1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
NGUYỄN VĂN LONG
NGHIÊN CỨU CÁC BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHUYÊN
MÔN CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN ĐIỀN KINH TRẺ CHẠY
CỰ LY TRUNG BÌNH LỨA TUỔI 15-16.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ĐÀ NẴNG, NĂM 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
NGUYỄN VĂN LONG
NGHIÊN CỨU CÁC BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHUYÊN MÔN
CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN ĐIỀN KINH TRẺ CHẠY CỰ LY
TRUNG BÌNH LỨA TUỔI 15-16.
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Mã số: 62.14.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I- TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN
1.1.
1.1.1
1.1.3
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.3.4
1.2.5
1.2.6
1.3
1.3.1
1.3.2
1.4
1.5
CỨU
Khái quát các đặc điểm huấn luyện sức bền trong môn
Điền kinh.
Khái niệm, phân loại và đặc điểm sức bền:
Các quan điểm về huấn luyện sức bền:
Cơ sở lý luận của việc huấn luyện sức bền chuyên môn
cho nam vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung
bình.
Đặc điểm chạy cự ly trung bình
Các quan điểm về huấn luyện sức bền chuyên môn cho nam
vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi
15-16:
45
45
45
49
53
54
5
2.1
2.1.1.
2.1.2.
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.2.4
2.2.5
2.2.6
2.2.7
2.3
2.3.1
2.3.2
3.1
3.1.1.
3.1.2
3.1.3.
3.1.4.
nam vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa
tuổi 15 – 16:
Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá
sức bền chuyên môn cho nam vận động viên Điền kinh trẻ lứa
tuổi 15 – 16:
Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức bền chuyên
môn cho nam vận động viên Điền kinh trẻ lứa tuổi 15-16:
Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nam vận động
viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16:
Tiểu kết:
Bàn luận về thực trạng sức bền chuyên môn cho nam vận
động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16:
Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức bền
chuyên môn cho nam vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự
ly trung bình lứa tuổi 15- 16 ở Trung tâm huấn luyện thể
thao quốc gia Đà Nẵng.
Thực trạng sử dụng các bài tập phát triển sức bền chuyên
54
54
54
54
54
55
56
56
66
67
68
71
bình:
Cơ sở khoa học lựa chọn các bài tập:
Lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam
vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 1516:
Tiểu kết:
Bàn luận về kết quả lựa chọn bài tập phát sức bền chuyên
môn cho nam vận động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung
bình lứa tuổi 15- 16:
Ứng dụng và xác định hiệu quả các bài tập đã lựa
chọn nhằm phát triển sức bền chuyên môn cho nam vận
động viên Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 1516.
Tổ chức thực nghiệm:
Xây dựng chu kỳ huấn luyện và tiến trình thực nghiệm:
Đánh giá kết quả thực nghiệm :
Bàn luận về ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát
triển sức bền chuyên môn cho nam vận động viên Điền kinh
trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16:
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
2. Kiến nghị:
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
97
109
113
114
119
và Bơi lội ở Trung tâm HLTT Quốc gia Đà Nẵng
Kết quả đánh giá chức năng tâm lý VĐV Điền kinh ở
Trung tâm HLTT Quốc gia Đà Nẵng
Tỷ lệ đóng góp của các hệ năng lượng ở cự ly trung
bình và dài của môn Điền kinh
Các hệ thống năng lượng cung cấp cho hoạt động của
cơ bắp khi nỗ lực tối đa trong các nội dung chạy của
môn Điền kinh
Kết quả 02 lần phỏng vấn về những yếu tố cần thiết để
kiểm tra đánh giá SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ
lứa tuổi 15 - 16
Kết quả 02 lần phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá
SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung
bình lứa tuổi 15-16.
Hệ số tương quan giữa 2 lần kiểm tra của các tests
đánh giá SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ lứa tuổi 15
Hệ số tương quan giữa 2 lần kiểm tra của các tests
đánh giá SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ lứa tuổi 16.
Hệ số tương quan giữa thành tích các test SBCM với
thành tích thi đấu 1500m của nam VĐV Điền kinh trẻ
lứa tuổi 15.
Hệ số tương quan giữa thành tích các test SBCM với
thành tích thi đấu 1500m của nam VĐV Điền kinh trẻ
lứa tuổi 16.
