Đảng lãnh đạo đối với mặt trận trong việc xây dựng khối đoàn kết việt nam trong giai đoạn hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 36

TIỂU LUẬN
MÔN: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁC HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỐI VỚI MẶT TRẬN TRONG VIỆC
XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................2
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
B. NỘI DUNG......................................................................................................3
I. Cơ sở lý luận về Đảng lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc trong việc xây
dựng khối đoàn khết đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. .........................3
1.1. Khái niệm: ....................................................................................................3
1.2. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận
trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.................................................3
1.3. Tư tưởng của Đảng ta đối với Mặt trận Tổ quốc trong việc xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc....................................................................................5
1.4. Đảng lãnh đạo đối với Mặt trận trong việc xây dựng khối đoàn khết đại
đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. ....................................................................6
1.4.1 Sự cần thiết xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc....................................6
1.4.2 Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận có một đặc điểm đáng chú ý:
Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận................................7
1.4.3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận trong việc xây dựng
khối đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay.......................................................8
2. 2. Những kiến nghị........................................................................................12
III.Quam điểm và giải pháp nhằm nâng cao Đảng lãnh đạo đối với Mặt
trận tổ quốc trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai
đoạn hiện nay.....................................................................................................16
3.1. Quan điểm và phương hướng....................................................................16

cách mạng: Mặt trận phản đế, Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Hội Liên
Việt rồi Mặt trận Liên Việt thời chống Pháp, Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc và
Mặt trận dân tộc giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ và sau đại thắng năm
1975, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của cả nước thống nhất, hoàn toàn độc lập và
tự do, bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh.Mặt trận Tổ quốc
tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc, nối tiếp truyền thống vinh quang của
thời đã qua, phải góp phần giải đáp yêu cầu to lớn của giai đoạn cách mạng
mới: xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ đất nước.
Với mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Hệ thống chính trị bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể
chỉ có thể sống động trong vai trò của mình từ những sự cọ sát có thể có hoặc đã
xảy ra để tìm ra giao điểm cuối cùng của sự đồng thuận xã hội.
Trong quá trình đổi mới của đất nước, Mặt trận tổ quốc ngày càng được
mở rộng về tổ chức, hoàn thiện về nội dung và phương thức hoạt động. Không
chỉ dừng lại ở chức năng đoàn kết, động viên tinh thần yêu nước, nhiệt tình lao
động của toàn dân, mà còn phải đảm nhiệm vai trò của một tổ chức giám sát,
phản biện xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước, Mặt
trận còn phải trở thành mặt trận tham chính, nhằm đảm bảo cho sự lãnh đạo và
điều hành đất nước tránh được những sai lầm, khuyết điểm do tệ độc quyền,
quan liêu, chủ quan, duy ý chí gây nên. Nhận thức sâu sắc vấn đề có tính quy
luật đó Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với
việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và
việc tổ chức thực hiện, kể cả với công tác tổ chức và cán bộ”
Chính vì có vai trò to lớn, nên Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam lần thứ VII được tiến hành với chủ đề “Nâng cao vai trò Mặt
1


trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, xây

chính trị xã hội được thành lập , hoạt động trong mối liên hệ biện chứng , trong
đó vai trò lãnh đạo thuộc về Đảng, nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân,
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản ở Việt
Nam góp phần vào hoà bình và phong trào cộng sản trên thế giới
b. Mặt trận Tổ quốc: Là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện
của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và các nhân
tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tôc và các tôn giáo và
người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1.2. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận
trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận Dân tộc Thống nhất bắt nguồn từ
quan điểm nhất quán của Người về vai trò quyết định của quần chúng trong lịch
sử, coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng chỉ có thể hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình nếu biết tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong
Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi chống kẻ thù chung và xây dựng đất
nước. Trong quá trình phát triển của cách mạng, tuy phải trải qua những bước
thăng trầm, song quan điểm đó luôn luôn nhất quán. Từ Hội Phản đế Đồng minh,
Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận thống
nhất chống phát xít đến Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên việt, Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hoà
bình Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... tất cả những thử nghiệm về lý luận
và thực tiễn các phong trào Mặt trận đã đi đến khẳng định những quan điểm
đúng đắn của Hồ Chí Minh về Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.
Muốn giành được thắng lợi của cách mạng nói chung và xây dựng chủ
nghĩa xã hội thành công thì phải đại đoàn kết dân tộc, nhưng muốn đại đoàn kết
3


dân tộc thì phải tổ chức quần chúng lại thành Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng
rãi. Sự hình thành khối đại đoàn kết dân tộc là một tất yếu và sự ra đời tổ chức


