BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH & XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÍ NGUỒN NHÂN LỰC
---------*****---------
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TỈNH LONG AN. THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP.
LỚP: Đ14NL4
SINH VIÊN THỰC HIỆN: HỒ HOÀNG MINH CHÂU
SỐ BÁO DANH: 34
MSSV: 1453404041035
GVBM: ThS. ĐOÀN THỊ THỦY
TP HCM, NGÀY 23 THÁNG 06 NĂM 2016
Phần Mở Đầu
Việt Nam là quốc gia có truyền thống nông nghiệp lâu đời, nông thôn hiện nay chiếm
hơn 70% lao động xã hội và đây là nguồn lao động dồi dào, đầy tiềm năng cho sự phát
triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước. Việc nâng cao năng lực cho lao động nông thôn sẽ giúp cho họ có nhiều
việc làm hơn, cải thiện thu nhập và đời sống.
Long An là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm của phía nam, là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất của đồng bằng sông Cửu
Long. Tuy nhiên thách thức lớn nhất là lực lượng lao động nông thôn tuy đông nhưng
nhưng chất lượng còn thấp nên việc tìm việc làm còn khó khăn và thu nhập còn thấp
không đảm bảo tốt cho đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, đặc biệt là
Bảng 2.2. Tỷ lệ gia tăng dân số
Bảng 2.3. Thực trạng về trình độ học vấn của lao động nông thôn tỉnh
Long An
Phần Nội Dung
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TẠI TỈNH LONG AN
1.1. Những vấn đề về lao động nông thôn.
1.1.1. Khái niệm về lao động, lực lượng lao động, lao động nông thôn, đào tạo
nghề cho lao động nông thôn.
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động của các đối tượng lao động trong hiện thực.
Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, họat động nhiều nhất để tạo ra sản phẩm. Lao
động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm
phục vụ cho các nhu cầu đời sống xã hội. Thực chất là sự vận động của sức lao động
trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động chính là quá trình kết hợp
của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của
con người. Có thể nói lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người,
là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nguồn lao động là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể
những người mất khả năng lao động) và những người ngoài tuổi lao động nhưng thực
tế có tham gia lao động. Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở
lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu việc làm.
Lực lượng lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông
thôn, những vùng kinh tế còn gặp khó khăn ở nước ta trong độ tuổi lao động theo qui
định của pháp luật ( nam từ 16-60 tuổi, nữ từ 16-55 tuổi) có khả năng lao động. Lao
người lao động, giảm nghèo góp phần phát triển đất nước. Trong thời buổi công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay đào tạo nghề đã giúp nước ta hạn chế được tình
trạng lãng phí sức lao động đặc biệt là lao động nông thôn. Ngoài ra, khi lao động
nông thôn được sử dụng có hiệu quả thì nền kinh tế sẽ phát triển nhanh và bền vững
hơn, tránh những hệ quả kéo theo là thu nhập của lao động nông thôn thấp gây mất ổn
định xã hội. Vì vậy đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn là yêu cầu cấp bách cho quá trình đổi mới đất nước.
6
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN TỈNH LONG AN
2.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và thực trạng lao động nông thôn tại
tỉnh Long An.
2.1.1. Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội tác động đến tình hình đào tạo nghề
cho lao động nông thôn tại tỉnh Long An.
-
Tỉnh Long An thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp
với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp với tỉnh Svay
Rieng, Vương Quốc Campuchia, phía Tây giáp với tỉnh Đồng Tháp và phía
Nam giáp với tỉnh Tiền Giang. Sở hữu vị trí địa lý khá đặc biệt bên cạnh đó còn
thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Long An được xác định là vùng kinh
tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
Việt Nam.Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố,
1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có với 191 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có
15 thị trấn, 14 phường và 162 xã.Tính đến năm 2014, diện tích tự nhiên toàn
tỉnh Long An là 4495.0km² , dân số trung bình 1.477.300 người, mật độ dân số
động nông thôn của tỉnh Long An đã có những bước tiến lớn với sự đầu tư khoa học
và kĩ thuật cũng như thu hút các nhà đầu tư tạo ra các khu công nghiệp.
