Đánh giá mức độ nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu khách sạn hương giang resort spa huế - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Ngày 01 Tháng 05 Năm 2016
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Phước Hiền


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
-----

- VNAT

: Vietnam National Administration of Tourism
Tổng cục du lịch Việt Nam

- GDP

: Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa

- VITA

: Hiệp hội du lịch Việt Nam


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

DANH MỤC HÌNH VẼ

-----

Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

DANH MỤC BẢNG

-----

Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

DANH MỤC BIỀU ĐỒ

-----


trường với sự xuất hiện ồ ạt của các thương hiệu cạnh tranh thì thương hiệu nào có
độ nhận diện lớn, thương hiệu ấy đủ sức tồn tại trước cơn bão cạnh tranh đang diễn
ra ngày càng khốc liệt, gay gắt. Bên cạnh đó, việc nắm được đặc điểm, nhận thức
của khách hàng về một thương hiệu là chìa khóa vô cùng quan trọng để xây dựng
được các chiến lược thương hiệu phù hợp, giúp gia tăng được độ nhận biết của
khách hàng.
Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn nói chung và kinh doanh
khách sạn tại Huế nói riêng thì khách hàng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp.
Với sự xuất hiện của ngày càng nhiều những thương hiệu khách sạn ở Huế, bên
cạnh những cái tên nổi tiếng như: khách sạn Sai Gon Morin, Century Riverside,
Indochine Palace, Hoàng Đế, La Residence,...là vô số những cái tên rất mới mẻ đối
với khách hàng. Bởi vậy, luôn luôn tồn tại một sự cạnh tranh ngầm gay gắt giữa các
khách sạn nhằm mục đích tồn tại và phát triển.
Ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX, khách sạn Hương Giang Resort &
Spa Huế nằm tại trung tâm thành phố, bên dòng sông Hương êm đềm và thơ mộng,
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

8


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

là nơi lý tưởng để du khách thưởng ngoạn toàn cảnh thành phố Huế khi đến đây.
Với hai di sản văn hóa của thế giới được UNESCO công nhận: quần thể di tích Cố
Đô Huế (1993) và nhã nhạc cung đình Huế (2003), Huế được ví như thánh địa du
lịch Việt Nam. Trước kia, ở đây chỉ là nhà khách của chính quyền Ngô Đình Diệm
nhưng cho đến bây giờ là một khách sạn 4 sao đạt tiêu chuẩn quốc tế. Trãi qua hơn
nữa thế kỷ hình thành và hoạt động, thương hiệu khách sạn Hương Giang Resort &


9


Chuyên Đề Tốt Nghiệp
-

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

Những biện pháp nào cần thực hiện để nâng cao khả năng nhận biết của khách hàng
đối với thương hiệu khách sạn Hương Giang Resort & Spa?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ nhận biết của khách hàng về thương hiệu
của khách sạn và mức độ quan tâm của khách hàng về các yếu tố tạo nên thương
hiệu khách sạn. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sự nhận biết về
thương hiệu khách sạn Hương Giang Resort & Spa trong tâm trí của khách hàng.
3.2. Đối tượng điều tra
Khách quốc tế và khách nội địa lưu trú tại khách sạn Hương Giang Resort &
Spa Huế và một số khách sạn khác trên địa bàn thành phố Huế.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
 Về không gian:
Được thực hiện trong phạm vi khách sạn Hương Giang Resort & Spa và một
số nơi tập trung khách du lịch cao cấp như phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu gần khách
sạn Morin, Century,...
 Về thời gian: từ 01/02/2016 đến 02/04/2016
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
-

Nên ta có : n =46893/(1+46893*0,1²) =100
 Quy mô mẫu: 100 mẫu. Dự phòng để đảm bảo tính khách quan của mẫu, phòng
trường hợp khách không đủ thời gian để hoàn thành bảng hỏi nên kết quả dự kiến sẽ
là 120 mẫu.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
-

Sử dụng phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 22.

-

Thống kê tần suất (Frequency), phần trăm (Percent), trung bình (Mean), mô tả
(Descriptive).

