ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠI
ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI TỪ NĂM 2011 – 2014
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ NHI
Huế, 03/2016
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
KHÓA 37
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TẠI
ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI TỪ NĂM 2011 – 2014
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TH.S TRẦN VĂN HẢI
SINH VIÊN THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ NHI
MSSV: 13A5011257
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SL: Sắc lệnh
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao cho
xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc. Đấu tranh phòng chống
tội phạm, ổn định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân là nhiệm vụ quan trọng và cơ bản nhất của mọi nhà nước trong bất cứ xã
hội nào. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất mà Nhà nước thực hiện
nhiệm vụ đó là hình phạt. C.Mác đã từng viết: “Hình phạt chẳng qua là thủ
đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi vi phạm những điều kiện tồn tại xã
hội đó”. Tội phạm xảy ra trong xã hội rất khác nhau về tính chất và mức độ
nguy hiểm xã hội của hành vi, do đó đòi hỏi nhà làm luật phải quy định nhiều
loại hình phạt khác nhau phù hợp với từng hoàn cảnh phạm tội. Trong đó,
hình phạt tử hình được xem là hình phạt nghiêm khắc nhất.
Hình phạt tử hình được quy định khá sớm trong pháp luật Việt Nam,
theo thời gian cùng với sự phát triển của xã hội, các nhà làm luật đã dần hoàn
thiện chế tài phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp
luật vào thực tiễn lại là vấn đề khó khăn và còn nhiều bất cập, chính vì vậy
hiệu quả áp dụng chưa thật tương xứng với vị trí và vai trò của hình phạt tử
phát triển mạnh ở một số lĩnh vực nông nghiệp, nhưng mặt trái của sự phát
triển đó làm gia tăng tình hình tội phạm ở nhiều địa bàn làm ảnh hưởng không
nhỏ tới đời sống xã hội tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “ Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình
sự Việt Nam - Lý luận và thực tiễn tại địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2011 2014 “ là cần thiết, không những về mặt lý luận, mà còn để làm rõ vấn đề
thực tiễn áp dụng và giúp việc nghiên cứu tập trung.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện hình thành, cơ sở khoa học, cơ sở
thực tiễn, xu hướng của việc áp dụng hình phạt tử hình.
- Tìm hiểu quy định pháp luật về hình phạt tử hình của nhà nước ta trong
từng giai đoạn cụ thể.
7
- Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
cũng như khắc phục hạn chế của thực tiễn áp dụng.
•
Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận
- Phân tích khái niệm, bản chất, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của hình
phạt tử hình.
- Phân tích làm rõ lịch sử lập pháp về hình phạt tử hình trong pháp luật
hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam.
•
sau:
Phương pháp luận là quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
8
•
•
Phương pháp thống kê, tổng hợp
Phương pháp so sánh, chứng minh
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp khác.
5. Kết cấu của niên luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng viết tắt,
niên luận gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về
hình phạt tử hình.
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng
hình phạt tử hình tại địa bàn tỉnh Gia Lai.
9
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
1.1. Lý luận chung về hình phạt tử hình theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt tử hình
1.1.1.1. Khái niệm về hình phạt tử hình
giáo dục và vì việc cần thiết của việc phòng ngừa chung. Điều khác cơ bản
giữa hình phạt tử hình với các loại hình phạt cụ thể khác là người bị áp dụng
bị tước đoạt mọi quyền cơ bản nhất, kể cả quyền sống trong khi những hình
phạt cụ thể khác người phạm tội chỉ bị tước đoạt một số quyền trong một
khoảng thời gian nhất định. Do đó, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng khi
thật cần thiết và là sự lựa chọn cuối cùng khi Tòa án xét thấy không thể áp
dụng hình phạt khác được quy định trong chế tài vì tính chất của tội phạm.
Tóm lại, tử hình là hình phạt đặc biệt, có nội dung cưỡng chế nghiêm
khắc nhất trong hệ thống hình phạt vì đã tước bỏ quyền sống của người bị kết
án, tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
1.1.1.2. Đặc điểm của hình phạt tử hình
Là một loại hình phạt trong hệ thống các hình phạt nên hình phạt tử hình
cũng như những loại hình phạt khác có những đặc điểm chung như: là biện
pháp cưỡng chế của nhà nước; được quy định trong pháp luật hình sự; được
tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, công bằng đối với người bị
kết án.Tuy nhiên, cũng có một số đặc điểm riêng:
Thứ nhất, tử hình là một hình phạt đặc biệt, hình phạt nghiêm khắc nhất
trong hệ thống hình phạt.
