TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
NGƯỜI THỰC HIỆN:
CHU THỊ NGUYÊN
MÃ HỌC VIÊN:
11122859
LỚP:
KẾ HOẠCH 54A
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths.LÊ HUỲNH MAI
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình dưới sự hướng dẫn của
giảng viên Th.S Lê Huỳnh Mai và TS. Nguyễn Minh Châu (vụ Tài chính tiền tệ- Bộ
kế hoạch đầu tư) , không có sự sao chép nguyên bản từ bất cứ luận văn hay chuyên đề
nghiên cứu nào khác. Các số liệu trung thực, những kết luận trong chuyên đề chưa
được công bố ở bất kỳ tài liệu nào.
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định của khoa tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
5
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KT-XH
ĐTPT
TSCĐ
KHCN
NSNN
NSTW
NSĐP
VĐT
KTNN
GTVT
TW
Kinh tế - Xã hội
Đầu tư phát triển
Tài sản cố định
Khoa học công nghệ
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương
Vốn đầu tư
14,5% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. . Quy mô vốn đầu tư từ NSNN dành cho
phát triển tăng theo thời gian, tuy nhiên xét về tỷ trọng có xu hướng giảm dần, chưa
hiệu quả và ổn định. Tổng thể đến năm 2014 có hơn 39.173 dự án sử dụng 30% vốn
NSNN trở lên có 7,32% số dự án là chậm tiến độ thực hiện trong kỳ gây thiệt hại lớn
về mặt kinh tế- xã hội, lãng phí tài nguyên. (Báo cáo công tác giám sát, đánh giá tổng
thể đầu tư cả nước năm 2014của Bộ KHĐT).
Tuy nhiên, hiệu quả ĐTPT từ nguồn vốn NSNN còn thấp, chưa đáp ứng được
yêu cầu chuyển đổi kinh tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, đẩy nhanh CNHHĐH. Vốn NSNN đầu tư còn dàn trải dẫn đến còn tồn tại các dự án hoàn thành chậ m
tiến độ như Đại lộ Thăng Long- Hà Nội bị đội vốn lớn, dự án đường nối cầu Nhật Tân
– Nội Bài, dự án vành đai III Hà Nội. Khi hoàn thành chất lượng một số công trình
không đạt hiệu quả, đường ống Sông Đà thường xuyên xảy ra tình trạng vỡ, hiệu quả
8
của Nhà máy lọc dầu Dung Quất không cao. Có thể thấy ảnh hưởng của các dự án đến
phát triển kinh tế xã hội là rất cao mang tính chiến lược lâu dài khi được sử dụng hiệu
quả, mà các dự án lớn trọng điểm chủ yếu là sử dụng vốn NSNN. Nâng cao hiệu quả
ĐTPT từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam là một nhu cầu cấp thiết vừa có tính thời sự
vừa có ý nghĩa thực tiễn đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu cập nhât. Từ đó
tôi lựa chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư
phát triển ở Việt Nam”.
2.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN tới ĐTPT ở Việt Nam trong giai
đoạn 2011-2015 từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vồn NSNN cho ĐTPT ở Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020
5. Kết cấu chuyên đề
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn NSNN và và vai trò vốn đầu tư phát
triển thuộc nguồn vốn NSNN
Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn NSNN trong đầu tư phát triển ở Việt Nam giai
đoạn 2011-2015
Chương 3: Một số giải pháp khuyển nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN
trong đầu tư phát triển của Việt Nam.
10
1.1.1.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.2.
Cơ sở lý luận về đầu tư và đầu tư phát triển
1.2.1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển
1.2.1.1. Đầu tư
Trên quan điểm của các nhà kinh tế thì đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn
lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết
quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Mục đích của hoạt động đầu tư là thu được cái gì đó lớn hơn những gì mình bỏ ra.
Hoạt động đầu tư làm gia tăng của cải của nền kinh tế.
Xét trên góc độ tiêu dùng thì đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để
thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai, còn trên góc độ tài chính đầu tư là
một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm
hoàn vốn và sinh lời.
động và trí tuệ. Hoạt động đầu tư mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và đem lại lợi ích cho
nền kinh tế- xã hội nói chung. Đầu tư được tiến hành trong hiện tại và kết quả của nó
được thu về trong tương lai. Đầu tư phát triển luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn và nằm
đọng trong suốt quá trình đầu tư, vòng quay vốn rất dài, chi phí sử dụng vốn lớn.
Theo định nghĩa Luật NSNN thì chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của
NSNN, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và các nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định
của phát luật.