-

Phân tích phương sai một yếu tố ( Oneway Anova) để xem xét sự khác nhau giữa ý
kiến đánh giá của khách hàng theo các nhân tố: giới tính, độ tuổi, trình độ, thu
nhập…

-

Với P là mức ý nghĩa ta có:

 P < 0.1 (ns) : không có sự khác biệt ý kiến đánh giá giữa các nhóm khách hàng.
 0 < P
-

Theo Thông tư số 01/202/TT – TCDL ngày 27/04/2001 của Tổng cục du lịch về
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ – CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú
du lịch ghi rõ: “Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có
quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch”.

-

“ Cơ sở lưu trú có quầy lễ tân, dịch vụ và các trang thiết bị khác kèm theo cung cấp
dịch vụ nghỉ ngơi, ăn uống và một số dịch vụ khác cho khách du lịch” (Theo ISO
đã chỉnh).

-

“ Cơ sở lưu trú du lịch có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về
cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách” (Theo TCVN về
xếp hạng khách sạn).

-

Nhà nghiên cứu về du lịch và khách sạn Morcel Gotie đã định nghĩa rằng: “Khách
sạn là nơi lưu trú tạm thời của du khách cùng với các buồng ngủ còn có nhà hàng
với nhiều chủng loại khác nhau”.
Như vậy khách sạn là cơ sở phục vụ lưu trú phổ biến đối với khách du lịch,
chúng sản xuất, bán và trao cho khách những dịch vụ, hàng hóa, đáp ứng cho họ
nhu cầu về chỗ ngủ, nghỉ ngơi ăn uống, chữa bệnh, vui chơi giải trí,...nhằm thỏa
mãn nhu cầu thiết yếu và nhu cầu bổ sung của khách du lịch.


mãn nhu cầu của du khách đồng thời lưu giữ lòng trung thành của khách.
1.2.2. Bản chất của hoạt động kinh doanh khách sạn
Bản chất của ngành kinh doanh khách sạn là kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn
uống. Hiện nay cùng với việc phát triển của ngành du lịch và cuộc cạnh tranh thu
hút khách, hoạt động kinh doanh khách sạn không ngừng được mở rộng và đa dạng
hoá. Ngoài hai dịch vụ cơ bản trên các nhà kinh doanh đã tổ chức các hoạt động
khác như tổ chức các hội nghị, hội thảo, phục vụ vui chơi, giải trí...Trong các dịch
vụ trên có những dịch vụ do khách sạn sản xuất ra để cung cấp cho khách như dịch
vụ khách sạn, ăn uống, vui chơi giải trí... có những dịch vụ khách sạn làm đại lý bán
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

13


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

cho các cơ sở khác như: đồ uống, điện thoại, giặt là...Trong các dịch vụ khách sạn
cung cấp cho khách có những dịch vụvà hàng hoá khách phải trả tiền, có những
dịch vụ và hàng hoá khách không phải trả tiền như dịch vụ giữ đồ cho khách, dịch
vụkhuân vác hành lý...Kinh doanh trong ngành du lịch thực hiện thu hút một phần
quỹ tiêu dùng của nhân dân và thực hiện tái phân chia quỹ tiêu dùng của cá nhân
theo lãnh thổ.
Khách sạn du lịch góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội
củaquốc gia.
1.2.3. Nội dung chủ yếu của kinh doanh khách sạn
Là kinh doanh dịch vụ lưu trú, nhưng khi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của
mình ngoài nhu cầu về ở, người ta còn có nhu cầu về ăn cho nên trong kinh doanh
khách sạn việc cung ứng về các dịch vụ ăn cũng là nội dung rất quan trọng, nội