Kiểm tra so sánh thành tích giữa hai nhóm tuổi 15 và
16 của nam VĐV Điền kinh trẻ.
Kết quả kiểm tra SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ
lứa tuổi 15 -16.
Phân loại SBCM theo từng test cho nam VĐV Điền
kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16.
78
79
79
81
82
Sau 83
8
Bản
g
3.10 Bảng điểm đánh giá SBCM theo từng test của nam
VĐV Điền kinh trẻ lứa tuổi 15 – 16.
3.11 Bảng điểm tổng hợp đánh giá SBCM cho nam VĐV
Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16
3.12 So sánh thành tích chạy 800m và 1500m giữa 2 nhóm
thông qua chỉ số Wilcoxơn.
3.13 Thực trạng SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy
cự ly trung bình lứa tuổi 15-16 ở các tỉnh Miền trung.
3.14 Thực trạng SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly
trung bình lứa tuổi 15-16 ở Trung tâm HLTT Quốc gia Đà
Nẵng.
3.15 Phân bổ KLHL năm về sức bền của nam VĐV Điền kinh
trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16 ở Trung tâm HLTT
Quốc gia Đà Nẵng
3.16 Mối quan hệ giữa các test sư phạm với các test y-sinh đánh
giá SBCM của nam VĐV chạy cự ly trung bình lứa tuổi
15-16
99
100
101
102
104
105
107
108
9
Bản
g
3.25 Kết quả phỏng vấn cơ sở lựa chọn bài tập phát triển
SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung
bình lứa tuổi 15-16.
3.26 Kết quả phỏng vấn nguyên tắc lựa chọn bài tập phát
triển SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly
trung bình lứa tuổi 15-16.
3.27 Kết quả phỏng vấn đánh giá mức độ ưu tiên của các bài
tập phát triển SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy
cự ly trung bình ở lứa tuổi 15-16 tại Trung tâm HLTT
Quốc gia Đà Nẵng.
3.28 Nội dung các giai đoạn huấn luyện trong thời gian thực
nghiệm cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung
bình lứa tuổi 15-16 ở Trung tâm HLTT Quốc gia Đà
Nẵng
3.29 Bảng phân phối tiến trình huấn luyện SBCM tuần
So sánh kết quả phân loại SBCM của 2 nhóm trước thực
nghiệm:
So sánh thành tích của NTN sau 18 tháng thực
nghiệm.
Nhịp độ tăng trưởng về kết qủa kiểm tra các test đánh
giá SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly
trung bình lứa tuổi 15-16 ở NTN qua các giai đoạn
kiểm tra.
Đánh giá SBCM của NTN thông qua phân loại
So sánh thành tích của NĐC sau 18 tháng thực
nghiệm
Nhịp độ tăng trưởng về kết qủa kiểm tra các test
đánh giá SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự
ly trung bình lứa tuổi 15-16 ở NĐC qua các giai đoạn
kiểm tra.
Đánh giá SBCM của NĐC thông qua phân loại
Kết quả kiểm tra SBCM của 2 nhóm sau 18 tháng
Sau
110
Sau
111
120
Sau
120
121
122
123
3.6 Phân loại SBCM của NTN sau 18 tháng thực nghiệm
3.7 Nhịp độ tăng trưởng của NĐC ở từng chỉ tiêu khảo sát
trong quá trình thực nghiệm 18 tháng.
3.8 Phân loại SBCM của NĐC sau 18 tháng thực nghiệm
3.9 Nhịp độ tăng trưởng của NTN và NĐC ở chu kỳ 3
Sơ
đồ
3.10 Kết quả phân loại SBCM của 2 nhóm sau 18 tháng
TN
1.1 Sức bền và ảnh hưởng của sức bền đối với sức bền nhanh
và sức bền mạnh
1.2 Các phương pháp huấn luyện
Sau
128
129
75
88
89
122
Sau
124
124
Sau
127
127
Sau
130
Huấn luyện thể thao
HLV
Huấn luyện viên
LVĐ
Lượng vận động
KH
Khoa học
KLHL
Khối lượng huấn luyện
NĐC
Nhóm đối chứng
NTN
Nhóm thực nghiệm
NQ
Nghị quyết
Trung ương
VĐV
Vận động viên
12
DANH MỤC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Ký hiệu
Tên đầy đủ
Aerobic
Ưa khí (có oxy)
AL
Axít láctíc
Anaerobic
Yếm khí (không có oxy)
ATP
Adenosine Triphosphate
Miligiây
O2
Oxy
ph
Phút
13
ĐẶT VẤN ĐỀ
Để thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa
hiện đại hóa từ nay đến năm 2020, năm 2013 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghia Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6
thông qua. Đây là bản Hiến pháp được sửa đổi và bổ sung của bản Hiến pháp
năm 1992, với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã
hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện trên tất cả các linh vực nói chung, trong đó có thể dục thể thao nói
riêng.