1.2.2. Nội dung của đầu tư phát triển
Theo cách tiếp cận dựa vào lĩnh vực phát huy tác dụng của đầu tư phát triển đầu
tư phát triển bao gồm: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chung
của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hóa giáo dục, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật,
đầu tư phát triển khác.
Theo các tiếp cận dựa vào quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, đầu tư phát
triển bao gồm đầu tư cho hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tưu trong quá trình thực hiện
đầu tư, đầu tư trong quá trình vận hành.
Ở đây ta chọn các tiếp cận đầu tư phát triển dựa theo khái niệm đầu tư phát triển
bao gồm các tài sản vật chất và đầu tư phát triển các tài sản vô hình. Đầu tư phát triển
các tài sản vật chất gồm: đầu tư phát triển xây dựng cơ bản và đầu tư vào hàng dự trữ.
Đầu tư phát triển tài sản bô hình gồm đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu
tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học kỹ thuật. Đầu tư phát triển ưu tiên chủ
yếu vào các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là các dự án thuộc lĩnh vực: đầu tư các
12
công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đường giao thông, hạ tầng đô thị, các công
trình cho giáo dục – văn hóa, đầu tư các dự án sự nghiệp kinh tế, là nền tảng thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển lâu dài
1.2.3. Đặc điểm của đầu tư phát triển
Bất kỳ nền kinh tế nào thì đầu tư phát triển cũng mang những đặc điểm cơ bản
Đầu tư phát triển sử dụng vốn có tính tích lũy, không để tiêu dùng hiện tại mà
có tác dụng tăng trưởng kinh tế, là các khoản chi không mang tính phí tổn, có khả năng
hoàn lại vốn. Vai trò của đầu tư thể hiện ở nhiều mặt trên toàn bộ nền kinh tế. Hoạt
động đầu tư sử dụng vốn để phục hồi năng lực sản xuất và tạo ra năng lực sản xuất
mới, là quá trình chuyển hóa vốn thành các tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất.
Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị lớn lao về kinh tế- văn hóa- xã hội
cả về không gian.
Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế.
Khi có sự thay đổi của đầu tư, tổng cung chưa kịp thay đổi nên đầu tư là m tổng cầu
tăng, tác động của đầu tư đến tổng cầu là ngắn hạn. Đối với tổng cung tác động của đầu
tư là dài hạn, khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng tức là vốn đầu tư lúc này
chuyển hóa thành vốn sản xuất, đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung
dài hạn tăng lên.
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế, sự tác động không đồng thời
về mặt thời gian đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế dẫn đến mỗi sự thay đổi
dù tăng hay giảm của đầu tư đều là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự
ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia. Khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố đầu tư
tăng làm cho giá cả chúng leo thang theo dẫn đến tình trạng làm phát. Lạm phát làm
cho sản xuất đình trệ, thu nhập của người lao động ngày càng thấp, kinh tế phát triển
chậm lại. Ở một khía cạnh khác tăng đầu tư làm cho nhu cầu của các yếu tố có liên
quan tăng, từ đó kích thích sản xuất phát triển, mở rộng quy mô thu hút thêm lao động
giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động. Vì vậy trong quá
trình quản lý và điều hành hoạt động kinh tế vĩ mô, các nhà hoạch định hoạch định
chính sách ra các quyết định để hạn chế các tác động tiêu cực, phát huy được khía cạnh
tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
Đầu tư ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng tỷ lệ thuận với mức gia tăng vốn đầu tư, khi đầu tư tăng sẽ làm tăng GDP.
Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư là động lực cơ bản
của phát triển kinh tế. Theo Harrod- Domar chính đầu tư phát sinh ra lợi nhuận và làm
1.3.
Khái quát chung về vốn NSNN và hiệu quả đầu tư phát triển sử dụng vốn
NSNN
1.3.1. Khái niệm, phân loại vốn NSNN
Theo điều 1 Luật NSNN, NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong vòng 1 năm nhằm
đảm bả0 cho việc thực hiện các chức nước của nhà nước. Nguồn vốn NSNN nói chung
được tập hợp từ các nguồn như: vốn ngân sách Trung ương đầu tư qua các Bô, ngành
trên địa bàn, vốn NSTW cân đối hoặc ủy quyền qua địa phương, vốn ngân sách từ các
nguồn thu của địa phương được giữ lại và vốn ngân sách sự nghiệp có tính chất cơ
15
bản.Khái quát hơn, Nguồn vốn NSNN chủ yếu từ nguồn thu của NSNN thông qua việc
thu thuế, bán tài nguyên, thu phí, lệ phí, kết quả hoạt động của các công ty nhà nước…
Nguồn vốn NSNN chính là nguồn chi của NSNN cho đầu tư trong chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội của quốc gia.