Bảng 2.1.Thực trạng về qui mô lao động tỉnh Long An.
Dân số trung bình
Dân số thành thị trung bình
Dân số nông thôn trung bình
Tổng lực lượng lao động
2010
2011
2012
2013
2014
1442,8
1449,9
1460,3
1469,9
1477,3
254,6
258,1
260,7
265,0
266,3
1188,2
1191,9
1199,7
1204,9
1211,0
855,4
841,7
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của tỉnh
Long An
8,5
8,3
9,6
8,3
6,9
Tỷ suất nhập cư của tỉnh Long An
5,5
3,8
4,7
4,7
6,2
Tỷ suất xuất cư của tỉnh Long An
9,0
2014
94,9
95,2
95
95,2
95,6
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc
57
56,7
60,3
60,4
59,3
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc đã qua đào tạo
9,7
và trau dồi kiến thức để cải thiện trình độ chuyên môn kĩ thuật của mình góp phần
nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình.
2.2. Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Long An.
2.2.1. Thực trạng nhu cầu lao động qua đào tạo nghề tại tỉnh Long An.
-
Tận dụng các lợi thế sẵn có của tỉnh Long An về mặt địa điểm và lực lượng lao
động sẵn có, các nhà đầu tư đã xây dựng các khu công nghiệp trên địa bàn, các
khu công nghiệp đó đã dễ dàng thu hút nguồn lao động dồi dào từ các khu vực
đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh tập trung tại tỉnh Long
An. Ngoài ra, khi chuyển đổi các khu nông nghiệp sang công nghiệp đồng thời
với việc hiện đại hóa nghành nông nghiệp đã tạo ra một lượng lớn lao động dư
thừa và lực lượng này chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp. Tuy
nhiên, vì quá trình công ngiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra một cách nhanh chóng
khiến cho các khu công nghiệp tuy cần một lượng lớn người lao động nhưng lại
không có đủ lao động đạt yêu cầu. Vì vậy, thiếu hụt lao động qua đào tạo nghề
một cách đang là một mối lo chung của các doanh nghiệp.Việc gia tăng các khu
công nghiệp cũng làm cho nhu cầu lao động tăng lên nhanh chóng, ngoài ra các
làng nghề cũng là nơi thu hút nhiều lực lượng lao động. Cầu lao động qua đào
tạo nghề của các làng nghề cũng tăng lên nhanh chóng, cho đến năm 2012 tỉnh
Long An có hơn 15 làng nghề và cụm làng nghề truyền thống để tạo công ăn
-
việc làm cho hàng ngàn lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Nhu cầu qua đào tạo nghề của các lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nông
nghiệp: Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Long An năm 2014: Tổng sản
phầm (GDP) của ngành nông - lâm- ngư nghiệp năm 2014 đạt 4.609.375 triệu
đồng( tăng 3,1% so với năm 2013 là 4.470.457 triệu đồng), giải quyết cho hàng
ngàn lao động có thu nhập ổn định.Thực trạng hiện nay lao động nông thôn qua
•
•
•
•
•
nghề, các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn có thể phân thành 3 loại:
Theo trình độ đào tạo nghề: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Theo thời gian đào tạo nghề: ngắn hạn và dài hạn.
Theo hình thứcđào tạo nghề: chính quy và thường xuyên.
Các hình thức đào tạo nghề:
Kèm cặp trong sản xuất
Mở các lớp cạnh doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
Đào tạo tại các trường chính quy
2.2.3. Tình hình đào tạo và kết quả đào tạo tại tỉnh Long An.
-
Tình hình đào tạo nghề trong các doanh nghiệp
Do yêu cầu cần một số lượng lao động có tay nghề làm việc tại các cơ sở sản xuất và
doanh nghiệp, mà thị trường lao động lại không thể đáp ứng đủ nhu cầu nên đa số các
doanh nghiệp lựa chọn hình thức tự tuyển dụng lao động phổ thông vào kèm nghề, đào
11
tạo nghề rồi sử dụng. Theo thống kê năm 2014 toàn tỉnh Long An có 890.900 người
trong độ tuổi lao động. Lực lượng lao động phần lớn được đào tạo tại chỗở các trường,
trung tâm dạy nghề cung cấp thường xuyên cho các doanh nghiệp hằng năm.
