“Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành hành chính – thực tiễn tại thành phố huế (giai đoạn 2014 2015) - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài niên luận này, em xin chân thành cảm ơn Thầy, Cô
trong Đại học Luật – Đại học Huế trong suốt thời gian qua đã truyền đạt cho
em những kiến thức bổ ích, giúp em có được nền tảng kiến thức để thực hiện
bài niên luận này.
Đặc biệt, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến TS Đặng Công Cường đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và đưa ra những lời nhận xét, đánh giá cần thiết
để em có thể thực hiện và hoàn thành đề tài niên luận này.
Mặc dù đã cố gắng trong việc tìm kiếm, nghiên cứu và tham khảo các
tài liệu nhưng do hạn chế về thời gian và điều kiện thực tiễn cũng như học
thức chưa được sâu sắc nên bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót. Do đó, em rất
chân thành tiếp thu các ý kiến đánh giá của thầy cô và bạn bè để bài niên luận
của mình được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC


A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các biện pháp xử lý hành chính có tầm quan trọng đặc biệt trong việc
đấu tranh phòng, chống các hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, văn hóa,
pháp luật. Đồng thời, góp phần to lớn trong việc giáo dục người có hành vi vi
phạm trở thành những công dân tốt cho xã hội. Vấn đề vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực hành chính là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là Việt Nam. Công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp
luật là trách nhiệm của Đảng, các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân. Việc
đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính đối với các đối tượng vi phạm có ý nghĩa quan trọng trong xã hội
nước ta, chúng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà

dụng các biện pháp xử lý hành chính thường kéo dài, tốn kém cả thời gian và
công sức nhưng hiệu quả không cao nên cần có những giải pháp phù hợp
nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm. Việc áp dụng những biện pháp xử lý
hành chính như thế nào không chỉ thể hiện phương pháp quyền uy - phục tùng
của luật hành chính mà còn góp phần trong giáo dục ý thức pháp luật, ngăn
ngừa những hành vi vi phạm pháp luật nói chung và luật hành chính nói riêng.
Với một sinh viên đang được học tập tại thành phố Huế, nên tôi chọn đề tài
“Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành hành chính – thực tiễn tại thành
phố Huế (giai đoạn 2014 - 2015)” làm đề tài niên luận của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích
Đề tài “Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành hành chính – thực
tiễn tại thành phố Huế (giai đoạn 2014 - 2015)” có mục đích nghiên cứu
những quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính;
đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý
vi phạm hành chính tại thành phố Huế, trên cơ sở đó tìm ra những bất cập,
vướng mắc ngay trong các quy định và thực tiễn áp dụng, đưa ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại
thành phố Huế.
2.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, niên luận có những nhiệm vụ sau:
4


- Nghiên cứu những quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý
hành chính.
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại thành phố Huế; đề ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại thành phố Huế.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Chương 1: Những quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý hành
chính.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại thành phố Huế.

6


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH
1.1. Đối tượng áp dụng
- Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đối tượng áp dụng của biện pháp này được quy định tại điều 90 của
Luật xử lý vi phạm hành chính gồm các đối tượng như sau:
+ Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu
của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu
của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có
hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của
cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc
người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng
nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Những người quy định tại các điều trên mà không có nơi cư trú ổn
định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản

ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có
nơi cư trú ổn định.
+ Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với
các trường hợp sau đây:





Người không có năng lực trách nhiệm hành chính.
Người chưa đủ 18 tuổi.
Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.
Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện.
8




Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
- Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được
quy định tại điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính gồm một số đối tượng
như sau:
+ Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là
người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này
nhưng không có nơi cư trú ổn định.

