MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ
Hình 1 - Sơ đồ quá trình nghiên cứu Error: Reference source not
found
Hình 2- Mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI)
Reference source not found
Hình 3 - Mức độ thường xuyên của người dân khi sử dụng dịch vụ
công viên công Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hà Nội trải qua bao thăng trầm luôn là trung tâm văn hóa, chính trị,du
lịch, khoa học kĩ thuật, trái tim của đất nước Việt Nam. Ngoài cái tên “Thành
phố vì hòa bình”,Hà Nội còn được biết đến là một thành phố “Xanh-Sạch-
Đẹp”.Góp phần không nhỏ tạo nên một diện mạo tươi đẹp như ngày hôm nay
của Hà Nội chính là các công viên, vườn hoa – những “lá phổi xanh” của
thành phố, được thành phố xây dựng với mục đích trước là để phục vụ nhu
cầu nghỉ ngơi, giải trí của người dân, sau là để làm đẹp cho Thủ đô.
Trong hơn 50 công viên và vườn hoa tại các quận nội thành Hà Nội,
chúng tôi nhận thấy 3 công viên Thống Nhất, Bách Thảo và Indira Gandhi là
3 công trình văn hóa điển hình phục vụ nhu cầu giải trí công cộng tại Hà Nội.
Phải khẳng định, 3 công viên này đã nhận được từ thành phố không ítngân
quỹcũng như công sức để tu bổ, nâng cấp cũng như xây mới thêm các hạng mục
để có được như ngày hôm nay.Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngập tràn trên các
phương tiện truyền thông đại chúng đều có không ít những bài viết phản ánh
những bức xúc của người dân về thực trạng tại những công viên công này.Đáng
chú ý là trong số đó có rất nhiều trang báo mạng uy tín như Laodong.com.vn,
Tienphong.vn, Giadinh.net.vn. Câu hỏi được đặt ra ở đây là liệu những bài viết
này đã thực sự mang tính khách quan hay chưa hay mới chỉ tập trung vào những
điểm tiêu cực mà quên đi những điểm tốt của các công viên công hiện nay?Quan
+ Không gian nghiên cứu: Công viên Thống Nhất(quận Hai Bà
Trưng), Công viên Bách Thảo (quận Ba Đình) và Công viên In-đi-ra Gan-
đi(quận Đống Đa).
+ Thời gian thu thập số liệu:
Số liệu sơ cấp : từ 24/3/2012 đến 31/3/2012.
Số liệu thứ cấp:từ năm 2000 dến năm 2012.
2
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quá trình nghiên cứu
Hình 1 -Sơ đồ quá trình nghiên cứu
4.2 Quá trình thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau:
- Các số liệu về số năm hoạt động, một số hoạt động tiêu biểu (nếu có),
danh sách dịch vụ và các đánh giá sơ bộ về chất lượng của công viên công sẽ
3
Báo cáo, nghiên cứu
về công viên công
Phỏng vấn
các bênliên quan
Các yếu tố cấu thành
công viên công
Mô hình đánh giá
sự hài lòng của người dân
Điều tra, phỏng vấn
người dân
Giải pháp cho các vấn đề tồn tại
và đề xuất nâng cao
mức độ hài lòng
của người dân
Đánh giá mức độ hài lòng của
5. Kết cấu của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương
chính:
- Chương I: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của người dân đối với 3 công
viên công tại Hà Nội
- Chương 2: Phân tích sự hài lòng của người dân đối với 3 công viên
4
công tại Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của người dân đối
với 3 công viên công tại Hà Nội
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI
DÂN ĐỐI VỚI 3 CÔNG VIÊN CÔNG TẠI HÀ NỘI
1.1.Đặc điểm của dịch vụ công viên công và sự hài lòng của
người dân đối với dịch vụ công viên công tại Hà Nội
1.1.1. Đặc điểm của dịch vụ công viên công
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ
a. Khái niệm dịch vụ
Trong cuộc sống hàng ngày,chúng ta thường nhắc tới dịch vụ như một
cách nói chung của các hoạt động trao đổi ở nhiều lĩnh vực với các cấp độ
khác nhau. Có vô số cách định nghĩa chính xác hơn về dịch vụ, chẳng hạn
như “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của
số đông, có tổ chức và được trả công” (Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà
Nẵng, tr256). Hay theo quan điểm kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những
thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất; bản chất của dịch vụ là sự
cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức
khoẻ và mang lại lợi nhuận. Còn theo Philip Kotler, dịch vụ là một hoạt
động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn
đến việc chuyển quyền sở hữu.Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc
sự sử dụng của người khác.