4


hợp được lực lượng cách mạng rộng rãi mà còn làm tăng thêm kẻ thù, giảm bớt
bầu bạn, làm tổn hại cho sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc.
“Muốn đoàn kết thực sự và hợp tác thật thà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh Mặt trận phải có Cương lĩnh thật vững chắc, rất rộng rãi và thiết thực” 1.
Thiết thực vì cương lĩnh đó phải phù hợp với nguyện vọng thiết tha của toàn
thể đồng bào, đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh; rộng rãi vì Mặt trận bao gồm những người hiện nay tỏ ra thành tâm,
thành ý phụng sự Tổ quốc dù trước đây họ đã theo phe phái nào; vững chắc vì
Mặt trận dựa trên nền tảng đại đa số nhân dân trong nước là đồng bào công
nhân và đồng bào nông dân, đồng thời chú trọng đến tất cả các tầng lớp xã hội
trong nước ta, “không bỏ sót ai”. Theo đường lối của Đảng, Cương lĩnh của
Mặt trận đề ra những yêu cầu thiết thực, phù hợp với tâm tư nguyện vọng và
đòi hỏi thiết tha của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
1.3. Tư tưởng của Đảng ta đối với Mặt trận Tổ quốc trong việc xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc.
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài lãnh đạo chính trị,
lần lượt đã ra đời nhiều tổ chức Mặt trận khác nhau, mang tên khác nhau, đối
tượng tập hợp, mục đích rộng hẹp khác nhau tùy từng giai đoạn cách mạng: Mặt
trận phản đế, Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Hội Liên Việt rồi Mặt trận
Liên Việt thời chống Pháp, Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc
giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ và sau đại thắng năm 1975, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam của cả nước thống nhất, hoàn toàn độc lập và tự do, bắt tay vào
công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng đã nêu rõ: “… Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của
Đảng là đường lối chiến lược nhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức

Việt Minh là Mặt trận Liên Việt (hợp nhất từ Mặt trận Việt Minh và Hội Liên
hiệp quốc dân Việt Nam) đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đến thắng lợi.
Kế tục sự nghiệp của Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra
đời (năm 1955) đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh thống
nhất nước nhà.
Trong giai đoạn cách mạng mới, với nền dân chủ ngày càng phát triển thì
vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng quan trọng, nhiệm vụ
càng nặng nề hơn. Mặt trận có nhiệm vụ tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, tập hợp ngày càng rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, phát huy tinh
thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường và quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững
1

Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980 và 1992, Nxb CTQG, H, 1995, tr.139 .

6


kỷ cương và ổn định xã hội, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.4.2 Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận có một đặc điểm đáng chú ý:
Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận
Là thành viên, Đảng tham gia Mặt trận bình đẳng và có nghĩa vụ như mọi
hành viên khác. Đại diện cấp uỷ Đảng tham gia uỷ ban Mặt trận có trách nhiệm
sinh hoạt đầy đủ thực hiện hiệp thương dân chủ và phối hợp thống nhất hành
động. Cấp uỷ Đảng phải giáo dục đảng viên gương mẫu thực hiện chương trình
hành động chung đã được các tổ chức thành viên thoả thuậnvà tích cực tham gia
công tác Mặt trận tại khu dân cư

Đại hội X của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, tạo thuận
lợi cho bước phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo, Hội nghị
lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã đề ra những mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp chủ yếu nhằm: Duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, bảo
đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Tăng cường hợp tác và chủ động hội nhập quốc tế đạt hiệu quả ngày càng
cao. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn
xã hội. Tạo chuyển biến rõ nét hơn trong công tác xây dựng Đảng.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
đẩy mạnh cải cách hành chính; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đây chính là những mục tiêu phấn đấu, nhiệm
vụ cụ thể phải làm trong những năm trước mắt của Đảng, Nhà nước, của toàn
dân ta. Mặt trận cần tập trung làm tốt một số việc sau:
1- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy
hơn nữa vai trò, vị trí của mình trong việc tiếp tục củng cố, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận xã hội, thực
hiện đại đoàn kết từ cơ sở, trong từng cộng đồng dân cư đến toàn dân, toàn quân
trên phạm vi toàn quốc.
8