người, số lao động nông thôn có việc làm sau học nghề là 5.158 người ( được
tuyển dụng ngay sau khi học nghề là 233 người, được bao tiêu sản phẩm 1.052
người, tự tạo việc làm bằng hình thức nuôi trồng tăng năng suất cây trồng, vật
12
nuôi hoạc tự tạo việc làm có thu nhập cao là 3.799 người), số lao động học nghề
-
thuộc hộ thoát nghèo là 91 người và trở thành hộ khá là 442 lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ như trên, công tác dạy nghề
cho lao động nông thôn vẫn còn tồn tại những hạn chế như: một số bộ phận
nhân dân và thanh niên chưa ý thức đầy đủ về tầm quan trọng trong công tác
dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho cuộc sống của
bản thân và gia đình nên chưa tích cực tham gia học nghề. Vì vậy, tỷ lệ học
nghề của lao động nông thôn của tỉnh vẫn chưa cao và đời sống người dân còn
nhiều khó khăn.
2.3. Chính sách đào tạo nghề, việc làm của nhà nước và một số yêu cầu của lao
động nông thôn đối với công tác đào tạo nghề
2.3.1. Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm sau đào tạo cho lao động
nông thôn của tỉnh Long An.
Quyết định số 1956/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án " Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" đã đưa ra những mục tiêu rõ ràng cụ
thể nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch
cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế của đất nước. Dựa theo Quyết định 1956 tỉnh Long
An đã thành lập Ban chỉ đạo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020. Căn cứ vào chỉ đạo của ban chỉ đạo cấp tỉnh và nhu cầu đăng ký đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, các phòng ban sẽ tổng hợp và lập danh sách về nghề, số lượng
cầu hàng đầu của lao động nông thôn đối với việc đào tạo nghề.
• Thứ hai: Yêu cầu về thông tin. Việc bỏ qua những chi phí cơ hội khác đểđi học
nghề, được đào tạo nghề cũng phần nào gây ảnh hưởng đến đời sống của người
lao động nên việc tìm hiểu về thông tin ngành nghề được đào tạo sẽ là yêu cầu
tất yếu thứ hai của họ. Những người lao động trước khi bước vào quá trình đào
tạo nghề hay đang trong quá trình đào tạo nghề đều quan tâm đến thời gian đào
tạo, cơ hội việc làm, mức thu nhập sau đào tạo, sự hỗ trợ của cơ quan chức
năng đối với ngành nghề đó,nhằm đảm bảo cho lợi ích sau này của bản thân họ.
• Thứ ba: Yêu cầu đối với cơ sở đào tạo, trường học chính quy. Trong quá trình
học tập và đào tạo, bất cứ ai cũng mong muốn mình được học tập trong một
môi trường tốt, tiếp thu kiến thức, kĩ năng thực hành một cách nhanh chóng và
có hiệu quả. Vậy nên việc có những yêu cầu đối với những cơ sở, trung tâm đào
-
tạo nghề là điều cần thiết.
Ba yêu cầu trên là những yêu cầu tiêu biểu của lao động nông thôn đối với việc
đào tạo nghề, qua đó ta thấy được người lao động cũng luôn mong muốn mình
được đào tạo để có thể đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động của
tỉnh nhà.
14
-
Nhìn chung, người lao động đã lựa chọn các ngành nghề để chuyển đổi tương
đối phù hợp với trình độ và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động tại từng địa phương.
2.4. Đánh giá chung về phát triển lao động nông thôn qua đào tạo nghề tại tỉnh
Long An
-
kinh tế-xã hội của từng địa phương.
Đồng thời, một số bộ phận nhân dân và thanh niên vẫn chưa nhận thức đầy đủ
về tầm quan trọng trong công tác dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, tạo thu
nhập ổn định cho cuộc sống của bản thân và gia đình nên chưa tích cực tham
-
gia học nghề.