Để thực hiện được mục tiêu, ý tưởng đó, Đảng và Nhà nước ta quan tâm
và xác định yếu tố con người luôn là mục tiêu và động lực trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước. Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng
12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, v/v phê duyệt “Chiến lược phát triển
thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020”, với quan điểm phát triển thể dục,
thể thao là yếu tố quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, tăng cường thể lực,
tầm vóc, tăng tuổi thọ người Việt Nam và lành mạnh hóa lối sống của thanh
cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng
phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT, đến năm 2020, phấn đấu
90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; Các trường học, xã,
phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất TDTT phục vụ việc tập
luyện của nhân dân, trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao
ngang tầm Châu Á và Thế giới; Đầu tư, nâng cấp các Trung tâm HLTT của
Quốc gia, các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu HLTT hiện đại; Củng
cố và phát triển các trường, lớp năng khiếu thể thao ở các tỉnh, thành phố với
15
quy mô phù hợp, có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển mạng lưới hoạt động thể thao
thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học và phát hiện, bồi dưỡng
các năng khiếu và tài năng thể thao; Đổi mới tổ chức, quản lý thể thao thành
tích cao theo hướng chuyên nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng môn và
từng địa phương; Ưu tiên đầu tư của Nhà nước và huy động các nguồn lực xã
hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo VĐV các môn thể thao trọng điểm, tích cực
chuẩn bị lực lượng VĐV và các điều kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để
sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Châu Á, Thế giới.
Trung tâm HLTT Quốc gia Đà Nẵng được thành lập tháng 03 năm 1994,
đến nay đã trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển. Những ngày đầu mới
thành lập Trung tâm chỉ có hai đội tuyển trẻ là Điền kinh và Bơi lội, nhưng đến
nay đã có 04 đội tuyển Quốc gia và 13 đội tuyển trẻ Quốc gia khác nhau như
Điền kinh, Bơi, Lặn, Bóng chuyền bãi biển, Bóng chuyền, Boxing, Taekwondo,
Wushu, Pencak-silat’, Cầu lông, Bắn súng, Bắn cung... Trong đó môn Điền kinh
(mà chủ yếu nội dung chạy cự ly trung bình) là môn thể thao chủ lực ở Trung
tâm và cũng là cái nôi đào tạo VĐV chạy cự ly trung bình tốt nhất trong cả nước.
Ở những nội dung này, VĐV Trung tâm HLTT Quốc gia Đà Nẵng đã đem về
cho thể thao Việt Nam những tấm huy chương qúi giá trong các giải thi đấu SEA
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở lựa chọn các bài tập phát triển
SBCM cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16
nhằm ứng dụng trong quá trình huấn luyện để nâng cao thành tích cho đối
tượng này và tiếp cận với trình độ VĐV ở tuyến cao hơn.
Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu và thực hiện các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng SBCM của nam VĐV Điền kinh trẻ chạy
cự ly trung bình lứa tuổi 15-16.
17
Mục tiêu 2: Lựa chọn các bài tập phát triển SBCM cho nam VĐV Điền
kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15- 16.
Mục tiêu 3: Ứng dụng và xác định hiệu quả các bài tập phát triển SBCM
cho nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16.
Giả thuyết khoa học của luận án
Kết quả huấn luyện chỉ có thể đạt được khi và chỉ khi quá trình huấn
luyện tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc giảng dạy, huấn luyện, vận dụng
hợp lý các phương pháp và các phương tiện phù hợp. Bởi vậy, nếu xác định
được các bài tập phát triển thể lực chuyên môn phù hợp với khách thể sẽ là cơ
sở quan trọng và tiền đề để phát triển sức bền chuyên môn có hiệu quả cho
nam VĐV Điền kinh trẻ chạy cự ly trung bình lứa tuổi 15-16.