ứng ngay.
Tính tổng hợp và phức tạp trong quá trình hoạt động.
1.2.5. Ý nghĩa của ngành hoạt động kinh doanh khách sạn
 Ý nghĩa kinh tế:
Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch
và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của ngành. Mối liên hệ giữa kinh doanh
khách sạn và ngành du lịch của một quốc gia không phải là quan hệ một chiều mà
ngược lại, kinh doanh khách sạn cũng tác động đến sự phát triển của ngành du lịch
và đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia.
Thông qua kinh doanh lưu trú và ăn uống của các khách sạn, một phần trong
quỹ tiêu dùng của người dân được sử dụng vào việc tiêu dùng các dịch vụ và hàng
hóa của các doanh nghiệp khách sạn tại điểm du lịch. Kết quả dẫn đến sự phân phối
lại giữa các vùng trong nước quỹ tiêu dùng cá nhân. Một phần trong quỹ tiêu dùng
từ thu nhập của người dân từ khắp các nơi (trong và ngoài nước) được đem đến tiêu
dùng tại các trung tâm du lịch. Như vậy có sự phân phối lại quỹ tiêu dùng từ vùng
này sang vùng khác, từ đất nước này sang đất nước khác. Theo cách này, kinh
doanh khách sạn góp phần làm tăng GDP cho các vùng và quốc gia phát triển nó.
Ngoài ra, kinh doanh khách sạn phát triển góp phần tăng cường thu hút vốn
đầu tư trong và ngoài nước, huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Thật vậy,
đầu tư vào kinh doanh khách sạn vì đem lại hiệu quả của đồng vốn đầu tư cao cho
nên chỉ từ sau khi có chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước đến nay đã thu hút
được một lượng lớn vốn đầu tư của nước ngoài vào ngành này ( chiếm khoảng gần
70% tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam).
Các khách sạn là bạn hàng lớn của nhiều ngành khác trong nền kinh tế, vì
hàng ngày các khách sạn tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của nhiều ngành
như: các ngành công nghiêp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, ngành
bưu chính viễn thông, ngành ngân hàng và đặc biệt là ngành thủ công mỹ nghệ
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

15

lục trên thế giới tới Việt Nam. Điều đó làm tăng ý nghĩa vì mục đích hòa bình, hữu
nghị và tính đoàn kết giữa các dân tộc của kinh doanh du lịch nói chung và kinh
doanh khách sạn nói riêng. Các khách sạn lớn hiện đại là nơi tiến hành các cuộc họp
và các hội nghị cấp cao hoặc các hội nghị theo các chuyên đề, các đại hội, các cuộc
gặp gỡ công vụ về kinh tế, chính trị, văn hóa. Đó cũng là nơi chứng kiến những sự
kiện ký kết các văn bản chính trị, kinh tế, quan trọng trong nước và thế giới. Tại các
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

16


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

khách sạn cũng thường được tổ chức nhiều hoạt động văn hóa như hòa nhạc, trưng
bày nghệ thuật hoặc triễn lãm..v..v. Theo cách đó, kinh doanh khách sạn đóng góp
tích cực cho sự phát triển giao lưu giữa các quốc gia và các dân tộc trên thế giới trên
nhiều phương tiện khác nhau.
1.3. Tổng quan về thương hiệu
1.3.1. Khái niệm thương hiệu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi ra đời dù lớn hay nhỏ đều có tên gọi hay xa
hơn nữa là có biểu tượng, biểu ngữ, đó chính là thương hiệu của doanh nghiệp. Khi
đi vào hoạt động doanh nghiệp phải đặt tên cho những sản phẩm, dịch vụ của mình,
đó là nhãn hiệu hàng hóa. Trên thực tế, hai khái niệm này thường bị nhẫm lẫn. Vì
thế chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm thương hiệu.
Đã có rất nhiều định nghĩa về thương hiệu, như:
- Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (2005): “Thương hiệu là một cái tên, biểu
tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích
để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các

T. & C. Styles (1996). Lý do là khách hàng có hai nhu cầu: nhu cầu về chức năng
(functional needs) và nhu cầu về tâm lý (psychological needs).Sản phẩm chỉ cung
cấp cho khách hàng lợi ích chức năng và thương hiệu mới cung cấp cho khách hàng
cả hai (Hankinson, G. & P. Cowking (1996), The reality of Global Brands, London:
McGraw-Hill)

Thương hiệu là
thành phần của sản phẩm

Sản phẩm là thành phần của một thương hiệu

Sản phẩm

Thương hiệu

Thương hiệu

Sản phẩm

Hình 1.1: Sản phẩm và thương hiệu
1.3.2. Các thành phần của thương hiệu:Aaker (1996)
Theo quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu đã nói trên,
thương hiệu là một tập các thành phần có mục đích cung cấp cả lợi ích chức năng
và lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu. Như vậy, thương hiệu có thể bao gồm
các thành phần sau:
- Thành phần chức năng: thành phần này có mục đích cung cấp lợi ích chức
năng của thương hiệu cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm. Nó bao
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