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã
hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước.Vai trò của NSNN luôn gắn liền với
vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường,
NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản
xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.
Xét trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn
đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó nguồn vốn đầu tư trong
nước bao gồm hai nguồn vốn chính là nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn dân cư, tư
nhân. Nguồn vốn NSNN là bộ phận quan trọng. Vốn NSNN là nguồn vốn mà Nhà
nước bỏ ra cho các công cuộc, dự án đầu tư. Chi cho các địa phương để tiến hành hoạt
động của mình trong đó có hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng.
Vốn đầu tư nguồn NSNN bao gồm vốn đầu tư của ngân sách trung ương cho Bộ, ngành
động đến mọi chủ thể kinh tế-xã hội, bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội,
các khoản chi đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước,
các khoản chi trả nợ của Nhà nước, các khoản chi dự trữ Nhà nước, các khoản chi viện
trợ và các khoảng chi khác theo quy định của pháp luật.
Nội dung các hoạt động đầu tư phát triển sử dụng vốn NSNN là các dự án thuộc
lĩnh vực:
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, đường giao
thông, hạ tầng đô thị, các công trình cho giáo dục- văn hóa xã hội, quản lý nhà nước
- Đầu tư các dự án sự nghiệp kinh tế về giao thông, duy tu sửa chữa cầu đường;
sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, duy tu bảo dưỡng các tuyến đê, kênh mương; các
công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng, duy tu hệ thống đèn chiếu sang vỉa hè, hệ thống cấp
thoát nước; các dự án điều tra cơ bản.
- Đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần liên doanh
vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết. Khơi dậy, hỗ trợ một phần các
nguồn khác còn tiềm tàng đặc biệt là vốn trong dân cư
1.3.2. Hiệu quả sử dụng vốn NSNN
1.3.2.1. Khái niệm hiệu quả đầu tư phát triển sử dụng vốn NSNN
Vốn đầu tư chính là yếu tố quyết đinh tính chất qui mô của dự án, là yếu tố
không thể thiếu của các công ty đầu tư. Trong nền kinh tế phát triển vai trò của vốn đầu
tư là tối quan trọng, góp phần tạo sự phát triển mạnh cho nền kinh tế. Dưới hình thái
17
tiền tệ, vốn đầu tư là khoản tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng
trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì các tiềm lực có sẵn và tạo ra những
tiềm lực mới cho nền kinh tế.
Dưới hình thái vật chất, vốn đầu tư bao gồm các loại máy móc thiết bị, nhà
xưởng, các công trình hạ tầng cơ sở, các loại nguyên liệu, vật liệu, các sản phẩm trung
Hiệu quả xã hội là chênh lệch giữa các lợi ích mà xã hội thu nhận được và chi
phí nguồn lực mà xã hội phải bỏ ra để đầu tư. Hiệu quả xã hội của ĐTPT là tổng thể
các yếu tố lợi ích về xã hội do thực hiện công việc ĐTPT mang lại. Hiệu quả xã hội
của ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là chênh lệch giữa các nguồn lực mà Nhà nước bỏ ra
để ĐTPT với kết quả do ĐTPT từ NSNN mang lại cho xã hội.
Hiệu quả về mặt môi trường của ĐTPT là song song với việc tăng cường, phát
triển mạnh ĐTPT nhưng đảm bảo hài hòa giữa phát triển KTXH và đảm bảo môi
trường.
Hiệu quả của ĐTPT về phát triển bền vững là việc ĐTPT đưa lại sự tăng trưởng,
phát triển kinh tế, xã hội cùng với việc đảm bảo môi trường và phát triển phải bền
vững.
1.3.2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế- xã
hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát
triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đàu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài
hòa giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủ động sang tạo của chủ đầu tư, vai trò của
nhà nước, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.Việc lựa chọn các
chỉ tiêu đánh giá đánh giá hiệu quả ĐTPT phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, có
thể chia ra thành các chỉ tiêu đánh giá định tính và đánh giá định lượng, cả tầm mức vĩ
mô và vi mô.
Chỉ tiêu định lượng bao gồm:
- Sự đóng góp của vốn đầu tư từ NSNN vào GDP khu vực kinh tế nhà nước
Hệ số ∆a/∆b với a là tổng vốn đầu tư từ NSNN và b là GDP khu vực kinh tế nhà
nước, nếu ∆a/∆b càng nhỏ thì hiệu quả ĐTPT càng lớn. kết hợp với tỷ lệ ∆g/∆h với g
và h lần lượt là giá trị vốn đầu tư xã hội và GDP toàn xã hội. Hệ số này càng nhỏ thì
hiệu quả ĐTPT càng lớn và ngược lại.