18
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sức bền thời gian dài (từ 8ph trở lên)
Sức bền thời gian trung bình (từ 2 – 8ph)
Sức bền thời gian ngắn (từ 45gy đến 2ph)
Còn xét dưới góc độ trạng thái năng lực làm việc của hệ thống cung cấp
năng lượng thì sức bền chia làm hai loại sau: [58, tr.149].
Sức bền ưa khí (aerobic)
Sức bềm yếm khí (anaerobic)
Còn xem xét dưới góc độ sư phạm thì sức bền được chia thành hai loại
sau: [58, tr.150].
Sức bền chung
Sức bền chuyên môn
Trong bất kỳ một môn thể thao nào, sức bền vẫn là một năng lực đa nhân
tố. Do đó, SBC của VĐV là tương đối so với SBCM mà thôi, nó là sự tổng
hợp đặc trưng các loại cơ năng của cơ thể VĐV. Đặc trưng các cơ năng ở đây
không có ý chỉ đối với một bộ phận đặc biệt cần có của hoạt động chuyên
môn nào đó, nhìn chung nó có đặc điểm như sau:
Thời gian duy trì hoạt động dài
Hoạt động liên tục
Cường độ không lớn lắm
Các nhóm cơ đều tham gia hoạt động
Hệ thống tim mạch có sự đảm bảo tương đối tốt.
Trong thực tiễn không thể đem SBC đánh đồng như nhau với sức bền ưa
khí một cách đơn giản. Người ta chỉ coi SBC như cơ sở của SBCM, còn
SBCM là chỉ năng lực chức năng cơ thể được vận dụng tới mức tối đa cho
20
thành tích chuyên môn sâu trong điều kiện tập luyện hay thi đấu riêng biệt của
từng môn thể thao. Hay nói cách khác, SBCM là sức bền đối với từng môn
Sức bền chuyên môn
Sức bền chung
21
Sơ đồ 1.1: Sức bền và ảnh hưởng của sức bền đối với sức bền nhanh và sức bền mạnh [28]
Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly
mà VĐV cần và nó được chia làm các mốc thời gian tương ứng sau:
Thời gian thi đấu từ 11 đến 30ph (chạy cự ly từ 5000m - 10000m)
Thời gian thi đấu từ 30 đến 90ph (chạy cự ly bán marathon)
Thời gian thi đấu trên 90ph (chạy cự ly marathon)
Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết để vượt qua một
cự ly mà VĐV cần khoảng thời gian từ 2 đến 11ph. Với thời gian này đòi hỏi
VĐV huy động đầy đủ cả khả năng ưa khí lẫn yếm khí. Đa số các môn thể
thao hoạt động trong khoảng thời gian trung bình được quyết định chủ yếu
bởi mức độ phát triển của sức mạnh-bền và sức nhanh-bền.
Sức bền trong thời gian ngắn là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly
mà VĐV cần khoảng thời gian từ 45gy đến 2ph. Ở đây đòi hỏi một tỷ lệ phần
trăm cao về quá trình trao đổi yếm khí. Trình độ sức bền trong thời gian ngắn
cũng phụ thuộc một cách quyết định vào mức độ phát triển của sức mạnh-bền
và sức nhanh-bền. Vì sức bền luôn có quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực
sức nhanh và sức mạnh như ở sơ đồ 1.1.
Sức nhanh - bền là khả năng chống lại mệt mỏi khi vận động với tốc độ
gần tối đa, chủ yếu dựa vào sự tạo thành năng lượng yếm khí.
Sức mạnh - bền là khả năng chịu đựng LVĐ đặc biệt lớn trong quá trình
hoạt động nhằm khắc phục những lực cản lớn khi vận động. [28, tr.275].
Đối với môn thể thao cự ly trung bình thì cường độ thi đấu lại khác biệt
Ví dụ: VĐV chạy cự ly 800m với thành tích là 2ph10gy, thì thời gian
bình quân chạy mỗi đoạn 100m sẽ là 2ph10gy chia cho 8 = 16gy25. Nếu
VĐV đó chạy 100m có thành tích là 12gy50 thì “tốc độ dự trữ” là 16gy25 -
23
12gy50 = 3gy75. VĐV nào có tốc độ dự trữ càng ít thì chứng tỏ sức bền càng
tốt, nghia là phát huy được tốc độ.
