. Khi DN làm ăn không hiệu quả, các tranh chấp
lao động và đình công thƣờng xuyên xảy ra, không chỉ DN bị tổn thất mà thu
nhập của NLĐ cũng bị ảnh hƣởng, Nhà nƣớc cũng mất một nguồn kinh phí
cũng nhƣ nguồn nhân lực để giải quyết các vấn đề phát sinh. NLĐ cũng là các
thành viên trong xã hội, họ tham gia vào quan hệ lao động để đảm bảo cuộc
sống cho bản thân cũng nhƣ gia đình. Do đó nếu họ gặp bất ổn trong quá trình
sản xuất thì chính đời sống xã hội cũng không đƣợc ổn định. NLĐ là những
ngƣời trực tiếp làm ra sản phẩm, dịch vụ và năng suất lao động sẽ phụ thuộc
vào chính khả năng làm việc của họ. Khi tính mạng, sức khỏe của NLĐ đƣợc
đảm bảo và danh dự, nhân phẩm của NLĐ đƣợc tôn trọng sẽ là động lực để NLĐ
làm tốt công việc của mình, điều đó sẽ làm tăng tổng sản phẩm của toàn xã hội,
không chỉ giúp mức sống của các thành viên đƣợc đảm bảo mà còn làm tăng

dân sự quy định cụ thể ở mức bảo vệ quyền nhân thân. Các giá trị nhân thân
không chỉ đƣợc xác định đầy đủ, trọn vẹn, đƣợc thừa nhận và đƣợc các chủ
thể cam kết tôn trọng mà hơn thế nữa, pháp luật có các chế tài cụ thể áp dụng
đối với những hành vi xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại đến quyền nhân thân.
Cũng giống nhƣ vậy, quyền nhân thân của NLĐ không những đƣợc pháp
luật thừa nhận mà còn đƣợc pháp luật bảo vệ khi có sự xâm phạm đến quyền
nhân thân ấy. Đối tƣợng đƣợc luật lao động bảo vệ quyền nhân thân ở đây
không phải là mọi công dân nhƣ luật dân sự mà là NLĐ, trong đó chủ yếu là
NLĐ trong quan hệ hợp đồng lao động. Bởi đối với cán bộ công chức nhà
nƣớc, đây là những ngƣời làm công ăn lƣơng trực tiếp với Nhà nƣớc, NSDLĐ
là Nhà nƣớc. Do đó, NLĐ đƣợc tôn trọng và không phải chịu sự đối xử bất
bình đẳng bởi giữa họ và ngƣời quản lý không có sự phân biệt, không có ranh
giới chủ - thợ, cũng nhƣ sự đối lập về lợi ích. Mục tiêu lợi nhuận không phải
là điều đƣợc đặt lên hàng đầu khi nhà nƣớc thiết lập các quan hệ này. Vì vậy
mà hiếm khi có sự bóc lột sức lao động và các giá trị nhân thân của NLĐ
13


cũng đƣợc đảm bảo khá tốt. Đối với lao động tự do, vì không thuộc bất cứ
một cơ quan, tổ chức nào cụ thể, không tham gia quan hệ lao động nên việc
bảo vệ quyền nhân thân của họ chủ yếu vẫn theo các quy định chung của luật
dân sự. Nhà nƣớc chỉ có thể đƣa ra những quy định chung thông qua luật dân
sự và nếu có các vấn đề nảy sinh thì LDS sẽ là căn cứ để xem xét. Đối với xã
viên hợp tác xã, cũng nhƣ cán bộ công chức nhà nƣớc, địa vị của các xã viên
hợp tác xã khá bình đẳng. Họ vừa là NLĐ nhƣng cũng đồng thời là chủ.
Quyền nhân thân của họ đƣợc bảo vệ thông qua cơ chế tự quản là chủ yếu.
Nhƣ vậy, nhiệm vụ bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ đƣợc đặt ra chủ
yếu hƣớng tới NLĐ trong quan hệ hợp đồng lao động - một hình thức tuyển
dụng lao động chủ yếu của nền kinh tế thị trƣờng. Khi tham gia quan hệ lao
động ấy, NLĐ trở thành ngƣời làm công cho chủ SDLĐ và phải tuân thủ,

thuẫn phát triển thành mâu thuẫn đối kháng mà không thể dung hòa sẽ dẫn
đến việc phá vỡ quan hệ lao động. Việc phát sinh tranh chấp lao động giữa
các bên cũng gây ảnh hƣởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nƣớc cũng nhƣ gây ra tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tƣ nƣớc
ngoài khi muốn đầu tƣ vào thị trƣờng Việt Nam.
Trong 4 bản Hiến pháp trƣớc đây không có bất kỳ quy định nào ghi nhận
quyền đƣợc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, chỉ đến khi bản
Hiến pháp mới ra đời - Hiến pháp 2013 mới ghi nhận vấn đề này. Điều 53
Hiến pháp 2013 quy định "Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người lao động, NSDLĐ và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ,
hài hòa và ổn định". Trên cơ sở đó, Khoản 2 Điều 4 BLLĐ 2012 quy định
"Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ". Việc ghi nhận bảo vệ
quyền của NSDLĐ trong các văn bản luật là điều rất cần thiết vì NSDLĐ
cũng là một bên của quan hệ lao động nên họ cũng rất cần có một cơ chế để
bảo vệ quyền lợi cho họ.
Việc tuyển dụng và điều hành lao động quyết định đến hiệu quả hoạt
động của cơ quan, doanh nghiệp nên Nhà nƣớc cho phép NSDLĐ đƣợc quyền
15


tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh;
khen thƣởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động (điểm a khoản 1 Điều 6 BLLĐ
2012) đồng thời NSDLĐ có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ
việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động, có
quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh (Điều 11
BLLĐ 2012). Bên cạnh việc BLLĐ quy định quyền đơn phƣơng chấm dứt hợp
đồng lao động của NLĐ thì BLLĐ cũng quy định quyền quyền đơn phƣơng
chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ. Những quy định này nhằm đảm bảo
quyền quản lý của NSDLĐ.
NSDLĐ là ngƣời bỏ vốn, tài sản ra để thành lập doanh nghiệp, tổ chức

động bao gồm việc áp dụng trình độ (tiêu chuẩn) khác nhau trong việc tuyển
dụng lao động nam và nữ cho cùng một công việc; từ chối hoặc hạn chế tuyển
dụng lao động, sa thải ngƣời lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang
thai, sinh con hoặc nuôi con của họ…
NSDLĐ bị cấm phân biệt đối xử với NLĐ khuyết tật trong mọi vấn đề
liên quan đến việc làm. NSDLĐ cần tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời khuyết tật
làm việc, trong đó bao gồm việc thích nghi với các phƣơng tiện thích ứng, các
thiết bị an toàn, đảm bảo điều kiện thích hợp của máy móc, thiết bị, công cụ.
NSDLĐ phải tham khảo ý kiến NLĐ khuyết tật về các vấn đề liên quan đến
quyền và lợi ích của họ. NSDLĐ bị cấm các hành vi sau: yêu cầu NLĐ khuyết
tật làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm đối với lao động khuyết tật bị suy giảm
khả năng lao động từ 51% trở lên; sử dụng NLĐ khuyết tật làm những công
việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục
Bộ LĐTB-XH, Bộ Y tế ban hành.
Hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử đối với ngƣời nhiễm HIV cũng bị cấm
theo pháp luật. NSDLĐ có trách nhiệm: tổ chức tuyên truyền, giáo dục các
biện pháp phòng, chống HIV/AIDS, chống kỳ thị và phân biệt đối xử với
ngƣời nhiễm HIV; bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và trình độ chuyên
môn của ngƣời lao động nhiễm HIV; tạo điều kiện cho ngƣời lao động tham
17


gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. NSDLĐ không đƣợc có các hành
vi nhƣ: chấm dứt hợp đồng lao động hoặc gây khó khăn trong quá trình làm
việc của NLĐ vì lý do ngƣời lao động nhiễm HIV; ép buộc NLĐ còn đủ sức
khoẻ chuyển công việc mà họ đang đảm nhiệm vì lý do NLĐ nhiễm HIV; từ chối
nâng lƣơng, đề bạt hoặc không đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời
lao động vì lý do NLĐ nhiễm HIV; yêu cầu xét nghiệm HIV hoặc xuất trình kết
quả xét nhiễm HIV đối với ngƣời dự tuyển lao động, từ chối tuyển dụng vì lý do
ngƣời dự tuyển nhiễm HIV, ngoại trừ một số nghề trong danh mục Chính phủ

Nhƣ vậy, khi quy định về vấn đề nhân thân của NLĐ, đối với những nội
dung thuộc về quyền của NLĐ thì phải đảm bảo không đƣợc thấp hơn mức tối
thiểu, còn đối với những nội dung thuộc về nghĩa vụ của NLĐ thì phải đảm bảo
không đƣợc cao hơn mức tối tối đa mà luật quy định.
1.2.3. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của người lao động.
Biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ trong pháp luật lao động
đƣợc hiểu là những biện pháp do pháp luật lao động quy định nhằm bảo đảm
cho các quyền nhân thân của NLĐ trong pháp luật lao động đƣợc thực thi đầy
đủ trên thực tế. Có nhiều cách tiếp cận tuy nhiên nếu căn cứ vào tính chất các
biêṇ pháp bảo vê pquyền nhân thân của NLĐ thì có các biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, biện pháp tự bảo vệ.
Khi quyền nhân thân của NLĐ bị xâm phạm, họ sẽ là ngƣời chịu ảnh hƣởng
trực tiếp, do đó, pháp luật cho phép NLĐ có quyền tự định đoạt trong một số
vẫn đề để bảo vệ quyền nhân thân của mình trƣớc NSDLĐ. Khi tham gia
quan hệ lao động, NLĐ đƣợc phép thỏa thuận với NSDLĐ về những điều
khoản trong hợp đồng lao động, nội dung của những quy định trong hợp đồng
sẽ có tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích của ngƣời lao động. Do vậy, khi
thỏa thuận, giao kết hợp đồng ngƣời lao động có thể đƣa vào những nội dung
để có thể tự bảo vệ quyền nhân thân của mình một cách tốt nhất.
Thứ hai, biện pháp liên kết tạo sức mạnh tập thể.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status