1.1.1.2 Khái niệm công viên
Theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam,công viên là
những vườn hoa lớnđược xây dựng trong nội thành và vùng ven thành phố để
phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của cư dân đô thị, ngoài ra còn có
tác dụng cải thiện môi trường đô thị.
Công viên có thể được phân thành nhiều loại bằng các tiêu chí khác
nhau, chẳng hạn như mục đích sử dụng, diện tích nhưng vì mục đích của
nghiên cứu,chúng tôi sẽ phân loại công viên theo đơn vị chủ quản,tức là sẽ có
2 loại công viên: công viên công do các doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc Nhà
nước quản lý (VD:Công viên Thống Nhất, Bách Thảo v.v…) và công viên tư
do các doanh nghiệp tư nhân bỏ vốn đầu tư (VD: Công viên Vầng Trăng, Suối
Tiên v.v…).
1.1.1.3.Vai trò của công viên
7
a. Mang lại lợi ích cho sức khỏe cộng đồng
Công viên có diện tích rộng lớn với nhiều cây xanh là địa điểm lí tưởng
cho cư dân đô thị đến thư giãn, tham gia các hoạt động thể dục thể thao để
nâng cao sức khỏe, thể lực, thư giãn tâm lý sau những giờ học tập, lao động
căng thẳng.
Riêng đối với trẻ em – các công dân tương lai của đất nước đang trong
lứa tuổi phát triển, những hoạt động vui chơi giải trí là vô cùng bổ ích và cần
thiết giúp nâng cao,phát triển cả về mặt tinh thần cũng như thể chất. Xã hội
phát triển kinh tế đi lên tuy nhiên sân chơi lành mạnh cho trẻ em thì vẫn còn
tương đối nghèo nàn khiến các em quá phụ thuộc vào các hình thức giải trí
thụ động như tivi, máy tính v.v dễ dẫn đến các bệnh về mắt.Ngoài ra trẻ em
không có điều kiện vui chơi ngoài trời và luyện tập thể dục đều đặn còn có
nguy cơ mắc những bệnh như đái tháo đường, béo phì và hen.Cũng vì quá
thiếu địa điểm vui chơi ngoài trời nên nhiều khi thay vì những sân chơi đúng
nghĩa như bãi cỏ, công viên thì chỗ chơi của các em lại là vỉa hè, lòng đường
- Các công viên công và dịch vụ nó cung cấp do các cơ quan công
quyền hay những chủ thể được chính quyền ủy nhiệm đứng ra quản lý.
1.1.2. Sự hài lòng của người dân đối với dịch
vụ công viên công
Theo Richard L. Oliver, “sự hài lòng là câu trả lời hoàn thiện của khách
hàng. Đó là sự đánh giá về đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ, hoặc bản thân
sản phẩm hay dịch vụ đấy, xem chúng có mang lại một mức độ thích thú khi
tiêu dùng liên quan đến sự hoàn thiện hay không”.
Ngoài ra, “sự hài lòng là cảm nhận của khách hàng bắt nguồn từ việc so
sánh kết quả thu được từ sản phẩm với kinh nghiệm trước đây của họ”, theo
Phillip Kotler.
Từ 2 định nghĩa trên ta thấy sự hài lòng của khách hàng chính là sự khác
biệt giữa những gì họ kỳ vọng và những gì họ nhận được.Có 3 trạng thái về
mức độ hài lòng của khách hàng: Nếu thực tế khách hàng nhận được kém
nhiều so với những gì họ kỳ vọng, khách hàng sẽ không hài lòng; Nếu những
gì khách hàng kỳ vọng là những gì họ nhân được trên thực tế, khách hàng sẽ
hài lòng và cuối cùng, nếu những gì khách hàng nhận được lại vượt xa so với
những gì họ kỳ vọng trước đây, họ sẽ vô cùng hài lòng và thích thú.