Người bị kết án tử hình sẽ bị tước đi quyền thiêng liêng nhất, đó chính là
quyền được sống. Xét một cách chính xác hay đơn giản thì cũng không có
một hình phạt nào khác nghiêm khắc hơn hình phạt tử hình, sự tàn khốc và
triệt tiêu mọi thứ quyền của con người làm cho hình phạt tử hình là loại hình
phạt rất ít khi được áp dụng. Nó chỉ được sử dụng trong trường hợp thật cần
thiết, và luôn luôn là sự lựa chọn cuối cùng khi xét thấy người bị kết án không
còn có khả năng cải tạo nữa.
11
Thứ hai, tử hình là hình phạt tước bỏ hoàn toàn khả năng tái phạm đồng
Thứ năm, đây là hình phạt duy nhất mà người bị kết án có quyền gửi đơn
ân giảm lên Chủ tịch nước trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực.
Nếu được Chủ tịch nước chấp thuận thì án tử hình chuyển thành tù chung thân.
1.1.1.3. Mục đích của hình phạt tử hình
Việc áp dụng hình phạt tử hình mang tính phòng ngừa chung, có tính răn
đe cao đối với toàn xã hội nhưng lại không mang tính cải tạo, giáo dục người
bị kết án tử hình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa trái với nguyên tắc nhân
đạo của pháp luật hình sự mà ở đây cần thấy rằng tính nhân đạo được tập
trung thể hiện một cách triệt để khía cạnh xã hội, tức là phòng ngừa và răn đe
tội phạm.
Tử hình cũng có mục đích phòng ngừa riêng là nhằm loại bỏ khả năng
tái phạm một cách triệt để từ phía người bị kết án.
1.1.1.4. Ý nghĩa của hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với xã hội, nó góp
phần đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng
chống tội phạm. Thực tiễn áp dụng hình phạt trong những năm gần đây cho
thấy việc áp dụng hình phạt này không chỉ trừng trị thích đáng tội ác của người
bị kết án mà nó còn răn đe mạnh mẽ và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
1.1.2. Khái quát lịch sử lập pháp về hình phạt tử hình trong pháp luật
hình sự Việt Nam
1.1.2.1. Quy định của pháp luật về hình phạt tử hình ở thời đại phong
kiến
Như chúng ta đã biết, xã hội loài người trải qua năm hình thái kinh tế:
công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, xã hội chủ nghĩa.
Trong đó, hình thái kinh tế phong kiến là hình thái kéo dài và có ảnh hưởng
rất lớn đối với nhận thức cũng như pháp luật về sau. Pháp luật phong kiến
Việt Nam ra đời, ngay lập tức thể hiện quyền năng và sự thống trị cay nghiệt
của mình. Nó như một cánh tay đắc lực giúp vua chúa phong kiến trong việc
mê, tàn ác, hung đạo.
6. Đại bất kính: lấy trộm các đồ cúng trong lăng tẩm, các vật dụng của
vua, làm giả ấn vua.
7. Bất hiếu: cáo giác hoặc chửi rủa ông bà, cha mẹ hay ông bà, cha mẹ
chồng. Không phụng dưỡng cha mẹ, tự ý bỏ nhà, tự ý phân chia tài sản, cưới
xin khi có tang cha mẹ, vui chơi trong khi tang lễ, được tin cha mẹ, ông bà
chết mà không chịu tang hoặc phát tang giả dối.
8. Bất mục: mưu giết hay bán các thân thuộc (cho đến ngũ đại), đánh
hoặc cáo giác chồng hay các tôn thuộc (cho đến tam đại).
9. Bất nghĩa: dân giết quan sở tại, lính tốt giết quan chỉ huy, học trò giết
thầy dạy, vợ không để tang chồng, ăn chơi và tái giá.
10. Nổi loạn: tức là tội loạn luân (thông dâm với thân thuộc hay với các
thiếp của cha, ông).