18



Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

• Thứ hai, thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại là nằm
ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm tí người tiêu dùng.
• Thứ ba, thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người tiêu
dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích, tiếp xúc với hệ
thống các nhà phân phối, và qua quá trình tiếp nhận thông tin về sản phẩm.
• Thứ tư, thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng sự thua lỗ
của công ty.
Như vậy, khái niệm thương hiệu có nghĩa rộng hơn nhãn hiệu và nó chính là
nội dung bên trong của nhãn hiệu, hay nói cách khác nhãn hiệu là hình thức, là sự
biểu hiện ra bên ngoài của thương hiệu. Ngoài ra, thương hiệu còn có nhiệm vụ, tầm
nhìn chiến lược để nâng cao giá trị doanh nghiệp bằng cách nâng cao giá trị thương
hiệu. Một nhãn hiệu hàng hóa có thể dùng để thể hiện một thương hiệu nào đó,
nhưng thương hiệu không phải chỉ được thể hiện bằng nhãn hiệu hàng hóa. Thương
hiệu được hiểu là một tài sản dạng phi vật chất. Do đó, việc đầu tiên trong quá trình
tạo dựng thương hiệu là lựa chọn và thiết kế cho sản phẩm hoặc dịch vụ một tên
gọi, logo, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng, thiết kế bao bì và các yếu tố phân biệt
khác nhau trên sản phẩm, thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách hàng mục tiêu và
các yếu tố khác như: pháp luật, văn hóa, tín ngưỡng... chúng ta có thể gọi các thành
phần khác nhau đó là các yếu tố của thương hiệu.
1.4. Thương hiệu dịch vụ
Với những đặc tính riêng của nó, thương hiệu dịch vụ có những điểm khác
biệt so với thương hiệu hàng hóa. Đặc điểm của thương hiệu dịch vụ được tiếp cận
từ góc độ các sản phẩm dịch vụ và cách thức nhận biết chất lượng dịch vụ.
• Thứ nhất, sản phẩm mang tính vô hình. Tuy nhiên, sản phẩm dịch vụ không phải

nhau vì cách thức mà mỗi người tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ là khác
nhau.
• Cuối cùng, dịch vụ không thể lưu kho, bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Người
ta không thể cất giữ những chổ trống trong chuyến bay này cho chuyến bay khác,
cũng giống như vậy cho dịch vụ khách sạn, không thể lưu kho phòng trống khách
sạn ngày hôm nay cho những ngày tiếp theo… Đặc điểm này xuất phát từ tính
không thể tách rời của dịch vụ. Cũng từ đực điểm này dẫn tới sự mất cân đối trong
quan hệ cung cầu cục bọ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần, trong
tháng ở trong năm, điều này tạo tính thời vụ trong kinh doanh dịch vụ.
Xuất phát từ những đặc điểm trên của dịch vụ, muốn tiếp cận khái niệm thương
hiệu dịch vụ, chúng ta cần xem xét thương hiệu dịch vụ từ những góc độ sau:
- Thương hiệu dịch vụ được xem như là một sản phẩm. Nó đầy đủ 4P trong
Marketing căn bản: Sản phẩm dịch vụ như thế nào? Giá cả ra sao? Xúc tiến dịch vụ
dịch vụ có thực hiện tốt hay không? Bằng chứng và xác nhận của bên thứ ba nào
đối với chất lượng dịch vụ.
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

21


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

- Thương hiệu dịch vụ được xem là một quá trình. Quá trình này là một sự
tương tác giữa người mua và người bán mà tại đó phân phối dịch vụ được diễn ra.
Theo cách này, người ta chú trọng hơn đến sự trải nghiệm trong việc tiêu dùng
thương hiệu dịch vụ.
- Thương hiệu như một tổ chức. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến khái cạnh
văn hóa trong cách thể hiện thương hiệu dịch vụ. Văn hóa tổ chức là động lực thúc