9
Ví dụ như với dịch vụ giải trí,một khách hàng khi đi xem phim đã lựa
chọn cụm rạp Megastar thay vì rạp Tháng Tám mặc dù giá vé của Megastar
đắt hơn so với giá vé của rạp Tháng Tám.Với mức giá này, khách hàng khi
đến Megastar kỳ vọng rằng họ sẽ được thưởng thức một bộ phim với chất
lượng hình ảnh và âm thanh tốt, phòng chiếu rộng rãi, tiện nghi. Nhưng trên
thực tế, vì những lý do kỹ thuật, bộ phim họ xem có hình ảnh không được rõ
nét, âm thanh lúc to lúc nhỏ bất hợp lý. Kết quả là khách hàng rất không hài
lòng với dịch vụ của Megastar vì những gì họ nhận được hoàn toàn không
như những gì họ kỳ vọng.Ngược lại, cũng với mong đợi như trên, nếu khách
hàng không những có một khoảng thời gian xem phim tuyệt vời mà còn nhận
được sự quan tâm chăm sóc nhiệt tình, niềm nở của các nhân viên trong rạp,
chỉ có thể thông qua các biểu hiện sau khi sử dụng dịch vụ hay còn gọi là
“Giá trị cảm nhận” để xác định, đánh giá. Mặc dù trên thế giới có rất nhiều
các thước đo chỉ số hài lòng nhưng trong công trình nghiên cứu này, công cụ
được sử dụng để đánh giá là Mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ -
ACSI (American Consumer Satisfaction Idex).
Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn
diện khi sử dụng một dịch vụ.Vì vậy, khi nghiên cứu dựa trên Mô hình ACSI,
ta cần chú ý tới các nhân tố cấu thành nên sản phẩm, dịch vụ cần nghiên cứu,
mỗi nhân tố lại được được cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể khác nhau và liên
kết với nhau bằng các mối quan hệ nguyên nhân – kết quả vô cùng mật thiết.
Theo mô hình này thì giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm
nhận hay chính là cái người sử dụng dịch vụ nhận được và sự mong đợi của
họ khi sử dụng dịch vụ đó. Đồng thời, sự mong đợi của khách hàng có tác
động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận thông quá nhiều yếu tố và chủ yếu là
tâm lý.Trên thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng
cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại. Do vậy,
yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải
đảm bảo và được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ. Sự hài lòng của
khách hàng được tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và
giá trị cảm nhận, nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ
tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng, trường hợp ngược lại, đấy là sự
11
phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.
Hình 2- Mô hình Chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI)
(Nguồn: Sử dụng chỉ số hài lòng của khách hàng trong hoạch định chiến lược kinh doanh
ngân hàng: Cách tiếp cận mô hình lý thuyết – Tác giả Lê Văn Huy, trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng)
Khi nghiên cứu dựa trên mô hình Chỉ số hài lòng, từng nhân tố cần được
đưa ra nghiên cứu, áp đo lường một cách chính xác, đầy đủ để từ đó có thể
tính toán, đưa ra những chỉ số cụ thể về sự hài lòng của khách hàng và hướng
có một hoàn cảnh sống khác nhau, nhận định khác nhau về mức độ quan trọng
và chi phí họ phải trả cho sản phẩm và dịch vụ. Mặc dù rất quan trọng đối với
quyết định của những người tiêu dùng sản phẩm lần đầu nhưng đối với những
người tiêu dùng quen thuộc hoặc lặp đi lặp lại thì nó lại ít có tác động hơn.Giá trị
cảm nhận là một khái niệm rất quan trọng đối với các tổ chức.Một sản phẩm chỉ
được đánh giá là tốt chỉ khi người tiêu dùng cho rằng nó tốt – một giá cả phải
chăng chỉ được quan tâm khi mà người tiêu dùng cảm nhận rằng nó phù hợp với
những lợi ích mà họ nhận được khi tiêu dùng sản phẩm.
- Sự than phiền: được đo bởi phần trăm số người được hỏi thể hiện rằng
họ có than phiền trực tiếp với sản phẩm/ dịch vụ của công ty cung cấp trong
một khoảng thời gian nhất định.Sự hài lòng của khách hàng có mối quan hệ
trái ngược đối với sự than phiền của khách hàng.Nếu khách hàng càng hài
lòng với sản phẩm/ dịch vụ thì khả năng than phiền của họ càng thấp và
ngược lại.