Bộ luật Gia Long là bộ luật chính thức của Việt Nam thời kỳ đầu nhà
Nguyễn được ban hành năm 1815 gồm 22 quyển và 398 Điều. Bộ luật cũng
14
một lần nữa khẳng định hình phạt nghiêm khắc nhất đó là tử (hình phạt chết)
•
•
•
tại Điều 1 Bộ luật Gia Long có ba bậc:
Bậc thứ nhất: giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu)
Bậc thứ hai: khiêu (chém bêu đầu)
Bậc thứ ba: lăng trì (tùng xẻo). Hình phạt này cũng được áp dụng đối với tội thập
ác nhưng phạm vi tương đối hẹp hơn so với Bộ luật Hồng Đức, cụ thể:
1. Mưu phản: làm nguy xã tắc
2. Mưu đại nghịch: làm nguy tông miếu, cung khuyết
sát; SL số 223 SL ngày 17/11/1946 về trừng trị việc hối lộ; SL số 61 SL ngày
5/7/1947 cấm xuất khẩu cảng tư bản...
Ngoài ra, giai đoạn này nhà nước ta cũng ban hành nhiều văn bản pháp
luật quy định về hình phạt đối với các loại tội phá hoại tiền tệ, phá hoại giá trị
bạc Việt Nam như: SL số 150 SL ngày 20/12/1995 hay SL số 01 SL ngày
19/04/1957 cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế. Đặc biệt, giai đoạn này Ủy ban
thường vụ nước ta còn ban hành 4 pháp lệnh quan trọng: Pháp lệnh ngày
30/07/1967 trừng trị tội phản cách mạng; Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị
các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN; Pháp lệnh ngày 21/01/1970 trừng trị
các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân; Pháp lệnh ngày
06/09/1972 quy định về việc bảo vệ rừng
Đồng thời nhà nước cũng cho phép áp dụng một số quy định của pháp
luật phong kiến như một số hình phạt trong BLHS Bắc kỳ, BLHS Trung kỳ,
BLHS Nam kỳ. Theo SL số 47 SL ngày 10/10/1945 “giữ tạm thì các luật lệ ở
bắc, nam, trung bộ cho đến khi ban hành những bộ luật duy nhất cho toàn
quốc”. Điều 12 SL cũng quy định chỉ cho phép giữ lại “những điều kkoản mà
nội dung không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể
dân chủ cộng hòa”. Tuy nhiên, ngày 07/07/1959 Tòa án nhân dân tối cao đã
có chỉ thị số T2-TANDTC về đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và
phong kiến.
Mặc dù đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự.
Nhưng, trong giai đoạn này vẫn chưa có văn bản nào quy định về hệ thống
hình phạt. Căn cứ vào Hiến pháp, đạo luật, lệnh, pháp lệnh, nghị định... có thể
dẫn chiếu một số loại hình phạt trong giai đoạn này như sau;
- Hình phạt chính: tử hình, tù có thời hạn (6 ngày đến 20 năm), cảnh cáo.
- Hình phạt phụ: tước một số quyền lợi công dân, tịch thu tài sản, cư trú bắt
buộc và cấm cư trú từ 1-5 năm, cấm thực hành một số nghề nghiệp nhất định và
cấm đảm nhiệm chức vụ liên quan trực tiếp đến tài sản XHCN.
- Hình phạt tổng hợp (vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt phụ): phạt
tiền, quản chế từ 1-5 năm
vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134a); Tội lạm dụng
chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản riêng của công dân (Điều 185e); Tội
cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m).
Đồng thời, nhà làm luật cũng tách Điều 96a thành 4 điều luật mới (các
Điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội
17
này. Điều 112 quy định tội hiếp dâm cũng được tách ra làm 2 tội: tội hiếp
dâm và tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a) và cũng giữ nguyên hình phạt tử hình
đối với các tội này.
Như vậy, BLHS năm 1985, sau 4 lần sửa đổi bổ sung đã quy định hình
phạt tử hình trong 44 Điều luật về tội phạm, chiếm 20,37% trên tổng số 216
Điều luật về tội phạm.
1.1.3. Luật pháp quốc tế về hình phạt tử hình
Về phương diện pháp lý, hình phạt tử hình là hình phạt tước đi mạng
sống của con người theo bản án được tuyên bởi một tòa án được lập ra một
cách hợp pháp để trừng trị thích đáng cho hình vi phạm tội mà người bị kết án
đã phạm phải. Xuất hiện từ thời xa xưa của lịch sử loài người, có thể khẳng
định đây là hình phạt nghiêm khắc nhất tước đi mọi thứ quyền của con người
và đó cũng là phương tiện hữu hiệu nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm.
Pháp luật quốc tế nhìn chung không cấm hình phạt tử hình. Tại khoản 2
Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) quy định
rằng: “ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ thì chỉ được áp
dụng hình phạt này đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào pháp
luật hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và không được trái với
những quy định của công ước này và công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội
diệt chủng. Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu
lực pháp luật do một tòa án có thẩm quyền phán quyết”. Liên quan đến vấn đề
này vào năm 1989 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị định thư
tổ chức này, việc xóa bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự là một trong
những tiêu chí quan trọng để xét tiêu chí gia nhập. Vì vậy sau năm 1990, một
loạt các nước Đông Âu trước đây khi gia nhập liên minh Châu Âu đã xóa bỏ
hình phạt tử hình. Điều 1 Hiến chương về những điều cơ bản của liên minh
Châu Âu năm 200 tuyên bố: “nhân phẩm con người là bất khả xâm phạm. Nó
phải được tôn trọng và bảo vệ”; Điều 2 Hiến chương này cũng quy định “tất
cả mọi người có quyền được sống, không ai có thể bị kết án tử hình hoặc thi
hành án tử hình”.
Như vậy, mặc dù pháp luật quốc tế không cấm áp dụng hình phạt tử hình
nhưng tích cực khuyến khích các quốc gia giảm, hoãn và dần tiến tới xóa bỏ
hình phạt tử hình.
1.2. Các quy định về hình phạt tử hình theo BLHS năm 1999, sửa
đổi năm 2009
19
1.2.1. Hình phạt tử hình trong phần chung của BLHS 1999, sửa đổi
năm 2009
Theo Điều 35 và Điều 52 của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 (sau đây gọi là BLHS sửa đổi), quy định về hình phạt tử hình có những
nội dung như sau:
Thứ nhất, tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người chưa thành
niên phạm tội, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con (bao gồm cả con
nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.
Thứ ba, trong khi BLHS năm 1985 quy định đối với phụ nữ có thai, phụ
nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chỉ được hoãn thi hành hình phạt tử hình
thì BLHS sửa đổi quy định không được thi hành hình phạt tử hình và hình
phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.
Tại chương XVIII quy định về các tội phạm buôn bán ma túy có hai
trong số mười tội, đó là: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Khoản 4 Điều
193); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy (Khoản 1 Điều 194)
Tại chương XIX quy định về các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng có tới năm mươi năm tội nhưng chỉ có hai tội có khung hình
phạt cao nhất là tử hình đó là tội khủng bố (Khoản 1 Điều 230a) và tội phá
hủy công trình, phương tiện quan trọng an ninh quốc gia (Khoản Điều 231);
Tại chương XXI quy định về tội phạm công chức có hai trên 14 tội: tội
tham ô tài sản (Khoản 4 Điều 278) và tội nhận hối lộ (Khoản 4 Điều 279).
Tại chương XXIII về các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm quân nhân
gồm có: tội chống mệnh lệnh (Điều 316) và tội đầu hàng địch (Khoản 33 Điều
322);
Cuối cùng là ba trong số bốn tội thuộc chương XXIV quy định về các tội
chống phá hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh: tội phá hoại hòa
bình gây chiến tranh xâm lược (Điều 341), tội chống loài người (Điều 342) và
tội phạm chiến tranh (Điều 343).
Như vậy, hình phạt tử hình trong BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 chỉ còn quy định tại 22 Điều luật về tội phạm, chiếm tỉ lệ 8,2% tổng số
các điều luật về hình phạt.
Mới đây, BLHS năm 2015 (sửa đổi) đã được nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm
2015. Có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Thực hiện chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta về giảm hình phạt tử hình nhằm bảo vệ
21
quyền con người theo tinh thần Hiến pháp và Nghị quyết số 49-NQ/TW của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp và để đáp ứng yêu cầu đấu tranh
phòng, chống một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm, Quốc
Khoa học luật hình sự nói chung và khoa học luật hình sự Việt Nam nói
riêng khi nói về người chưa thành niên phạm tội không chỉ xét tới hành vi
phạm tội mà nhười chưa thành niên phạm tội, mà còn xét tới các yếu tố tác
động khác. Đó là môi trường sống, nguyên nhân cũng như điều kiện phát sinh
tội phạm. Vì nói về mặt sinh lý thì người chưa thành niên là người chưa phát
triển toàn diện về nhận thức lẫn thể chất, do đó, mọi hành vi của người chưa
thành niên cần phải xem xét trên nhiều phương diện khác nhau. Quan điểm đó
chi phối chính sách hình sự “việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ
yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội” (Điều 69). Cụ thể về mức hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội bao giờ cũng thấp hơn người người thành
niên đối với cùng một tội phạm. Đặc biệt, đối với các loại hình phạt quá
nghiêm khắc, ít tạo cơ hội hoặc không có cơ hội để người bị kết án sửa chữa
sai lầm, phấn đấu trở thành người tốt sẽ không được áp dụng đối với người
chưa thành niên phạm tội. Hiện nay có không ít vụ án nghiêm trọng mà người
thực hiện hành vi đó là người chưa thành niên. Điển hình là vụ án của Lê Văn
Luyện đã làm dậy sóng dư luận khi cướp tiệm vàng và ra tay tàn ác giết chết 3
nạn nhân trong cùng một gia đình nhưng mức hình phạt chỉ có 18 năm tù.
Hẳn nhiêu người không hiểu rõ về pháp luật hình sự cũng như những quy
định đối với người chưa thành niên phạm tội sẽ nghĩ đây chưa phải là hình
phạt thích đáng nhất cho tội ác mà người phạm tội gây ra. Nhưng theo ý kiến
của ông Vũ Quốc Việt, nguyên vụ trưởng vụ pháp luật hình sự - hành chính,
Bộ tư pháp cho rằng: không thể sửa luật để tử hình vì như vậy là trái với
nguyên tắc pháp chế XHCN. Đây là nguyên tắc bao trùm tính chất chỉ đạo
tính chất hình sự của Đảng và Nhà nước lấy giáo dục làm nền tảng, trọng tâm
trong quá trình xử lý vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên.
Thứ hai, không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc
phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Việc kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình đối với loại
đối tượng này được thực hiện trước khi quyết định thi hành hình phạt tử hình
hình sự nước ta áp dụng triệt để hơn nguyên tắc nhân đạo đối với người chưa
thành niên và phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Một số quan điểm nên hay không nên áp dụng hình phạt tử hình?
Trong xã hội ngày nay, khi mà xã hội ngày càng phát triển, nhân loại
ngày càng tiến bộ thì phạm vi áp dụng hìnhphạt tử hình cũng có xu hướng thu
24
hẹp lại phạm vi áp dụng, dần tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình. Tính đến thời
điểm này đã có khoảng 105 nước xóa bỏ hình phạt tử hình vì cho rằng nó vi
phạm đến nhân quyền và một số quyền lợi cơ bản của con người. Vậy ở Việt
Nam, có nên xóa bỏ hình phạt tử hình hay tiếp tục duy trì? Nên hạn chế hay
giữ nguyên số tội danh áp dụng? Xoay quanh vấn đề này khoa học pháp lý
hình sự Việt Nam cũng đã tiếp nhận và theo đuổi nhiều quan điểm khác nhau
trên thế giới, theo quan điểm không ủng hộ hình phạt tử hình cho rằng: một
đặc trưng cơ bản của hình phạt tử hình đó là tính không thay đổi, bất cứ hình
phạt nào trong hệ thống hình phạt đều có thể tồn tại khả năng sai sót và hình
phạt tử hình là hình phạt duy nhất mà khi xảy ra sai lầm đó thì không thể khắc
phục được. Dó đó, cần xóa bỏ hình phạt tử hình để tránh không xảy ra sai lầm
đó. Đồng thời, họ cho rằng hình phạt tử hình vi phạm nghiêm trọng nhân
quyền, là một sự tra tấn ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, thể hiện sự phi
nhân đạo, đi ngược lại nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự. Việc áp
dụng hình phạt tử hình chẳng khác gì là một sự trả thù và lặp lại hành động
của người phạm tội không cho họ một con đường sống và cơ hội làm người.
Trong khi đó, xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình là xu hướng chung của các
nước trên thế giới vì vậy không nên đi ngược lại xu hướng chung đó. Ngoài
ra, việc duy trì hình phạt tử hình còn vi phạm quyền được sống của con người
đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, việc
không áp dụng hình phạt tử hình nữa không có nghĩa là bỏ qua tội ác của
người phạm tội, mà chúng ta có thể áp dụng hình phạt khác như chung thân.