sự, luật sư, người bào chữa được tham dự để bảo vệ quyền lợi của đương sự,
bảo đảm dân chủ, khách quan; phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.
1.3. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính
* Về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định tại
điều 98 của Luật xử lý vi phạm hành chính:
Theo đó, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị
áp dụng biện pháp này, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho công chức
tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ và tổ chức cuộc họp tư vấn. Trong cuộc
họp, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm chủ trì với sự tham gia của
Trưởng Công an cấp xã, công chức tư pháp – hộ tịch, đại diện của Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan,
đại diện dân cư ở cơ sở. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn và cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải được
mời tham gia cuộc họp và phát biểu ý kiến của mình về việc áp dụng biện
pháp. Việc tổ chức, nội dung, kết quả cuộc họp tư vấn về việc áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên là
không được công khai.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc họp tư vấn, chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn. Tùy từng đối tượng mà chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã quyết định giao người được giáo dục cho cơ quan, tổ chức hay cho gia
đình quản lý, giáo dục. Trong trường hợp đối tượng được giáo dục không có
nơi cư trú ổn định thì người đó được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ
giúp trẻ em để quản lý, giáo dục.
Chương II, Nghị định 111/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện
pháp xử lý hành chính tại xã, phường, thị trấn quy định: Trong thời hạn 03
10


11


Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm:
- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
- Văn bản của Trưởng công an cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
* Về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính là biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc được quy định tại
điều 102 của Luật xư lý vi phạm hành chính:
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ quy định tại Điều
101 và Điều 118 của Luật xử lý vi phạm hành chính, Trưởng Công an cấp
huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; trường hợp hồ sơ chưa đầy
đủ thì chuyển lại cơ quan đã lập hồ sơ tiếp tục thu thập tài liệu bổ sung hồ
sơ.
Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc bao gồm:
- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
quy định tại Điều 101 và Điều 118 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Văn bản của Trưởng Công an cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
* Về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý
hành chính là biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc được quy định tại
điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính:
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng
Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ
đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì giao cơ quan đã lập hồ sơ

phường, thị trấn thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận
cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó.
- Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành
13


xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đã
ra quyết định, cơ quan quản lý trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ
sở cai nghiện bắt buộc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
- Đối tượng không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên
hoặc người ốm yếu không còn khả năng lao động thì sau khi hết hạn chấp
hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai
nghiện bắt buộc được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương nơi trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở.
1.5. Các quy định khác liên quan đến việc áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính
- Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự (Điều 115 Luật xử lý vi phạm hành chính):
Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền,
Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc
cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện
pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành biện pháp đó để tham gia tố tụng
trong các vụ án có liên quan đến người đó.
Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành
chính được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.

phường, thị trấn hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo
dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải ra quyết định tạm đình
chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì người
đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù
thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử
lý hành chính.
- Xử lý trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều
118 Luật xử lý vi phạm hành chính)
15


+ Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối
tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
+ Trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục bắt buộc
thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.
+ Trong giai đoạn cắt cơn, phục hồi, đối tượng đang chấp hành quyết
định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu có hành vi vi phạm các quy định tại
Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc.
Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng có hành vi quy định tại Điều 94
Luật xử lý vi phạm hành chính trên cơ sở hồ sơ hiện có và biên bản về hành vi
vi phạm mới gửi Trưởng Công an cấp huyện nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm lấy ý kiến của Trưởng phòng Tư
pháp về tính pháp lý của hồ sơ trước khi xem xét, gửi hồ sơ đề nghị Tòa án

phố Huế diễn biến khá phức tạp, đối tượng chủ yếu là người chưa thành niên.
Các cơ quan chức năng cần có kế hoạch nhằm giúp đỡ các em, phòng ngừa và
đấu tranh các loại tội phạm xảy ra trên địa bàn thành phố.
2.1.2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại thành
phố Huế giai đoạn năm 2014 đến năm 2015

