Rối loạn tâm lý ở bệnh nhân bị bệnh động mạch chi dưới mạn tính điều trị nội trú tại bệnh viện Bạch Mai - Pdf 37

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (bệnh ĐMCDMT) là tình trạng bệnh lý
của động mạch chủ và động mạch chi dưới trong đó lòng mạch bị hẹp gây giảm tưới
máu cơ và các bộ phận liên quan (da, thần kinh). Thiếu máu cơ sẽ gây ra đau, lúc
đầu đau khi gắng sức, về sau đau cả khi nghỉ ngơi, kèm theo là các biểu hiện thiếu
máu cục bộ như loạn dưỡng, loét, hoại tử.
Bệnh ĐMCDMT là bệnh lý thường gặp. Phụ thuộc vào tuổi, các yếu tố nguy
cơ, tình trạng bệnh lý khác do xơ vữa phối hợp…mà tần suất bệnh ĐMCDMT dao
động giữa các nghiên cứu là khác nhau. Tại Châu Âu và Bắc Mỹ ước tính có
khoảng 27.000.000 người mắc bệnh ĐMCDMT. Bệnh ĐMCDMT ảnh hưởng ít
nhất tới 20% dân số Mỹ tương đương 8 – 12 triệu người Mỹ. Tại Vương quốc Anh
có tới hơn 100.000 người được chẩn đoán bệnh ĐMCDMT mỗi năm [13]. Sự phổ
biến của bệnh ĐMCDMT tăng lên rõ rệt với tuổi tác. Tuổi bị bệnh có thể khác nhau
nhưng thường gặp ở độ tuổi 55 – 60 [5]. Tình hình này không chỉ ảnh hưởng tới sức
khỏe và chất lượng cuộc sống người bệnh mà còn là một gánh nặng đối với nền y tế
cũng như đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam trong những năm gần đây tỷ lệ mắc bệnh tim mạch nói chung
và bệnh ĐMCDMT nói riêng ngày càng cao. Mặc dù chưa có nghiên cứu chính thức
nào về tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc, song hầu hết các bệnh viện nội khoa trong cả
nước đều có BN bị bệnh ĐMCDMT tới khám và điều trị. Vì là bệnh mạn tính nên
người bệnh phải chung sống với bệnh tật suốt đời, do đó ảnh hưởng lớn tới đời sống
vật chất và tinh thần của người bệnh.
Theo một số nghiên cứu nước ngoài, tỷ lệ BN bị rối loạn tâm lý, đặc biệt là sự
xuất hiện chứng trầm cảm ở BN bị bệnh ĐMCDMT là rất lớn (30 – 60%), con số này
có thể cao hơn khi bệnh ĐMCDMT kết hợp với sự lão hóa của tuổi già [14]. Triệu
chứng trầm cảm ở người già thường không được nhận ra bởi chính những bác sỹ của
họ, và các triệu chứng trầm cảm này thường bị bỏ qua như sự lão hóa của tuổi già
[14]. Do đó, phát hiện triệu chứng trầm cảm trong cộng đồng là rất quan trọng.
Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) dự báo rằng đến năm 2020, trầm cảm sẽ đứng
hàng thứ hai sau các bệnh tim thiếu máu cục bộ, trầm cảm như là một nguyên nhân