2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm tốt công tác động viên các tầng lớp
nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát huy
mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển.
3- Mặt trận tổ chức và hướng dẫn nhân dân phát huy quyền làm chủ, chủ

thức lãnh đạo của Đảng là một trong những điểm mấu chốt để Mặt trận tiếp tục
đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của mình. Nhân dịp này, tôi yêu cầu
các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở cần làm tốt chức năng lãnh đạo và
gương mẫu thực hiện trách nhiệm của một tổ chức thành viên, yêu cầu chính
quyền các cấp phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hoàn thành những nhiệm vụ vẻ vang của mình trong giai đoạn mới.
II. Thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc
trong việc xây dựng khối đại đoàn kết.
2.1.Thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc
trong việc xây dựng khối đại đoàn kết.
Hơn 75 năm qua kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài lãnh
đạo chính trị, lần lượt đã ra đời nhiều tổ chức Mặt trận khác nhau, mang tên
khác nhau, đối tượng tập hợp, mục đích rộng hẹp khác nhau tùy từng giai đoạn
cách mạng: Mặt trận phản đế, Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Hội Liên
Việt rồi Mặt trận Liên Việt thời chống Pháp, Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc và
Mặt trận dân tộc giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ và sau đại thắng năm
1975, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của cả nước thống nhất, hoàn toàn độc lập và
tự do, bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh.
Trong cuộc đấu tranh sinh tử kéo dài mấy thập niên vì độc lập tự do
thống nhất Tổ quốc, trước sự mất còn của đất nước và dân tộc, mối tương tác
về nghĩa vụ và quyền lợi riêng rẽ của cá nhân, kể luôn cả sinh mệnh đã nhường
chỗ một cách tự nguyện cho nghĩa vụ và quyền lợi tối thượng: hy sinh tất cả để
cứu nước. Khối đại đoàn kết toàn dân với nội dung đó trong thời đại Hồ Chí
Minh đã mang sức mạnh của dân tộc lên tuyệt đỉnh đảm bảo thắng lợi.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc, nối
tiếp truyền thống vinh quang của thời đã qua, phải góp phần giải đáp yêu cầu to
10


lớn của giai đoạn cách mạng mới: xây dựng đất nước theo định hướng xã hội



bình thường. Đảng trở thành Đảng cầm quyền nhưng vẫn giữ hầu như nguyên
vẹn phương thức và phong cách lãnh đạo cũ của giai đoạn đã qua, thực tế Đảng
làm cả chính quyền khiến cho Đảng thực tế trở thành một cơ cấu chính trị - xã
hội siêu quyền lực và để đảm bảo vận hành, chức danh Đảng viên trở thành
chuẩn, trước hết và trên hết, chưa hẳn tất cả đều đáp ứng về đức tài và chắc
chắn không chỉ có họ mới là người tài đức vượt trội trong toàn xã hội để chọn
và giữ các chức vụ chủ chốt từ cơ sở đến trung ương. Siêu quyền lực cộng với
tính biệt phái về cán bộ khiến cho tính chất Đảng trị ngày càng biểu hiện.
2. Nhà nước ta là của dân, do dân vì dân là một trong những công cụ làm
chủ của nhân dân, thậm chí là công cụ làm chủ chủ yếu và mạnh nhất được
nhân dân trao quyền lực quản lý xã hội, thể hiện về mặt thiết chế 3 nhánh: Lập
pháp, Hành pháp và Tư pháp chế ước lẫn nhau. Trong thực tiễn, nhánh hành
pháp trở thành một cơ quan siêu quyền lực trong hệ thống Nhà nước, được tăng
cường độ dưới bóng siêu quyền lực trên thực tế của Đảng. Sự tha hóa quyền lực
của nhánh hành pháp diễn ra không ít nơi nếu không nói thẳng là mang tính phổ
biến ở mọi ngõ ngách, ở mọi cấp bậc. Nhân dân - người chủ chân chính của đất
nước sau khi bỏ lá phiếu ủy quyền quản lý xã hội cho Nhà nước thì đơn thuần
còn lại số phận của người bị quản lý, người bị cai trị trên thực tế. Các cơ quan
quyền lực dân cử, Mặt trận và các đoàn thể… thực sự lu mờ.
Vì vậy, điều tiên quyết thứ hai là phải xây dựng và hoàn chỉnh Nhà nước
pháp quyền, pháp quy hóa mọi quan hệ tương tác của các chủ thể của hệ thống
chính trị.
3. Vị trí, vai trò của Mặt trận bao gồm các tổ chức thành viên đã được ghi
nhận ở Điều 9 Hiến pháp. Sự lu mờ của Mặt trận tôi đã nêu ở phần trên và
không có ý định đi sâu phân tích thêm nữa vì đã dùng lời lẽ đến tận cùng. Tìm
lại vị trí và vai trò của Mặt trận, trên cơ sở đó đổi mới hoạt động lệ thuộc vào
sự đổi mới toàn diện các mối quan hệ tương tác của toàn bộ hệ thống chính trị.
2. 2. Những kiến nghị

chủ động đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động do
Mặt trận khởi xướng và chủ trì như Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; Ngày vì người nghèo; Ngày hội Đoàn kết
dân tộc ở khu dân cư" (18-11 hằng năm)... Phát huy tốt nhất vai trò của các cá
nhân tiêu biểu, điển hình trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân trong khối đại
13