Bảng áp dụng biện pháp xử lý hành chính trên địa bàn thành phố
Huế từ năm 2014 đến năm 20151

m
Biện pháp áp dụng

Tổng 2 năm

2014

2015

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn

02

03

05

Đưa vào trường giáo dưỡng

01


là biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc.
Năm 2014, trên địa bàn thành phố Huế đã có 2 đối tượng bị áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; cả 2 đối tượng đều được giáo dục
có tiến bộ. Còn năm 2015 thì số đối tượng bị vi phạm pháp luật bị đưa vào áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 3 đối tượng - tăng so với
năm 2014. Trong đó, 2 đối tượng được giáo dục có tiến bộ, còn 1 đối tượng
giáo dục không có tiến bộ. Việc quản lý, giáo dục đối tượng được giao cho
Công an.
Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng qua 2 năm
2014 và 2015 trên địa bàn thành phố Huế là 2 đối tượng. Trường hợp ở năm
2014 đã được giải quyết, còn năm 2015 thì chưa được giải quyết vì mới thụ lý
hồ sơ. Cả 2 đối tượng này đều không có nghề nghiệp, có độ tuổi từ 16 đến 18
tuổi. Đặc điểm nổi bật của đối tượng là nhận thức hạn chế, sống buông thả, tự
do, vô kỷ luật, lười lao động, lười học tập.
Không có đối tượng nào bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhìn chung thời gian qua, việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tòa án nhân dân là nhiệm vụ mà Tòa án mới được giao, nhưng
thực tế cho thấy các đối tượng cần được áp dụng biện pháp xử lý hành chính
tại Tòa án nhân dân có số lượng tương đối lớn. Tuy nhiên, số hồ sơ mà các
Tòa án nhân dân đã thụ lý để xem xét, giải quyết còn ít, chưa phản ánh đúng
yêu cầu thực tế của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án
18


nhân dân. Thực tế này có nhiều nguyên nhân, về nguyên nhân khách quan còn
có những lúng túng, vướng mắc nhất định trong việc lập hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính; và đây là công việc mới nên có Tòa án còn
chậm trễ trong việc thụ lý hồ sơ đề nghị. Và đây cũng chỉ là các vụ vi phạm bị

tuổi trở lên, trong 6 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã
hội mới bị áp dụng biện pháp xử phạt này. Vậy đối tượng vi phạm lần thứ hai
đã bị xử phạt hay phải tới lần thứ ba mới có đủ điều kiện để áp dụng biện
pháp xử lý hành chính? Trong trường hợp phạm hai tội khác nhau, lần đầu là
trộm cắp nhưng lần sau là gây rối trật tự công cộng thì có được xem là căn cứ
xác định đối tượng đó đã bị xử phạt tới hai lần hay không?
Hơn nữa, Nghị định cũng không nêu cụ thể số lần bị xử phạt như trên là
chỉ trong phạm vi địa phương đối tượng đang cư trú hay bao gồm cả vi phạm
tại nơi khác. Thực tế cho thấy, nhiều đối tượng bị phát hiện xử phạt vi phạm
hành chính lần đầu ở địa bàn này nhưng đã vi phạm và bị xử phạt trước đó ở
địa bàn khác. Biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn nên
được áp dụng cho tất cả các đối tượng vi phạm đã bị xử phạt hành chính mà
không giới hạn phạm vi chỉ ở nơi cư trú. Song, để thực hiện có hiệu quả, cần
có điều khoản bắt buộc cơ quan, cá nhân đã xử phạt vi phạm hành chính phải
có trách nhiệm gửi hồ sơ xử phạt về địa phương nơi người vi phạm cư trú để
tiện theo dõi, quản lý. Nếu không có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các địa
phương sẽ gây ra nhiều khó khăn cho địa phương trong xác minh và xử lý.
+ Thời hiệu, thủ tục quy định ở Nghị định 111/2013/NĐ-CP còn bất
cập. Có đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính và đã được giáo dục tại xã
nhưng thời hiệu quy định cho việc giáo dục tại xã chỉ 6 tháng là quá ít. Sau
khi hết hiệu lực giáo dục, đối tượng tiếp tục vi phạm hành chính thì không thể
đưa đi cơ sở giáo dục được vì đã hết thời gian quy định, gây khó cho quản lý.
Việc xác định thời hiệu như trên không thống nhất với quy định tại Luật
Xử lý vi phạm hành chính và dễ dẫn tới trường hợp thời gian xử lý vi phạm
hành chính lần hai vẫn còn nhưng thời hiệu áp dụng các biện pháp giáo dục
tại xã, phường đã hết. Có trường hợp, đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp,
lừa đảo từ tháng 1 nhưng để điều tra, phát hiện hành vi vi phạm, lực lượng
20