- Sự trung thành: bao gồm khả năng khách hàng sử dụng lại sản phẩm/
dịch vụ một cách tự giác mà không có sự can thiệp của các yếu tố bên ngoài
và khả năng khách hàng tiếp tục mua và sử dụng sản phẩm/dịch vụ khi có sự
thay đổi giá cả.Đây là một yếu tố quyết định đối với mô hình ACSI bởi lẽ nó
được coi như một đại diện cho khả năng thu lợi nhuận.
Thông qua mô hình nghiên cứu chỉ số hài lòng ACSI, ta có thể nhận thấy
được sự hài lòng của khách hàng chịu ảnh hưởng của các yếu tố đó là sự
mong đợi, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận.Thông qua việc so sánh
giữa hai biến số là mong đợi của người dân và chất lượng dịch vụ mà họ cảm
nhận được khi sử dụng công viên sẽ giúp ta rút ra được giá trị cảm nhận của
họ để từ đó biết được mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ
công viên công tại ba công viên lớn ở Hà Nội nói riêng và các công viên công
khác trên địa bàn TP Hà Nộinói chung.
13
1.2. Nội dung đánh giá sự hài lòng của người dân đối với
dịch vụ công viên công tại Hà Nội
- Ghế đá: để người dân có thể thật sự tận hưởng không gian xanh, trong
lành ở công viên, ghế đá là một nhân tố không thể thiếu. Số lượng ghế có
nhiều không? Ghế đá có sạch sẽ không? Ghế đá đã được bố trí hợp lý hay
chưa? luôn là những câu hỏiđáng quan tâm khi nhắc tới hạng mục này.
- Hồ:Một hạng mục không bắt buộc nhưng là một điểm cộng lớn cho
mỗi công viên.Một hồ nước sạch đẹp thì dù diện tích không lớncũng đủ tăng
thêm sự thoải mái,hài lòng cho người dân khi đi dạo trong công viên.
- Quang cảnh: là sự hài hòa trong cách bố trí các hạng mục như cây
xanh, bãi cỏ, ghế đá… trong công viên. Một công viên với quy hoạch, bố trí
hợp lý sẽ tạo được sự thuận tiện hơn cho người dân trong quá trình sử dụng.
1.2.2. Sự hài lòng của người dân đối với các dịch vụ gia tăng
giá trị
Mỗi công viên công được xây dựng lên bao gồm nhiều hạng mục được
kết hợp với nhau một cách hài hòa tạo nên một quần thể hoạt động thống
nhất.Bên cạnh các dịch vụ công cộng được tạo ra để phục vụ mục đích ban
đầu là tạo cảnh quan cho thành phố,cung cấp chỗ vui chơi cho người dân
trong công viên còn các dịch vụ gia tăng giá trị. Đây là loại hình dịch vụ nằm
ngoài mục đích chính thống của công viên công của hay nói một cách chính
xác ở đây là các dịch vụ phải trả tiền khi sử dụng. Các dịch vụ gia tăng giá trị
này được tạo ra nhằm tăng thêm sự phong phú đồng thời hỗ trợ tăng nguồn tài
chính giúp cải tạo, tu bổ và phát triển cho công viên. Các dịch vụ này bao
gồm:
- Nhà vệ sinh: là một trong những yếu tố quyết định tới mức độ sạch sẽ
trong công viên. Nhà vệ sinh trong công viên thường bao gồm một hoặc nhiều
bệ xí và bồn rửa tay để người dân có thể dễ dành sử dụng khi có nhu cầu. Nhà
vệ sịnh công cộng thường được chia thành 2 khu riêng biệt dành cho nam và
nữ nhưng cũng có trường hợp được xây dựng chung một phần. Các nhà vệ
sinh trong công viên công thường được quản lí bởi một nhân viên vệ sinh.
Nhân viên này sẽ có nhiệm vụ vệ sinh kiêm thu phí dịch vụ mỗi khi có người
sử dụng. Mức phí được thu tùy vào từng nơi sẽ giao động trong khoảng từ
hài lòng của khách hàng.