đoàn kết toàn dân tộc. Việc lựa chọn, bố trí sắp xếp cán bộ chủ chốt của Mặt
trận cấp xã cũng cần được quan tâm thích đáng, cần chuẩn hóa các yêu cầu đối
với đội ngũ cán bộ này và xây dựng hệ thống cơ chế quản lý cũng như chế độ,
chính sách cho phù hợp, hiệu quả. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận
và các đoàn thể là một trong những nội dung trọng tâm trong thời gian tới, nhằm
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, để Mặt trận và các đoàn thể
thực hiện tốt vai trò tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Phương thức hoạt động của Mặt trận rất phong phú, đa dạng và không ngừng
được đổi mới. Trong từng thời kỳ hoạt động, căn cứ vào tình hình và khả năng
thực tế ở mỗi địa phương để vận dụng và sáng tạo thêm những hình thức hoạt
động có hiệu quả. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận theo hướng
mạnh về cơ sở, tập trung cho cơ sở, đa dạng hóa hình thức tập hợp và phát huy
mọi nguồn lực của các lực lượng xã hội và tầng lớp nhân dân... Cần tập trung
vào những nội dung chủ yếu sau đây: Phối hợp và thống nhất hành động giữa
các thành viên. Đây không chỉ là phương thức hoạt động, mà còn là chức năng
và nguyên tắc làm việc cơ bản của Mặt trận. Phối hợp và thống nhất hành động
được tiến hành từ Trung ương đến cơ sở trên những lĩnh vực hoạt động của Mặt
trận như: tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, tham gia
xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật, thực hiện quyền giám sát hoạt động
của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cư, cán bộ công chức nhà nước theo quy
định của pháp luật, phát động các cuộc vận động toàn dân xây dựng và bảo vệ

không thể thiếu để tập hợp và đoàn kết không bỏ sót ai trong Mặt trận dân tộc
thống nhất, vì mục tiêu chung và điểm tương đồng là độc lập dân tộc, toàn vẹn
lãnh thổ, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
MTTQ đã thường xuyên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vị
thế, vai trò của MTTQ Việt Nam đã được khẳng định và tạo lập mối quan hệ
chặt chẽ, gắn bó giữa Mặt trận và toàn thể dân tộc, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ của một tổ chức liên minh chính trị. Với tinh thần "Đoàn kết, Dân chủ, Đổi
mới và Phát triển" sẽ phát huy mạnh mẽ dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội,
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh và Chương trình hành động của Đại hội VII Mặt trận Tổ quốc
15


Việt Nam trở thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội của các tầng lớp
nhân dân.
III.Quam điểm và giải pháp nhằm nâng cao Đảng lãnh đạo đối với Mặt
trận tổ quốc trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong
giai đoạn hiện nay.
3.1. Quan điểm và phương hướng
3.1.1. Quan điểm, phương hướng của Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết toàn
dân tộc
3.1.1.1. Quan điểm:
+ Ðại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng là đường lối
chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là
nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Ðại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của
Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm

triển; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng. Tổ
chức việc kết nghĩa, giúp đỡ nhau giữa các vùng, các địa phương có kinh tế phát
triển với vùng nghèo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
+ Phát triển văn hóa, y tế, giáo dục – đào tạo và khoa học - công nghệ, phấn
đấu nâng dần độ đồng đều về trình độ dân trí, văn hóa và mức độ hưởng thụ,
chăm sóc sức khỏe của nhân dân các vùng trong nước; gìn giữ và phát huy văn
hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
+ Phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương; đẩy mạnh đấu tranh chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi; thực hiện phương châm" dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", coi trọng vai trò của nhân dân trong đấu
tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Ðịnh hướng chính sách
đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội, cụ thể:
- Với giai cấp công nhân: nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ
học vấn và nghề nghiệp, bồi dưỡng tác phong công nghiệp, thực hiện "trí thức
hóa công nhân". Giải quyết việc làm, giảm tối đa tỉ lệ công nhân thiếu việc làm
và thất nghiệp. Thực hiện tốt pháp luật lao động, bảo hộ lao động và việc chăm
17