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

dấu hiệu tạo nên thương hiệu, nhiều doanh nghiệp có ý đồ xấu đã tạo ra những dấu
hiệu gần giống với thương hiệu nổi tiếng để cố tạo ra sự nhầm lẫn cho người tiêu
dùng.
1.4.1.2. Chức năng thông tin và chỉ dẫn
Chức năng thông tin và chỉ dẫn của thương hiệu thể hiện ở chỗ: Thông qua
những hình ảnh, ngôn ngữ hay những dấu hiệu khác, người tiêu dùng có thể nhận
biết được phần nào về giá trị sử dụng và công dụng của hàng hóa. Những thông tin
về nơi sản xuất, đẳng cấp của hàng hóa cũng như điều kiện tiêu dùng cũng phần nào
được thể hiện qua thương hiệu. Nói chung thông tin mà thương hiệu mang đến luôn
rất phong phú. Vì vậy thương hiệu cần phải thể hiện rõ ràng, cụ thể và có thể nhận
biết, phân biệt nhằm tạo ra sự thành công cho một thương hiệu.
1.4.1.3. Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy
Chức năng này là sự cảm nhận của người tiêu dùng về sự khác biệt, sự ưu việt
hay an tâm, thoải mái, tin tưởng khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong lựa chon mà
thương hiệu đó mang lại. Ví dụ như xe máy Nhật, dàn âm thanh Sony, bia Heniken...
Nói đến sự cảm nhận là người ta nói đến ấn tượng nào đó về hàng hóa dịch vụ
trong tâm trí người tiêu dùng. Sự cảm nhận của người tiêu dùng không phải tự
nhiên mà có, nó được hình thành tổng hợp từ các yếu tố của thương hiệu như màu
sắc, tên gọi, biểutrưng, âm thanh, khẩu hiệu và sự trải nghiệm của người tiêu dùng.
Cùng một hàng hóa dịch vụ nhưng trải nghiệm của người tiêu dụng có thể khác
nhau, phụ thuộc vào thông điệp và hoàn cảnh tiếp cận thông tin, hoặc phụ thuộc vào
sự trải nghiệm của người sử dụng. Một thương hiệu có đẳng cấp, đã được chấp nhận
sẽ tạo được sự tin cậy đối với khách hàng và khách hàng sẽ trung thành với thương
hiệu và sản phẩm dịch vụ đó. Chất lượng hàng hóa dịch vụ là yếu tố quyết định lòng
trung thành của khách hàng, nhưng thương hiệu là động lực cực kỳ quan trọng để
giữ chân khách hàng ở lại với hàng hóa và dịch vụ đó và là địa chỉ để người tiêu
dùng đặt lòng tin. Chức năng này chỉ được thể hiện khi thương hiệu đã được chấp

người sử dụng.
1.4.2.2. Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp
- Thương hiệu thành công tạo ra tài sản cho doanh nghiệp nhờ thu hút và giữ
được khách hàng trung thành. Khi một doanh nghiệp tạo ra được khách hàng trung
thành, họ có thể đạt được thị phần lớn, duy trì mức giá cao dẫn đến đạt được doanh
thu và lợi nhuận cao.
- Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí
người tiêu dùng.
- Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng
- Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường
- Thương hiệu tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển của sản phẩm.
Sinh viên: Phạm Thị Phước Hiền – K46 TT & MKT

24


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Vân

- Thương hiệu uy tín giúp tiếp cận thị trường dễ hơn, bán với giá cao hơn, và
bán được nhiều hơn.
- Thu hút đầu tư: giúp thu hút đầu tư( phát hành cổ phiểu) và phát triển được
các quan hệ bạn hàng.
- Là tài sản vô hình có giá trị
Qua những vai trò trên, tôi rút ra được vai trò quan trọng của thương hiệu đối
với cả khách hàng và bản thân công ty được thể hiện trên nhiều khía cạnh. Thương
hiệu giúp cho cả khách hàng và công ty có được các lợi ích sau :
- Tăng doanh số bán hàng
- Thắt chặt lòng trung thành của khách hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status