Đồng thời, để có sự so sánh toàn diện hơn về hiệu quả đầu tư, tỷ lệ ∆g/∆h (∑)
được ứng dụng vào nghiên cứu này. Tỷ lệ này càng nhỏ chứng tỏ đầu tư toàn xã hội
ngày càng có hiệu quả (g và h lần lượt là giá trị vốn đầu tư toàn xã hội và GDP toàn xã
hội). Tỷ lệ càng nhỏ chứng tỏ đầu tư toàn xã hội ngày càng có hiệu quả và ngược lại.
trị TSCĐ tăng thêm, số km đường, số nhà máy nước, điện, số m2 nhà tăng thêm
- Để tính hiệu quả VĐT tăng thêm có thể dùng công thức hệ số thực hiện VĐT được
đưa vào sử dụng. Hệ số được tính theo công thức:
Hu=FA/I
Trong đó Hu là hệ số thực hiện vốn đầu tư
FA giá trị tài sản có định được đưa vào sử dụng trong kỳ
I tổng vốn đầu tư trong kỳ
20
Hệ số thực hiện vốn đầu tư là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư rất quan trọng,
nó phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng vốn đầu tư bỏ ra với các tài sản cố định (kết
quả của vốn đầu tư) được đưa vào sử dụng.
Hệ số vốn đầu tư càng lớn, biểu hiện hiệu quả vốn đầu tư càng cao
Mức độ huy động tài sản cố định so với vốn thực hiện còn tồn đọng trong kỳ
Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án:
Bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số lao động có việc làm ở các
dự án khác được thực hiện do đòi hỏi của dự án đang được xem xết. Trong khi tạo việc
làm cho một số lao động, thì sự hoạt động của dự án mới cũng có thể làm cho một số
lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh khác bị mất việc do các cơ sở này không
cạnh tranh nổi với sản phẩm của dự án mà phả thu hẹp sản suất. Số lao động của đất
nước có việc làm từ việc sẽ chỉ bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp phục
vụ cho dự án trừ đi số lao động mất việc ở các cơ sở có liên quan và số người nước
ngoài làm việc cho dự án.
- Hệ số trang bị TSCĐ cho lao động
Hệ số trang bị tài sản cố định cho lao động (H L) được xác định bằng tỷ số giữa giá trị
bình quân của tài sản cố định trong kỳ (FA) và số lượng lao động sử dụng bình quân
trong kỳ (L) được tính theo công thức.
HL = FA/L
quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của
chính sách kinh tế nói chung. ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu phụ
thuộc vào việc tận dụng năng lực sản xuất.
Trong thực tế, ảnh hưởng của đầu tư tới khía cạnh xã hội không chỉ do tác động
của vốn đầu tư từ NSNN. Tuy vậy, một trong những mục tiêu và cũng là một thành
phần trong chi NSNN là chi cho đầu tư phát triển, đầu tư cho các vùng khó khăn phát
triển. Lợi ích của VĐT mang lại cả về lợi ích kinh tế lẫn lợi ích xã hội. biểu hiện của
lợi ích kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức song làm thay đổi cơ cấu và
thúc đẩy nền kinh tế phát triển, biểu hiện về lợi ích chính trị, quốc phòng, an ninh
chính trị trật tự an toàn xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường sự bình đẳng và quyền
lợi của quốc gia.
22
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt
động của các công cuộc đầu tư bao gồm: các công tác cho chi phí xây lắp, chi phí cho
công tác mua sắm trang thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán
và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: là công trình
hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập
(làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc tién hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội đã được
ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục
nghiệm thu sử dụng có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Giảm nghèo là một trong những mục tiêu ưu tiên của đầu tư phát triển ở nước
ta. ĐTPT có hiệu quả thể hiện ở việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, giảm số người nghèo đói,
khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Để đo lường sự tác động của đầu tư
vào giảm đói nghèo cần xem xét mối quan hệ tương quan giữa tốc độ tăng trưởng vốn
đầu tư và tốc độ giảm tỷ lệ đói nghèo. Xét hệ số giữa vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ hộ
nghèo cả nước để đánh giá tác động riêng của vốn đầu tư nhà nước lên giảm nghèo. Để
sống. Điều kiện tự nhiên thuận lợi lâm tăng nhanh tốc độ thực hiện dự án, tốc độ đưa
sản phẩm đầu tư đến người tiêu dùng sản phẩm đầu tư góp phần tạo ra hiệu quả đầu tư
tốt. Đây là các yếu tố khách quan, không lường trước được, có thể xảy ra đối với các
địa phương.