sóc, phục hồi sức khỏe cho công nhân. Sớm tổ chức thực hiện Quỹ trợ cấp thất
nghiệp. Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế đối với công nhân, viên chức, lao động; chính sách ưu đãi
nhà ở đối với công nhân bậc cao. Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, cán bộ
quản lý và phát triển đảng trong công nhân. Nghiên cứu việc giao cho tổ chức
công đoàn giới thiệu những công nhân ưu tú để kết nạp vào Ðảng.
- Với giai cấp nông dân: Nhà nước có chính sách điều tiết, hỗ trợ, tổ chức
tốt việc tiêu thụ nông sản cho nông dân; đưa công nghệ sản xuất tiên tiến vào
nông nghiệp, nông thôn; có chính sách điều chỉnh hợp lý việc sử dụng quỹ đất,
vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật

niên và nhi đồng vào các tổ chức do Ðoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
làm nồng cốt.
- Với Phụ nữ: tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và
trong toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới. Khẩn trương thể
chế hóa các quan điểm, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và công tác cán
bộ nữ trong tình hình mới; lồng ghép vấn đề giới trong quá trình xây dựng và
thực hiện các chương trình, kế hoạch chung. Coi trọng các chính sách xã hội,
các chính sách về giới để giảm nhẹ lao động nặng nhọc cho phụ nữ. Nâng cao
trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ. Chăm sóc sức khỏe bà mẹ
và trẻ em. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động
xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp.
- Với Cựu chiến binh: phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", tích
cực tham gia xây dựng và bảo vệ Ðảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa;
giúp nhau cải thiện đời sống; xóa đói, giảm nghèo; góp phần giáo dục truyền
thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; là chỗ dựa tin cậy của
Ðảng và chính quyền ở cơ sở.
- Với Người cao tuổi: xây dựng chính sách chăm sóc sức khỏe, quan tâm
hơn đến người cao tuổi về y tế, hưởng thụ văn hóa, nhu cầu được thông tin, phát
huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội,
nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với nước.
Xây dựng Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi. Phát huy vai trò
Hội Người cao tuổi Việt Nam.
19


- Với các nhà doanh nghiệp: coi trọng vai trò của các doanh nhân trong
phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện khung pháp lý chung để các nhà doanh
nghiệp yên tâm phát triển sản xuất-kinh doanh. Tăng cường sự lãnh đạo của
Ðảng đối với các tổ chức hiệp hội các nhà doanh nghiệp.

quyền lợi hợp pháp của đồng bào. Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền về
tình hình trong nước và các chủ trương, chính sách của nhà nước ta trong cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Có chính sách khen thưởng người Việt
Nam ở nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho Tổ quốc.
3.2.1.2. Phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền Nhà nước trong việc thực
hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Không ngừng hoàn thiện các cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, cụ thể hóa
để thực hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong tất
cả các loại hình tổ chức và đơn vị cơ sở thuộc các cấp, các ngành, kể cả trong
các cơ quan Ðảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Khắc phục
mọi biểu hiện vi phạm dân chủ, coi nhẹ dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Phát
huy dân chủ đồng thời đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội.
+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước phải đặt nhiệm vụ phục vụ nhân dân
lên trên hết, giải quyết đúng đắn và nhanh chóng các công việc có quan hệ trực
tiếp đến đời sống nhân dân; thực hiện đúng đắn chính sách đại đoàn kết toàn dân
tộc của Ðảng. Nhà nước có cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện cần thiết
để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng
của các tầng lớp nhân dân; tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách,
pháp luật; tập hợp, động viên nhân dân đồng tâm, hiệp lực thực hiện thắng lợi
những chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước; đồng thời, làm tốt vai trò giám sát
đối với các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây
dựng và bảo vệ chính quyền trong sạch, vững mạnh. Ðối với những vấn đề lớn
và đặc biệt quan trọng của đất nước, cần có những hình thức thích hợp để nhân
dân tham gia ý kiến. Trước khi ban hành những chủ trương, chính sách quan
trọng, cần tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân có
liên quan, bảo đảm để nhân dân có thể thẳng thắn bày tỏ được ý kiến đóng góp.
Khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý
kiến khác nhau, tránh chụp mũ, áp đặt.
21

xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo,
vươn lên làm giàu chính đáng, hợp pháp, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status