tạp.
2 Vướng mắc khi thực hiện Nghị định 111/2013 - Đỗ Quyên.

21


- Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc triển khai công
tác thi hành pháp luật về áp dụng các biện pháp xử lý vi hành chính đôi lúc
chưa chặt chẽ.
- Trong hoạt động quản lý, giáo dục đối tượng đã có sự phân công cá
nhân, tổ chức, đoàn thể trực tiếp quản lý giáo dục đối tượng còn mang tính hình
thức, hiệu quả chưa cao.
* Về năng lực cán bộ, ý thức của người dân
Thực tế, một bộ phận cán bộ có năng lực còn hạn chế, vẫn còn chế độ
kiêm nhiệm dẫn tới việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chưa đạt hiệu
quả cao. Bên cạnh đó, sự hiểu biết pháp luật của đại đa số nhân dân trên địa
bàn thành phố còn thấp. Sự tiếp nhận thông tin pháp luật mới cập nhật còn hạn
chế; một số bộ phận có thái độ chống đối.3
Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất của Trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục còn nhiều khó khăn, đầu tư kinh phí cho ăn, ở, sinh hoạt, giáo dục, học tập,
dạy nghề, y tế… nhìn chung còn thấp so với mức sống chung của xã hội. Đây
là vấn đề cần được xem xét, giải quyết để có cơ chế pháp luật và những điều
kiện bảo đảm phù hợp với mục tiêu, nội dung, yêu cầu của các biện pháp hành
chính.4
2.3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính
- Thứ nhất, sửa đổi, ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cần được
tăng cường; cần quy định thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn sao cho phù hợp với đối tượng bị áp dụng để đạt hiệu quả cao nhất.

bản thân người sử dụng, cho gia đình và xã hội; xử lý sớm hành vi sử dụng
ma túy trái phép với các biện pháp thích hợp giúp họ từ bỏ hành vi sử dụng
trước khi họ bị lệ thuộc vào chất ma túy (nghiện ma túy) mang lại hiệu quả
cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện.
Đẩy mạnh việc chuyển đổi các cơ sở cai nghiện bắt buộc sang cơ sở cai
nghiện tự nguyện đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và có chính sách hỗ
trợ để thu hút người nghiện vào cai nghiện tự nguyện.
Đẩy mạnh công tác cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng
làm cơ sở cho việc lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
23


Thứ hai, tăng cường hơn nữa công tác phối hợp giữa các cơ quan có
trách nhiệm tổ chức, thực thi các quy định pháp luật về biện pháp xử lý hành
chính trong việc lập hồ sơ đề nghị, chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính sang Tòa án nhân dân và tố chức thi hành các quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính sau khi quyết định của Tòa án có
hiệu lực.
- Thứ ba, thường xuyên tổ chức phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp
vụ cho cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị, địa phương mình về
Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng
07 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản có liên quan, đặc biệt là
các văn bản quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhằm nâng
cao hơn nữa kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm thực hiện chất lượng,
hiệu quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; áp dụng
các quy định mới được ban hành đầy đủ, kịp thời, chính xác.
- Thứ tư, nâng cao tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân trên
địa bàn thành phố để người dân hiểu rõ các quy định của pháp luật tránh tình
trạng vi phạm pháp luật, khuyến khích người dân tích cực phát hiện tố giác tội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status