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu hệ động mạch chi dưới
1.1.1. Động mạch chậu chung, chậu ngoài, chậu trong.
Động mạch chậu chung bắt đầu từ chỗ chia đôi của động mạch chủ bụng, gồm
động mạch chậu chung trái và động mạch chậu chung phải. Động mạch chậu chung
chia thành động mạch chậu trong và chậu ngoài. Động mạch chậu trong đi xuống chia
đều nhánh nhỏ và cấp máu cho vùng tiểu khung. Động mạch chậu ngoài đi xuống, khi
tới ngang mức dây chằng bẹn thì đổi tên thành động mạch đùi chung [1].
1.1.2. Động mạch đùi chung
Động mạch chậu ngoài sau khi đi qua dây chằng bẹn thì đổi tên thành động
mạch đùi chung. Ở vùng bẹn động mạch đùi chung chia các nhánh là động mạch mũ
chậu nông, động mạch thượng vị nông và động mạch thẹn ngoài. Hai nhánh tận là
động mạch đùi sâu và động mạch đùi nông.
1.1.3. Động mạch đùi sâu
Là nhánh động mạch chính của đùi, cung cấp máu cho hầu hết các cơ ở đùi
bởi nhánh: động mạch mũ đùi ngoài, động mạch mũ đùi trong và các động mạch
xiên, phân nhánh tạo vòng nối ở vùng khớp háng và khớp gối.
1.1.4. Động mạch đùi nông
Chạy thẳng xuống ở mặt trước trong đùi, nằm trong ống đùi cùng với thần
kinh và tĩnh mạch đùi. Khi tới đến lỗ gân khép thì đổi tên thành động mạch khoeo.
1.1.5. Động mạch khoeo
Chạy tiếp theo động mạch đùi nông kể từ vòng gân cơ khép đi xuống tới bờ
dưới cơ khoeo thì chia làm hai ngành tận là động mạch chày trước và động mạch
chày sau.
Động mạch khoeo cho bảy nhánh bên và có nhiều nối tiếp giữa những mạch
này và các nhánh động mạch từ động mạch chày trước, chày sau tạo thành hai mạng
mạch phong phú là mạng mạch khớp gối và mạng mạch bánh chè. Tuy nhiên, nếu
thắt động mạch khoeo vẫn rất nguy hiểm do các nhánh nối nhỏ và khó phát triển
trong mô xơ.

và các động mạch chi dưới trong đó lòng động mạch bị hẹp gây giảm tưới máu cơ
và các bộ phận liên quan (da, thần kinh). Thiếu máu cơ sẽ gây ra đau, lúc đầu xuất
hiện khi gắng sức, về sau, đau cả khi nghỉ ngơi, kèm theo là các biểu hiện thiếu máu
cục bộ như loạn dưỡng, loét, hoại tử [2], [5], [8], [10], [12], [17].
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính là bệnh lý thường gặp. Phụ thuộc vào
tuổi, các yếu tố nguy cơ, tình trạng bệnh lý khác do xơ vữa phối hợp...mà tần suất
bệnh động mạch chi dưới dao động giữa các nghiên cứu khác nhau. Các dấu hiệu
phát hiện bệnh được sử dụng sàng lọc trong cộng đồng bao gồm đau cách hồi chi
dưới, và chỉ số áp lực tâm thu cổ chân – cánh tay (chỉ số ABI) giảm.
1.2.2. Các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch.
Xơ vữa động mạch là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh động mạch chi
dưới mạn tính (chiếm 90%) [5].
Các yếu tố nguy cơ gây ra xơ vữa động mạch bao gồm:
Tuổi: thường gặp ở lứa tuổi 55 – 60, bệnh nhân càng cao tuổi thì tỷ lệ mắc
BĐMCDMT càng cao. Nghiên cứu Rotterdam sử dụng chỉ số ABI (AnkleBrachinal Index) trong chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới. Kết quả cho thấy tỷ lệ
mắc BĐMCDMT tăng dần theo tuổi: độ tuổi 55-59 là 8,8%; 70-74 là 19,8% và lên
tới 27% ở độ tuổi 75 – 79 [12].
Giới: nam giới gấp 3 lần nữ.
Thuốc lá: đây là yếu tố nguy cơ chính của bệnh động mạch chi dưới mạn tính.
hơn 80% bệnh nhân bị bệnh động mạch chi dưới có hút thuốc lá. Hút thuốc lá làm
tổn thương nội mạc mạch máu, làm tăng đông máu và tăng tiến triển của mảng xơ
vữa. Trong nghiên cứu Cardiovascul Health Stady- nghiên cứu nguy cơ tương đối
của sự phát triển PAD cao hơn người không hút thuốc lá là 7,5 lần ở những người
đang hút thuốc lá [16]

5


Đái tháo đường: (phụ thuộc/không phụ thuộc insulin) làm tăng nguy cơ bị
bệnh động mạch chi dưới từ 2 – 4 lần; 12 – 20% bệnh nhân bị bệnh động mạch chi

Giai đoạn IV

-

IIA : Đau xuất hiện với khoảng cách đi trên 150 m

-

IIB : Đau xuất hiện khi đi được dưới 150 m.
Đau khi nằm: thiếu máu cơ xuất hiện thường xuyên, kể cả khi nghỉ.
Đau xuất hiện khi nằm, buộc bệnh nhân phải ngồi thõng chân.
Có rối loạn dinh dưỡng trên da, và/hoặc hoại tử đầu chi.

6

Thang Long University Library


* Đau cách hồi chi dưới
- Là cảm giác đau rút cơ, xuất hiện khi gắng sức, sau khi đi được một quãng
đường nhất định, giảm và hết đau khi dừng lại, và tái xuất hiện trở lại với cùng một
mức gắng sức, ở cùng một khoảng cách đi.
- Vị trí đau giúp gợi ý vị trí động mạch bị tổn thương:
x Đau ở vùng mông hoặc đùi: tổn thương động mạch chậu.
x Đau ở bắp chân: tổn thương đoạn động mạch đùi – khoeo.
x Đau ở bàn chân: tổn thương các động mạch ở cẳng chân.
- Việc khai thác kỹ khoảng cách đi được tới khi xuất hiện triệu chứng đau chi
dưới rất có ý nghĩa trong theo dõi tiến tiển bệnh. Nếu đau vẫn còn tồn tại khi nghỉ,
hoặc đau về đêm, là triệu chứng của bệnh động mạch chi dưới mạn tính ở giai đoạn
nặng hơn (giai đoạn thiếu máu trầm trọng).


1.2.4. Dịch tễ học bệnh động mạch chi dưới mạn tính.
BĐMCDMT là hội chứng thường gặp với số lượng lớn trong quần thể người
trưởng thành trên thế giới. Trong nghiên cứu Framingham-Heart Stady đã chỉ rõ
điều này [12]. Tần suất mới mắc trung bình của biểu hiện đau cách hồi ở lứa tuổi
30-44 là 6/10000 nam và 3/10000 nữ. Con số này tăng lên nhiều ở lứa tuổi từ 65-74,

8

Thang Long University Library


cụ thể là: 61/10000 nam và 54/10000 nữ. Người ta cũng nhận thấy rằng hút thuốc
lá, ĐTĐ, tăng mỡ máu, THA đều làm tăng nguy cơ của đau cách hồi. Trong một
nghiên cứu khác, Criqui và cộng sự [18] đánh giá tỷ lệ BĐMCDMT ở 613 nam và
nữ ở Nam Califorlia nhận thấy tỷ lệ BĐMCDMT là 2,5% ở bệnh nhân 70 tuổi. Trong nghiên cứu
PARTNER [12] trên 6979 bệnh nhân đến khám ban đầu ở Mỹ (với độ tuổi > 70
hoặc từ 50 – 69 tuổi kèm theo tiền sử hút thuốc lá hoặc đái tháo đường), người ta
nhận thấy tỷ lệ bị bệnh ĐMCDMT tới 29%; trong đó 13% chỉ có bệnh ĐMCDMT
đơn thuần; 16% có bệnh ĐMCDMT kết hợp với bệnh lý tim mạch khác do xơ vữa.
Trong nghiên cứu NHANES (National Health and Nutriton Examination Stady:
Nghiên cứu thăm khám sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia) tiến hành ở Mỹ năm
2003: với quần thể trên 40 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ĐMCDMT là 4,3%; tỷ lệ này tăng
tới 14,5% ở những người có tuổi trung bình 66 [13].
1.3. Những rối loạn tâm lý ở BN bị bệnh ĐMCDMT
1.3.1. Rối loạn tâm lý với bệnh nhân nói chung.
Bệnh tật làm thay đổi tâm lý người bệnh, có khi chỉ làm thay đổi nhẹ về xúc
động, song cũng có khi làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc toàn bộ nhân cách người
bệnh. Bệnh càng nặng, càng kéo dài thì sự biến đổi tâm lý càng trầm trọng. Bệnh tật

thay đổi hứng thú, tư duy, thay đổi tri giác đối với thế giới bên ngoài và bản thân, tập
trung chú ý vào bệnh tật, ích kỷ, ám thị, thay đổi nét mặt, giọng nói...Các dấu hiệu
biến đổi tập hợp thành hội chứng tâm lý không đặc hiệu của bệnh thực thể [12].
1.3.2. Những biểu hiện của trầm cảm và lo âu.
1.3.2.1. Lo âu
* Đặc điểm của lo âu
Lo âu là một trạng thái căng thẳng cảm xúc lan tỏa hết sức khó chịu nhưng mơ
hồ, kèm theo nhiều triệu chứng có thể, đứng ngồi không yên [10]. Theo U.Baumann, lo
âu là một hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước khó khăn, thử
thách, mà con người phải tìm cách vượt qua [18].
Lo âu có hai phần chính: Các biểu hiện báo trước của cảm giác cơ thể và trải
nghiệm cảm giác khiếp sợ.
Lo âu cũng ảnh hưởng lên tư duy, tri giác và học tập. có sự liên quan giữa lo
âu và hoạt động. Lúc ban đầu khi lo âu vừa mới được khuấy động lên thì hoạt động
được cải thiện tốt lên: đó là thời kỳ hoạt bát và khi mức độ lo âu trở lên quá mức thì
chuyển sang thời kỳ suy yếu , làm giảm khả năng của các động tác vận động khéo
léo và các nhiệm vụ trí tuệ phức tạp [11].

10

Thang Long University Library


Cần phân biệt giữa lo âu bệnh lý và lo âu bình thường: lo âu bệnh lý không
có chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài, lặp đi lặp
lại với nhiều rối loạn thần kinh thực vật như thở gấp, mạch nhanh, chóng mặt, vã
mồ hôi, chân tay lạnh bất an. Còn lo âu bình thường có chủ đề, nội dung rõ ràng
như ốm đau, việc làm, mối quan hệ diễn biến nhất thời khi có các sự kiện trong đời
sống tác động đến tâm lý của chủ thể, khi hết tác động thì lo âu cũng không còn và
thường không có hoặc rất ít triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật [9], [13], [16],

mức thần kinh thực vật: vã mồ hôi, mạch nhanh, thở gấp, hồi hộp, đánh trống ngực,
chóng mặt khô miệng.
Triệu chứng cơ thể thường xuất hiện trong tất cả rối loạn lo âu. Điều này
được ghi nhận trong việc chẩn đoán lo âu với hàng loạt cách phân loại chẩn đoán lo
âu DMS III – R, bao gồm: khó thở, cảm giác ngột ngạt, chóng mặt, cảm giác không
vững hoặc ngất, hồi hộp,, run hoặc lắc lư, vã mồ hôi, ngạt thở, buồn nôn hoặc khó
thở ở bụng [3], [9], [13].
1.3.2.2. Trầm cảm
* Đặc điểm của trầm cảm.
Trầm cảm là một bệnh thuộc não bộ trong đó có sự mất cân bằng của chất dẫn
truyền thần kinh gây ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh. Theo ICD – 10 [12] một
giai đoạn trầm cảm điển hình gồm các triệu chứng chính như khí sắc trầm, mất
hứng thú, giảm năng lượng dẫn tới mệt mỏi và giảm sự hoạt động. Các triệu chứng
phổ biến khác như là cảm giác tội lỗi, tuyệt vọng, thay đổi khẩu vị, rối loạn giấc
ngủ, khó tập trung và hầu hết có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát [14].
Để chẩn đoán xác định trầm cảm cần phải có tối thiểu 2 trong số các triệu
chứng chính cộng thêm 2 trong số các triệu chứng phổ biến khác. Phải có ít nhất 2
tuần để làm chẩn đoán, cũng có thể ngắn hơn nếu các triệu chứng nặng bất thường
và khởi phát nhanh.
Trầm cảm thường không được nhận thấy, và điều này đặc biệt xảy ra ở những
bệnh nhân già. Người già thường kể cho bác sỹ về những triệu chứng trên cơ thể họ
nhưng hiếm khi sự tuyệt vọng và chán nản được đề cập đến. Có rất nhiều sự việc
trong cuộc sống có thể góp phần gây ra bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, bệnh trầm cảm ở
người già thường do bệnh mạn tính.
Trầm cảm gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội,
nhiều trường hợp dẫn đến hành vi nguy hiểm cho bản thân như tự sát. Theo một số
nghiên cứu ở Mỹ hành vi tự sát xảy ra 60 – 70% trường hợp mắc bệnh trầm cảm ở
độ tuổi trên 75 [14].

12

(8) Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý hoặc khả năng quyết định
(9) Những suy nghĩ về cái chết hoặc ý tưởng tự sát.
1.3.3. Các thang đánh giá trầm cảm và lo âu
Có nhiều thang đánh giá trầm cảm đang được sử dụng như thang phát hiện
trầm cảm Beck, thang đánh giá trầm cảm của Hamilton, thang đánh giá trầm cảm
của Raskin, thang đánh giá trầm cảm Montgomery Asberge (MADRS). Trong số
này có hai thang thông dụng thường được sử dụng ở Việt Nam là thang Beck và
Hamilton

13


Thang điểm đánh giá lo âu của Zung: do Zung W.K ( Mỹ) đề xuất năm 1980.
Test này được coi là tiêu chuẩn để đánh giá lo âu, lấy thông tin trực tiếp từ người
bệnh là một test khách quan định lượng hóa và chuẩn hóa, sử dụng nhanh, được Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu.
Thang Beck và thang Zung sẽ được đề cập chi tiết trong phần Đối tượng và
Phương pháp nghiên cứu.

14

Thang Long University Library


Chng 2
I TNG V PHNG PHP NGHIấN CU

2.1. i tng nghiờn cu.
i tng nghiờn cu ca chỳng tụi l nhng bnh nhõn c chn oỏn l
bnh ng mch chi di vo iu tr ni trỳ ti Vin Tim mch Bnh vin Bch

một mục lớn thì chỉ lấy kết quả ở mục nhỏ có mức độ cao nhất.
KÕt qu¶ ®-îc ph©n tÝch theo møc ®é:
x Nếu ≤ 13 điểm

: Không có trầm cảm.

x Nếu 14 - 19 điểm : Trầm cảm mức độ nhẹ.
x Nếu 20-29 điểm : Trầm cảm mức độ vừa.
x Nếu ≥ 30điểm

: Trầm cảm mức độ nặng.

* Thang điểm đánh giá lo âu Zung (SAS)
Thang đánh giá lo âu Zung (SAS) bao gồm 20 câu hỏi, mỗi câu được tính điểm
từ 1-4 (không có, đôi lúc, phần lớn thời gian, hầu hết hoặc tất cả thời gian). Có 15 câu
mô tả mức độ lo âu tăng và 5 câu mô tả mức độ lo âu giảm. Thời gian đánh giá triệu
chứng xuất hiện trong 1 tuần trở lại đây. Các mức điểm của SAS thể hiện sự xuất hiện
và mức độ nặng của lo âu: (20-80 điểm).
Kết quả được đánh giá theo 2 mức:
x Nếu < 50%: không có lo âu bệnh lý.
x Nếu ≥ 50%: có lo âu bệnh lý.
2.3. Địa điểm nghiên cứu tại
Viện Tim mạch quốc gia – Bệnh viện Bạch mai.
2.3.1. Xử lý số liệu.
Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê
SPSS 16.0.
* Các số liệu được thể hiện dưới 2 dạng:
x Biến số: trung bình x độ lệch chuẩn.
x Biến logic: phần trăm (%).
Sử dụng phép so sánh và các test kiểm định phù hợp để kiểm định sự khác biệt giữa

Tỷ lệ Nam/nữ

Nghề nghiệp

Trình độ văn hóa

2,1 / 1
Lao động chân tay

20 (40%)

Lao động trí óc

21 (42%)

Nghề nghiệp khác

9 (18%)

TĐVH thấp

21 (42%)

TĐVH cao

29 (58%)

Độc thân
Tình trạng hôn nhân


Biểu đồ 3.1: Đặc điểm phân bố về giới trong nhóm BN nghiên cứu
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng
3.1.2.1. Phân độ biểu hiện lâm sàng theo phân loại Leriche - Fontaine.
Trong số BN nghiên cứu, không BN nào có biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn I,
tất cả các BN đều có biểu hiện ở giai đoạn IIa trở lên (IIa – 10 BN, IIb – 11 BN , III
– 10 BN và IV – 19 BN).

38
40
35
30

22

20

25

20

% 20
15
10
5
0

Gđ IIa

Gđ IIb



Hai chân

4

8

Có 38% BN đến viện với triệu chứng đau chân phải; 54% BN với biểu hiện
đau chân trái. Như vậy, tỷ lệ BN biểu hiện đau chỉ ở một bên chân là 92%, trong khi
số BN có biểu hiện đau cả hai chân là 8%.
3.1.3. Đặc điểm về phương thức điều trị.
Bảng 3.3: Đặc điểm phương thức điều trị
Phương thức điều trị

n

%

Nội khoa

29

58

PT bắc cầu/ lấy HK

4

8



PT bắc cầu/ lấy HK
10

8

5
0

Nội khoa

Can thiệp
mạch máu

Cắt cụt chi

PT bắc cầu/
lấy HK

Biểu đồ 3.3: Đặc điểm về phương thức điều trị trong nhóm BN nghiên cứu

19


3.1.4. Đặc điểm về các yếu tố nguy cơ tim mạch
Bảng 3.4: Đặc điểm về các yếu tố nguy cơ tim mạch
Yếu tố nguy cơ

n (%)



32

30

% 30

20

20
10
0
Hút thuốc lá,
thuốc lào

Uống rượu

THA

ĐTĐ

Biểu đồ 3.4: Đặc điểm về các yếu tố nguy cơ trong nhóm BN nghiên cứu

20

Thang Long University Library


3.2. Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và lo âu ở BN bệnh ĐMCDMT
3.2.1. Tỷ lệ biểu hiện chung.

39

78

18

36

11

22

11

22

0

0

50

100

50

100

Nhẹ
Bất thường


21


Trầm cảm và lo âu
Lo âu
Trầm cảm
15%

38%

47%

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ giữa các rối loạn tâm lý ở BN bệnh ĐMCDMT
3.2.2. Tỷ lệ biểu hiện theo giới
Bảng 3.6: Tỷ lệ BN bệnh ĐMCDMT biểu hiện trầm cảm theo giới.
Nam

Biểu hiện

Trầm cảm

Nữ

BN

%

BN


Tổng số

Bảng 3.7: Tỷ lệ BN bệnh ĐMCDMT biểu hiện lo âu theo giới.
Nam

Biểu hiện

Lo âu
Tổng số

Nữ

BN

%

BN

%



14

37,8

5

38,4



60
50

38.4

37.1

37.8

40
Nữ
30

Nam

20
10
0

Trầm cảm

Lo âu

Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và lo âu theo giới ở BN bệnh ĐMCDMT.
3.2.3. Tỷ lệ biểu hiện theo tuổi.
Bảng 3.8: Biểu hiện trầm cảm và lo âu ở BN bệnh ĐMCDMT theo tuổi.
Trầm cảm




13

61,9

5

45,5

17

43,6

≥ 60 tuổi

12

41,4

9

38,1

6

54,5

22

56,4


41.4

40
Trầm cảm
30

Lo âu

20
10
0

< 60 tuổi

≥ 60 tuổi

Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm và lo âu theo tuổi ở BN bệnh ĐMCDMT
3.3. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở BN bệnh ĐMCDMT.
3.3.1. Trình độ văn hóa
Chúng tôi chia thành:
x Trình độ văn hóa (TĐVH) thấp gồm: mù chữ, cấp 1-2.
x Trình độ văn hóa cao gồm: cấp 3, đại học, sau đại học
Bảng 3.9: Liên quan giữa trình độ văn hóa với tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở BN bệnh
ĐMCDMT.
Trầm cảm


Biểu hiện



47,6

7

63,6

14

35,9

TĐVH cao

15

51,7

11

52,4

4

36,4

25

64,1

Tổng


50
36.4
TĐVH cao

40

TĐVH thấp

30
20
10
0

Trầm cảm

Lo âu

Biểu đồ 3.9: Liên quan giữa TĐVH với tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở BN bệnh
ĐMCDMT
3.3.2. Yếu tố nghề nghiệp
Bảng 3.10: Liên quan giữa nghề nghiệp với tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở BN bệnh
ĐMCDMT.
Trầm cảm
Biểu hiện

Lo âu




47,6

7

63,6

18

46,2

LĐ trí óc

14

48,3

7

33,3

3

27,3

20

51,3

LĐ khác


x Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status