Nhóm yếu tố về nguồn lực
Bao gồm yếu tố về năng lực chủ đầu tư và trình độ các nhà quản lý. Công tác
quy hoạch và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý
hoạt động đầu tư. Để nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT phát triển thì công tác quy hoạch
đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế. Mục đích của đầu tư là cơ sở thúc
đẩy kinh tế phát triển, định hướng lâu dài của nhà nước. Công tác quy hoạch và kế
hoạc đảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và có tính liên tực như vậy hiệu quả sử dụng
vốn được nâng cao, thực hành tiết kiệm chống thất thoát lãng phí, ngược lại sẽ làm nền
kinh tế phát triển thiếu tính bền vững, không có mục đích rõ rệt, không xuất phát từ
nhu cầu phát triển kinh tế.
Trình độ quản lý và sử dụng vốn của cán bộ quản lý là nhaanh tố ảnh hưởng
quan trọng đến sử dụng hiệu quả vốn đầu tư. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của
các nhà quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát, lãng phí VĐT.
Năng lực chuyên môn của các cơ quan tư vấn về đầu tư bất cập, chất lượng không đạt
yêu cầu dẫn đến tiến độ thưc hiện chậm, hiệu quả còn thấp hoặc phải phên duyệt lại dự
án, thiết kế, dự toán. Công tác thẩm định, thiết kế, dự toán và vai trò trách nhiệm của
24
các cấp các ngành, sự phối hợp đồng bộ cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ thực hiện và
hiệu quả của dự án.
Nhóm yếu tố về chính sách và nhóm yếu tế về điều kiện tự nhiên tác động đến
hiệu quả đầu tư thường mang tính khách quan. Nhóm yếu tố về năng lực của chủ đầu
tư, năng lực của chủ quản chủ đầu tư thường mang tính chất chủ quan. Năng lực của
chủ đầu tư góp tốt sẽ đẩy nhanh tốc độ hoàn thành dự án đúng thời hạn, chất lượng
ĐTPT từ NSNN thường hướng đến những công trình dự án quan tâm đến hiệu
quả xã hội nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Nói cách khác mục đích của các dự án ĐTPT
từ nguồn vốn NSNN hướng đến tối đa hoá phúc lợi xã hội nhiều hơn là đến tối đa hoá
lợi ích kinh tế.
- ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường nhằm khắc
phục yếu kém, khuyết tật và sự thất bại của thị trường.
- Chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn
định, chi theo ngân sách hàng năm, bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhiệm kỳ nên dễ xảy ra
dân trải, manh mún, nợ công, quyết định đầu tư vội vàng, đầu tư sai, đầu tư hình thức,
đầu tư theo phong trào, thiếu hiệu quả đích thực.
- Chi ĐTPT từ nguồn vốn NSNN mang tính chất chi cho tích luỹ. Phạm vi và mức độ
chi luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển KT- XH của Nhà
nước trong từng thời kỳ.
Thông thường giai đoạn đầu cơ chế thị trường Chính phủ tập trung ưu tiên cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội khó có khả năng hoàn vốn hoặc tư nhân không muốn đầu tư, như
đường sá, cầu cống, bến cảng sân bay, trường học, cơ sở y tế hiện đại, công trình văn
hóa,, Việc tăng chi cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và mở đường thu hút các thành phần
kinh tế cùng đầu tư. Ở một số công trình Nhà nước tham gia như một cổ đông bình
đẳng như các nhà đầu tư khác, tạo ra cú huých đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Trong
trường hợp tốc độ tăng trưởng chậm, thoogn qua công cụ chi ngân sách có thể kích
thích đầu tư, kích cầu tiêu dùng bằng cách ưu tiên ngân sách đầu tư cho các công trình
thuộc dự án phê duyệt từ nguồn NSNN, từ đó tác động đến tăng trưởng. Còn khi nền
kinh tế phát triển nóng thì chi ngân sách cùng với các công cụ khác như chính sách
tiền tệ được sử dụng thắt chặt chi tiêu, giảm chi ngân sách cho đầu tư, cho tiêu dùng.
1.4.3. Vai trò của vốn NSNN tới đầu tư phát triển
Nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là cạnh tranh và hiệu quả. Một mặt
kinh tế thị trường khuyến khích cạnh tranh tự do của hãng tư nhân vì mực tiêu lợi
nhuận và đó là động lực thúc đẩy tăng trưởng. Chi ngân sách nhà nước là việc Nhà
nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự
hoạt động và thực hiện chức năng của nhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế