KIẾN THỨC THÁI độ về các BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CHUẨN của SINH VIÊN tại đại học y hà nội - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

-----------***-----------

LÊ THỊ NGA

KIÕN THøC TH¸I §é VÒ C¸C BIÖN PH¸P PHßNG NGõA CHUÈN
CñA SINH VI£N t¹i §¹I HäC Y Hµ NéI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
KHÓA 2012– 2016
Người hướng dẫn khoa học:

Chủ tịch hội đồng:

ThS. Bùi Vũ Bình

TS. Trương Quang Trung
HÀ NỘI – 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám
hiệu, Phòng Đào tạo đại học, Khoa Điều dưỡng- Hộ sinh- Trường Đại học Y
Hà Nội.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.Bùi Vũ Bình cán bộ
giảng dạy tại Khoa Điều dưỡng- Hộ sinh- Trường Đại học Y Hà Nội, người
thầy đã hết lòng dạy bảo, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập và trực tiếp

: Bác sỹ đa khoa

CDC

: Centers for Disease Control and Prevention
Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh tật Hoa Kì.

CNĐD

: Cử nhân điều dưỡng

KSNK

: Kiểm soát nhiễm khuẩn

KT

: Kiến thức

NB

: Người bệnh

NKBV

: Nhiễm khuẩn bệnh viện

NVYT

: Nhân viên y tế


8

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện là hậu quả không mong muốn trong thực hành
khám bệnh, chữa bệnh. Nhiễm khuẩn bệnh viện góp phần làm gia tăng tỷ lệ
mắc bệnh, tăng sử dụng thuốc kháng sinh, kéo dài ngày nằm viện cho
người bệnh, gia tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Thực hiện các
biện pháp của phòng ngừa chuẩn đóng góp quan trọng vào việc giảm tỷ lệ
mắc nhiễm khuẩn bệnh viện. Từ đó hạn chế sự lây truyền bệnh cho nhân
viên y tế và người bệnh cũng như từ người bệnh sang môi trường, đảm bảo
an toàn người bệnh, góp phần làm tăng chất lượng khám bệnh, chữa bệnh
của bệnh viện [1], [2].
Những cơ sở khám chữa bệnh không tuân thủ đầy đủ quy trình đảm bảo
vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị, những nơi chưa có kiến thức và thái độ
đúng về phòng ngừa chuẩn có nguy cơ mắc nhiễm trùng bệnh viện cao hơn
các cơ sở khác. Do vậy kiến thức và thái độ về phòng ngừa chuẩn có vai trò
quan trọng đối với thực hành phòng ngừa chuẩn cho nhân viên y tế. Kiến thức
về phòng ngừa chuẩn là một phần cơ bản trong kiến thức về kiểm soát nhiễm
khuẩn. Tại mỗi thời điểm, nội dung của các biện pháp phòng ngừa chuẩn
được thay đổi để phù hợp với đặc điểm các bệnh nhiễm trùng. Mỗi quốc gia
có các giải pháp thực hiện phòng ngừa chuẩn khác nhau tùy thuộc vào đặc
điểm các bệnh nhiễm trùng của nước đó nhưng đều dựa trên hướng dẫn của
trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kì về phòng ngừa chuẩn công
bố năm 2007.
Sinh viên y khoa là những nhân viên y tế tương lai, chịu trách nhiệm
trong chăm sóc và điều trị cho người bệnh. Trong chương trình học, bên
cạnh học lý thuyết tại trường sinh viên còn học lâm sàng và trực tại bệnh
viện với tính chất công việc tương tự như các ngành học. Bên cạnh đó,


1.1. Khái niệm về phòng ngừa chuẩn
1.1.1. Phòng ngừa chuẩn và vai trò của phòng ngừa chuẩn tới kiểm soát
nhiễm khuẩn.
Nhiễm khuẩn bệnh viện đã trở thành một thách thức y tế của toàn cầu.
Tại các nước phát triển tỷ lệ mắc NKBV là từ 5-10% tổng số người bệnh nhập
viện, trong khi đó tỷ lệ này ở các nước đang phát triển là trên 25% [6]. Nhiễm
khuẩn bệnh viện làm tăng thời gian viện, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ mắc
bệnh và đặc biệt làm tăng tỷ lệ tử vong. Nhiễm khuẩn bệnh viện sẽ tăng ở các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tuân thủ nghiêm ngặt các quy tình vô
khuẩn trong chăm sóc người bệnh và ở những nơi kiến thức và thái độ về
KSNK còn hạn chế [7].
Năm 1970, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kì (CDC)
đưa ra khái niệm về cách ly phòng ngừa lần đầu tiên với 7 phương pháp cách
ly theo mã màu khác nhau bao gồm: phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa bảo
vệ, phòng ngừa lây truyền qua hô hấp, đường ruột, vết thương, chất thải và
máu. Năm 1985 CDC ban hành hướng dẫn phòng ngừa mới gọi là phòng
ngừa phổ cập (Universal Precautions) nhằm đối phó với đại dịch HIV/AIDS.
Trong đó, máu được xem như là nguồn lây truyền quan trọng nhất và dự
phòng những phơi nhiễm qua đường máu là cần thiết. Năm 1995, khái niệm
phòng ngừa phổ cập được chuyển thành phòng ngừa chuẩn (Standard
Precautions) là tổng hợp của hai biện pháp phòng ngừa phổ cập và cách ly với
chất tiết của cơ thể [7].


11

Theo hướng dẫn về PNC của Bộ Y tế, PNC là tập hợp các biện pháp
phòng ngừa cơ bản áp dụng cho tất cả NB trong các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh, dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có
nguy cơ lây truyền bệnh [1].

cần phải được coi là một biện pháp PNC. Bên cạnh đó, tổ chức này cũng cho
rằng việc thực hành theo đúng các quy định về KSNK đối với các thủ thuật,
đặc biệt là thủ thuật xâm lấn không chỉ làm giảm nguy cơ NKBV mà còn giúp
phòng ngừa các lây nhiễm cho NVYT [8], [9].
Việc áp dụng các khuyến cáo về PNC của WHO và CDC tại mỗi quốc
gia tùy thuộc vào đặc điểm y tế của quốc gia đó. Năm 2013, trung tâm kiểm
soát nhiễm trùng tại Saudi, Ả rập đã ban hành các giải pháp thực hiện PNC
dựa trên các khuyến cáo của WHO và CDC. Tổ chức này cũng đồng thuận
với WHO, CDC về tầm quan trọng của các biện pháp vệ sinh bàn tay, vệ sinh
khi ho và hô hấp trong việc bảo vệ NVYT, NB khỏi các tác nhân lây nhiễm.
Các biện pháp về xử lí dụng cụ chăm sóc, xử lí đồ vải bẩn, các biện pháp vệ
sinh môi trường chăm sóc, sắp xếp người bệnh, quản lí và xử lí chất thải, cũng
được tổ chức này khuyến khích thực hiện nhằm giảm tỷ lệ NKBV. Bên cạnh
đó, tổ chức này đã bổ sung thêm giải pháp về quản lí mẫu xét nghiệm do nhận
thấy hiệu quả của giải pháp này trong hạn chế sự lây nhiễm các tác nhân gây
bệnh và giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn [10].
Tại Việt Nam, các giải pháp thực hiện PNC được xây dựng trên sự
thống nhất với WHO, CDC về các nội dung: vệ sinh bàn tay; vệ sinh khi ho
và hô hấp; làm sạch và khử khuẩn môi trường; khử khuẩn/tiệt khuẩn dụng cụ;
xử lí đồ vải; sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân; tiêm an toàn và phòng
ngừa tổn thương do vật sắc nhọn. Bộ Y tế cũng đồng nhất với quan điểm của
WHO về tầm quan trọng của các biện pháp xử lí chất thải y tế nhằm hạn chế
tác nhân lây truyền bệnh, quan điểm của CDC về vai trò của biện pháp sắp
xếp người bệnh hợp lí nhằm hạn chế sự lây truyền chéo giữa NB, tạo điều


13

kiện quản lí NB dễ dàng hơn. Tháng 9/2012 Cục quản lí khám, chữa bệnh, Bộ
Y tế đã ban hành hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám, chữa

phơi nhiễm với các tác nhân đường máu trong khi thao tác là 327 trường hợp,
trong đó phơi nhiễm trên bệnh nhân HIV dương tính là 65 trường hợp. Điều
dưỡng là đối tượng thường gặp nhất các tai nạn nghề nghiệp với 116 trường
hợp chiếm 35.5%, tiếp đó là đối tượng học viên/sinh viên với 48 trường hợp
chiếm14.7% [13]. Do còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện các thủ thuật
thăm khám và các thủ thuật chăm sóc vậy nên sinh viên là đối tượng có nguy
cơ cao phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh [14].
Theo nghiên cứu của Huson Amin Ghalya và Youssreya Ibrahim chỉ ra
rằng có sự thiếu kiến thức và tuân thủ về thực hành PNC của NVYT và sinh
viên y [15]. Trong khi đó sự tuân thủ thực hành PNC lại có vai trò đáng kể
trong việc giảm tỷ lệ NKBV [1].
1.2. Kiến thức, thái độ về PNC của nhân viên y tế và sinh viên y khoa.
NKBV là mối quan tâm chung của ngành y tế tại mọi quốc gia trên thế
giới. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, công tác KSNK luôn phải đối
mặt với nhiều trở ngại như ngân sách đầu tư hạn chế, tình trạng quá tải bệnh
viện, thiếu thốn cơ sở vật chất, phần lớn NVYT và các nhà quản lý chưa nhận
thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác này [10]. Nguyên nhân gây
nhiễm khuẩn bệnh viện có nhiều, tuy nhiên một trong những nguyên nhân
quan trọng là kiến thức, thái độ của NVYT về kiểm soát NKBV chưa tốt dẫn
đến việc chấp hành các quy định/quy trình KSNK gặp nhiều khó khăn, đặc
biệt là các nội dung về PNC [11].
NKBV xuất hiện nhiều ở những cơ sở không tuân thủ nghiêm ngặt quy
tắc vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị người bệnh, ngoài ra nguồn lực dành
cho đào tạo KSNK còn thiếu. PNC là nội dung quan trọng trong chương trình
KSNK. Để làm thay đổi hành vi của một cá nhân cần phải cung cấp cho các
đối tượng các kiến thức đúng, thay đổi thái độ của đối tượng, từ đó tác động


15


Sinh viên là đối tượng dễ có nguy cơ bị phơi nhiễm với các tác nhân gây
truyền bệnh qua đường máu do chưa thuần thục trong thực hiện các thủ thuật vô
khuẩn, sinh viên điều dưỡng và sinh viên đa khoa chiếm 15% tổng số phơi
nhiễm liên quan đến vật sắc nhọn [22]. Kiến thức của sinh viên còn thấp trong
các nội dung về vệ sinh tay, phòng hộ cá nhân, tiêm an toàn và xử trí phơi nhiễm
với vật sắc nhọn theo nghiên cứu của tác giả Tarek Tawfik Amin [5].
Việc cung cấp đầy đủ kiến thức về PNC đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hành PNC của sinh viên. Nghiên cứu của Elliott SK và cộng sự
nhằm so sánh kết quả trước và sau khi cung cấp các kiến thức về phòng ngừa
tai nạn do kim đâm và xử lí tai nạn cho sinh viên đã cho thấy có sự cải thiện
đáng kể về kiến thức của sinh viên so với các nghiên cứu trước đó [19]. Sinh
viên là đối tượng chưa được nhận đầy đủ tất cả các kiến thức liên quan đến
chuyên môn so với NVYT, do đó sinh viên dễ gặp các rủi ro trong chăm sóc
hơn so với NVYT.
Sinh viên trước khi ra trường nên được cung cấp đầy đủ các kiến thức
về PNC để bảo vệ bản thân đồng thời chăm sóc, điều trị cho NB tốt hơn [23],
nghiên cứu của Koenig S và Chu J năm 1993 chỉ ra rằng nhiều sinh viên trước
khi tốt nghiệp vẫn chưa có đầy đủ kiến thức về PNC [24].
Nghiên cứu của Verena G. Herbert và cộng sự tiến hành giữa các sinh
viên đa khoa tại Australia cho thấy chỉ có 49% số sinh viên được phỏng vấn
tuân thủ rửa tay, 70% số người được hỏi có kiến thức đúng về rửa tay [25].
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức về rửa tay của sinh viên
trong giáo dục đại học có thể tác động tới hành vi của sinh viên ra trường và
làm giảm NKBV.
1.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về PNC


17

1.3.1. Các đặc điểm của đối tượng.

sóc như: tiêm truyền, lấy máu xét nghiệm, phụ giúp NVYT trong vận chuyển
người bệnh, phân loại rác thải, vệ sinh khoa phòng.
Thời gian đào tạo của sinh viên CNĐD là 4 năm, đối với hệ BSĐK là 6
năm, sinh viên BSĐK có thời gian tiếp xúc lâm sàng muộn hơn so với đối
tượng CNĐD. Thời gian tiếp xúc lâm sàng của sinh viên đa khoa là từ đầu
năm thứ 3. Đối với sinh viên CNĐD là từ kì 2 năm thứ 2. Ngoài ra có một số
sinh viên đã đi trực và tự học lâm sàng ngày từ năm thứ nhất với các công
việc như những điều dưỡng, khi mà sinh viên chưa được cung cấp bất kì kiến
thức nào liên quan đến lâm sàng, chủ yếu là các môn cơ sở.
1.3.2. Nội dung KSNK trong chương trình đào tạo
Nghiên cứu của Ginny Kaushal cho thấy, NVYT được đào tạo về
PNC có kiến thức, thái độ và thực hành tốt hơn nhóm chưa được đào tạo về
PNC. Cụ thể, kiến thức của nhóm được đào tạo về PNC là cao hơn nhóm
không được đào tạo về PNC với tỷ lệ lần lượt là 85% và 75%, nhóm được đào
tạo về PNC có tỷ lệ tuân thủ thực hành cao hơn so với nhóm còn lại lần lượt
là 95% và 86% [30].
Giáo dục về PNC là một trong những yếu tố ảnh hướng đến kiến thức,
thái độ và thực hành về PNC của sinh viên, theo nghiên cứu của Marie-Pierre
Tavolacci, đánh giá kiến thức, thái độ của sinh viên sau khi giảng dạy về
chương trình PNC tại Pháp[31]
Việc đào tạo về PNC cho sinh viên y tại trường Đại học Y Hà Nội đã
được tiến hành từ năm 2014 do khoa Điều dưỡng phụ trách. Chương trình
giảng dạy môn KSNK của khoa Điều dưỡng bắt đầu từ kì 2 năm thứ 2 dành
cho đối tượng CNĐD trước khi học lâm sàng. Các nội dung về KSNK bao
hàm các nội dung của PNC. Trong quá trình học các sinh viên sẽ được học kết
hợp cả lí thuyết và thực hành trên phòng lab và tại bệnh viện để sinh viên áp


19


Cỡ mẫu được tính theo công thức:
N
Với độ tin cậy là 95%: Z1-α/2=1.96 (với α=0.05)



Trong nghiên cứu của Mn. Huson Amin Ghalya, Prof. Youssreya
Ibrahim tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt là 45.83%, với mức độ trả lời
đúng trên 75% tổng số câu hỏi về kiến thức [15].
p: 0.3 – Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đạt về PNC.
: 0.05
N = 322


21

Người nghiên cứu quyết định lấy thêm 30% số sinh viên nhằm hạn chế
bớt sai số của phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tổ. Trên thực tế có 412
sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu.
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tổ: dựa trên số lượng
sinh viên của các khối từ năm thứ 2 đến năm thứ 5 của hệ BSĐK và hệ
CNĐD.
 Sinh viên đa khoa từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 được chia thành

18 tổ - mỗi năm gồm có 6 tổ tương ứng với 6 lớp.
 Sinh viên điều dưỡng từ năm thứ 2 tới năm thứ 4 được chia thành
3 tổ - mỗi tổ tương ứng với mỗi lớp.
 Với mỗi tổ của hệ BSĐK phát ra 20 phiếu, mỗi tổ của CNĐD
phát ra 60 phiếu. Tổng số phiếu phát ra là 540 phiếu. Trong đó sự
tham gia của BSĐK đạt 79.72% (287/360 sinh viên), sự tham gia


Xin
Xin ý
ý kiến
kiến chuyên
chuyên gia:
gia:

Thử
Thử nghiệm
nghiệm bộ
bộ câu
câu hỏi
hỏi trên
trên sinh
sinh viên
viên

Chỉnh
Chỉnh sửa
sửa bộ
bộ câu
câu hỏi
hỏi

Thu
Thu thập
thập trên
trên sinh
sinh viên

Đã nhận được tài liệu về PNC

2.4.2.2. Các nội dung liên quan đến PNC
 Kiến thức về vệ sinh tay: 19 câu
 Kiến thức về phòng hộ cá nhân: 14 câu
 Kiến thức về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc








nhọn:6 câu
Kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp: 5 câu
Kiến thức về sắp xếp người bệnh thích hợp: 3 câu
Kiến thức về xử lí dụng cụ y tế: 5 câu
Kiến thức về xử lí đồ vải: 5 câu
Kiến thức về bảo vệ môi trường: 5 câu
Kiến thức về quản lí chất thải: 5 câu
Thái độ của sinh viên về chương trình đào tạo PNC: 5 câu

2.5. Quá trình nghiên cứu
 Xây dựng đề cương
 Xin ý kiến của phòng quản lí đào tạo học sinh sinh viên trường

Đại học Y Hà Nội, khoa Điều dưỡng- Hộ sinh trường đại học Y
Hà Nội.
 Tiến hành tổ chức lấy danh sách sinh viên




25

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1.Thông tin chung của đối tượng
BSĐK

Các thông tin chung

CNĐD

TỔNG

Số
Tỷ
Số
Tỷ
Số
Tỷ
lượng
lệ
lượng
lệ
lượng
lệ
(n=412) (%) (n=412) (%) (n=412) (%)


0

0

28

22.4

28

6.8

Năm thứ 3

92

32.1

48

38.4

140

34

Năm thứ 4

111

0

125

100

125

30.3

SV được đào tào về PNC

0

0

125

100

125

30.3

Giới

Năm thứ

Nhận xét: Trong 412 sinh viên tham gia nghiên cứu có 183 sinh viên
nam (44.4%) và 229 sinh viên nữ (55.6%). Số sinh viên CNĐD tham gia nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status