Trong giai đoạn đầu mới triển khai thực hiện đề án, một số nghề đào tạo chưa
bám sát với nhu cầu và điều kiện của người học, chưa phù hợp với kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, việc tổ chức đào tạo nghề và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn chưa chặt chẽ nên chất lượng đào tạo ở
một số lớp dạy nghề chưa hiệu quả.
15
-
Việc khảo sát nhu cầu học nghề, định hướng, tư vấn, giới thiệu việc làm chưa
được chú trọng đúng mức nên nhiều nơi chưa xác định được những ngành nghề
cần đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của từng địa phương trên địa bàn
tỉnh Long An.
2.4.3. Những tồn tại trong công cuộc đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
-
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp.
16
nghề phải đảm bảo chuyên môn, nghiệp vụ quản lí, dạy nghề. Chấn chỉnh các trường
hợp bố trí khiêm nhiệm nhiều công việc.
Phân luồng lao động có nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghề đào tạo,
đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển của địa phương.
Phát triển chương trình, giáo trìnhđào tạo. Đổi mới và phát triển chương trình, giáo
liệu dạy nghề cho lao động nông thôn theo yêu cầu của thị trường lao động, thường
xuyên cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới.
Tăng cường triển khai các dự án, kế hoạch hợp tác với các cơ sở, xí nghiệp, công ty,
làng nghề để tăng khả năng cung ứng việc làm cho lao động nông thôn sau đào tạo.
Hỗ trợ vay vốn cho học viên học nghề. Hỗ trợ cho học viên cóđiều kiện vay vốn tại
các ngân hàng, các quỹ hỗ trợ cho lao động. Bên cạnh đó cần đó cần có chính sách học
bổng hỗ trợ để người lao động có động lực học tập.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tất cả các lớp dạy nghề ccho lao động nông
thôn trên địa bàn. Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ.
3.2. Đề xuất giải pháp
Xây dựng và triển khai chương trìnhđào tạo nghề cho lực lượng lao động nông thôn
trẻ. Cần đào tạo các nghề có thời gian đào tạo ngắn, nhu cầu việc làm cao như : điện,
điện tử, sửa chữa cơ khí,.. cho lực lượng lao động này
Đa dạng hóa các loại ngành nghề. Liên kết với các làng nghề, công ty, tập đoàn để đào
tạo các ngành nghề phù hợp với nhu cầu và đa dạng hơn các ngành nghề mới hiện nay.
Sự phối hợp này càng chặt chẽ thì công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn càng
đáp ứng tốt cho nhu cầu của người học nghề.
Kết hợp truyền nghề vào công tác đào tạo. Hỗ trợ các nghệ nhân, thợ lành nghề truyền
nghề theo hình thức đào tạo dạy nghề tại các trung tâm dạy nghề, các trường nghề.
Khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ tham gia dạy
nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Mở ra các chương trình thi đua đào tạo
nghề cho lao động nông thôn giữa các doanh nghiệp, cơ sở, làng nghề với nhau ở các
động nông thôn của Đảng và nhà nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Bài viết đã
đề xuất hệ thống những quan điểm về giải pháp cho việc phát triển công cuộc đào tạo
nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Long An trong thời gian tới như: xây
18
dựng và triển khai mô hình đào tạo;đa dạng hóa các ngành nghề; kết hợp truyền nghề
và công tác đào tạo; khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp đào tạo nghề; tư vấn chọn
ngành nghề, hình thức và mô hình đào tạo phù hợp với mỗi đối tượng.
Tuy nhiên, bài viết nghiên cứu vấn đề trong tình hình các chính sách, chủ trương của
Nhà nước vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn còn trong giai đoạn bước đầu triển
khai thực hiện để rút kinh nghiệm nên còn nhiều giải pháp, chủ trương mới liên quan
đến việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn mà bài viết chưa kịp thời nghiên cứu và
cập nhật chỉnh sửa bổ sung.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
/> /> /> /> /> />