Chỉ tiêu “chỉ số sức bền”. Người ta xác định bằng cách lấy thành tích của
cự ly chính trừ đi thành tích của cự ly chạy riêng từng cự ly nhỏ hơn.
Ví dụ: VĐV chạy cự ly 800m với thành tích là 2ph10gy, Thành tích tốt
nhất của 100m là 12gy50, thì chỉ số sức bền là 2ph10gy - (12gy50 x 8)
=2ph10gy - 1ph40gy = 30gy. Cũng giống như tốc độ dự trữ, chỉ số này càng
nhỏ thì SBCM càng tốt.
Trong hai loại chỉ tiêu nói trên, chỉ số sức bền thích hợp với việc đánh
giá SBCM của cá nhân VĐV. Nó không dùng để so sánh giữa hai VĐV vì nó
thuộc chỉ tiêu tương đối. Bởi vì có thể hình thành giữa hai người không giống
nhau, tốc độ cá nhân cũng khác nhau nhưng có thể chỉ tiêu “tốc độ dự trữ” lại
giống nhau. [58, tr.158]
Trong quá trình thi đấu duy trì hoặc nâng cao mức độ tích cực vận động
hợp lý, điều đó phụ thuộc vào:
Trình độ duy trì tốc độ khi tăng LVĐ thi đấu hoặc hoàn thành một lượng
đã dự định. Ví dụ: Trong quá trình chạy tính thời gian duy trì tốc độ rất tốt, cự ly
hoàn thành cũng rất dài.
Chỉ tiêu tăng cường dùng sức trong điều kiện khối lượng chuẩn trong thi
đấu.
Tính ổn định của kỹ thuật động tác trong thi đấu, loại chỉ tiêu này có tầm
quan trọng đặc biệt đối với các môn thể thao có kỹ thuật phức tạp. Ví dụ: Duy
trì kỹ thuật ổn định từ đầu đến cuối cự ly thi đấu.
1500m thì dùng cự ly tốc độ 150m để xác định.
SBCM chạy cự ly trung bình là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly mà
VĐV cần khoảng thời gian từ 2ph đến 11ph. Thành tích sức bền này đòi hỏi có
sự hoạt động đầy đủ của khả năng ưa khí lẫn khả năng yếm khí. Trong đa số
25
các môn, trình độ sức bền trong khoảng thời gian này được quyết định chủ yếu
bởi mức độ phát triển của sức mạnh - bền và sức nhanh - bền. Vì cái chính là
VĐV phải khắc phục các lực cản vận động tương đối cao luôn luôn lặp lại
trong toàn bộ cự ly. [3], [18], [27], [28], [63],
Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy SBCM của VĐV chỉ có thể xem
xét trong thi đấu hoặc trong điền kiện tập luyện gần như thi đấu và chỉ có như
vậy mới đánh giá được SBCM một cách chính xác. Ví dụ: Xác định chỉ số sức
bền cho VĐV chạy 10000m thì người ta không dùng tốc độ chạy các đoạn
100m để đánh giá mà phải dùng tốc độ chạy trên các đoạn là 1000m để đánh
giá, thì lúc ấy mới có ý nghia.[58, tr.159]
1.1.2. Các quan điểm về huấn luyện sức bền:
1.1.2.1. Các quan điểm về huấn luyện sức bền chung.
Trong HLTT nhân tố cơ bản và quan trọng nhất đó chính là huấn luyện
tố chất thể lực cho VĐV, trong đó có huấn luyện tố chất sức bền. Có rất nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm sức bền trong HLTT.
Theo Harre Dietrich 1996, sức bền được hiểu là khả năng chống lại sự
mệt mỏi của VĐV, sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ tốt
nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ chơi hoặc thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời
gian vận động kéo dài. Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải
quyết hoàn hảo các hành vi kỹ- chiến thuật tới cuối cuộc thi đấu và vượt qua
một khối lượng vận động lớn trong tập luyện. Do đó sức bền không chỉ là một
thành tố xác định mà có ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu của VĐV.[1],