1.2.3. Sự hài lòng của người dân đối với nhân viên công viên
Một công viên tồn tại và hoạt động hiệu quả không chỉ cần có các công
16
trình mà còn cần tới lực lượng quản lí và bảo quản chất lượng công trình.Đó
chính là đội ngũ nhân viên trong công viên, bao gồm:
- Đội ngũ bảo vệ: đây là lực lượng giúp duy trì trật tự và an toàn. Các
nhân viên này phải được cung cấp đồng phục riêng và có nhiệm vụ quan sát,
quản lí chặt chẽ ngăn cho các hành động trái luật pháp và trái thuần phong mĩ
tục xảy ra trong công viên.Đây cũng là lực lượng phản ứng đầu tiên khi có
những tai nạn như cháy nổ xảy đến với công viên. Lực lượng này phần lớn
được duy trì ở công viên 24/24 giờ một ngày không kể cuối tuần và ngày lễ.
- Nhân viên thu phí: bao gồm nhân viên thu phí vào cửa, phí trông xe và
phí các dịch vụ trò chơi trong công viên. Đây là những người trực tiếp tiếp
xúc với người dân,thu phí trực tiếp và hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ.
Nói cách khác họ chính là bộ mặt đại diện cho quản lí của công viên.
- Nhân viên vệ sinh: đây là lực lượng mà công việc của họ quyết định tới
chất lượng cảnh quan và vệ sinh chungcủa công viên. Họ là những người làm
nhiệm vụ thu dọn rác thải, chăm sóc cây cỏ và dọn dẹp chuồng thú trong công
viên. Các nhân viên này chủ yếu làm theo các ca sáng và chiều kể cả các ngày
cuối tuần với nhiệm vụ duy trì vệ sinh và sạch đẹp cho công viên.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân
đối với dịch vụ công viên công
1.3.1. Các yếu tố bên trong
Do mỗi công viên có qui hoạch và cách thức hoạt động khác nhau nên
mặc dù có cùng một mục đích và hạng mục tương đương nhưng các yếu tố
bên trong cấu thành vẫn có sự khác biệt.Ngoài ba yếu tố chính nêu trên là
dịch vụ công cộng, dịch vụ giá trị gia tăng và lực lượng nhân viên thì chính ta
còn phải kể đến các yếu tố như:
- Cơ sở hạ tầng bao gồm:
người sử dụng là một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý.
Bên cạnh đó, để đối phó với hậu quả của quá trình đô thị hóa quá nhanh
khiến môi trường thành phố bị ô nhiễm nghiêm trọng; Hà Nội cũng cần
những công viên có diện tích cây xanh lớn, cung cấp không gian trong lành
cho người dân cũng như đóng vai trò của “những lá phổi xanh” cho thành
phố.
b. Các yếu tố văn hóa – xã hội trong nước.
Các yếu tố văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân có
thể chia thành 3 yếu tố :
- Các yếu tố văn hóa: Sự hài lòng của người dân bị ảnh hưởng bởi nền
văn hóa và tầng lớp xã hội của họ. Mỗi nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội,
18
mức độ học vấn sẽ có sở thích, cách đánh giá khác nhau đối với công viên và
các dịch vụ đi kèm. Chẳng hạn một người từng du lịch hoặc sinh sống ở nước
ngoài 1 thời gian khi sử dụng công viên tại Hà Nội sẽ so sánh chất lượng với
tiêu chuẩn của nước ngoài và đưa ra những đánh giá chủ quan riêng.
- Các yếu tố xã hội: Cảm nhận của con người còn bị chi phối bởi ý kiến,
nhận định, thái đô của bạn bè, người thân trong gia đình, Những người
cùng nghề nghiệp hay xuất thân từ cùng một gia đình thông thường có cách
đánh giá khác giống nhau.
- Các yếu tố nhân khẩu học: như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình
trạng hôn nhân, tính cách, thu nhập v.v cũng có ảnh hưởng đến sự đánh giá
của mỗi người dân.Ví dụ như giữa đàn ông và phụ nữ có sự khác biệt về sở
thích, đàn ông thích không gian rộng rãi,các cơ sở vật chất để tập các môn thể
dục thể thao nhất định…còn phụ nữ thì quan tâm đến độ an toàn khi tập thể
dục tại công viên, không gian để giao lưu hay các dịch vụ giải trí cho con
cái.Hoặc những người lớn tuổi, cán bộ hưu trí không quá cầu kì về các
phương tiện trò chơi giải trí, họ chỉ cần một không gian trong lành để dưỡng
sinh, nâng cao sức khỏe thì ngược lại giới trẻ ưa thích công viên với nhiều
loại hình giải trí thư giãn như trò chơi, không gian dã ngoại.
Công viên Lê Nin. Do đó, vào tháng 10/2003, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà
Nội quyết định chuyển lại tên công viên Thống Nhất như ban đầu.
- Năm 2010, UBND thành phố Hà Nội triển khai dự án cải tạo công viên
Thống Nhất chào mừng kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đặc biệt,
ngày 23/7/2010, bức tượng đồng mang hình ảnh Bác Hồ - Bác Tôn được
chính thức khánh thành trên đảo Hòa Bình, đây là một món quà của người
dân Thành Phố Hồ Chí Minh gửi tặng thủ đô Hà Nội nhân dịp đại lễ. Công
trình thể hiện sự kính trọng, tình cảm kính yêu của nhân dân đối với Bác Hồ -
Bác Tôn và là biểu hiện của tình đoàn kết Nam - Bắc một nhà.
2.1.2. Công viên Bách Thảo
Công viên Bách Thảo, hay vườn Bách Thảo nằm phía sau Lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Phủ Chủ tịch. Hiện tại, Vườn bách thảo bị thu hẹp so với
trước đây sau khi nhường một phần khá lớn diện tích đất để xây dựng Khu di
tích lịch sử Ba Đình, diện tích còn lại khoảng trên 10ha (ban đầu rộng khoảng
20ha) nằm trong địa phận phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Vườn Bách Thảo trước đây nguyên là đất của phường Khán Xuân và
một phần của làng Ngọc Hà, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận song đến
năm 1890, Pháp đã dời dân ở đây đi nơi khác để lập Phủ Toàn quyền (nay là
phủ Chủ Tịch) và mở rộng Công viên, đặt tên là Vườn thảo mộc, đồng thời
trong vườn cũng có nuôi một số lượng nhỏ thú vật, nên còn gọi là vườn Bách
Thú.Nhưng dân chúng thì vẫn quen gọi là Trại hàng hoa.Sau năm 1954, công
viên này chính thức được gọi là Vườn Bách Thảo.Sau chiến tranh thế giới lần
II, vì không được quan tâm chăm sóc nên chim muông trong vườn chết
dần.Thực dân Pháp chuyển số thú còn lại vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn, nơi
đây chỉ còn lại vườn cây.Sau ngày giải phóng thủ đô, chính quyền mới đã tu
bổ và đổi tên nơi đây thành Công viên Bách Thảo.
Hiện tại, Vườn Bách Thảo có hơn 100 loài thực vật thân gỗ quý hiếm
như gụ mật, triều lưu chanh, lộc vừng, muồng xanh, sồi, sưa…Công viên có
trên 2,000 thể cây gỗ hơn 100 năm tuổi với đường kính thân trên 100cm,
trong đó có một số loài cây đang bên bờ vực tuyệt chủng. Đặc biệt, ở Vườn
26 – 40 36 12.00%
41 – 55 23 7.70%
> 56 79 26.30%
Tình trạng công việc
Học sinh sinh viên 131 43.70%
Đang đi làm 76 25.30%
Cán bộ hưu trí 86 28.70%
Khác 7 2.30%
Khoảng cách từ nhà
-> CV
< 1km 120 40.00%
2 – 3km 64 21.30%
> 4km 116 38.70%
Thôn
g tin
chung
Độ thường xuyên Hàng ngày 115 38.30%
2 lần / tuần 40 13.30%
1 lần / tuần 21 7.00%
1 lần / tháng 29 9.70%
22
< 1 lần / tháng 95 31.70%
Mục đích
Thể dục 144 48.00%
Thư giãn 107 35.70%
Tham quan 38 12.70%
Đưa trẻ đi chơi 11 3.70%
Thời gian
Sáng 99 33.00%
Chiều 198 66.00%
và 9.7%.
23