1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại trực tràng là bệnh phổ biến trên thế giới, gặp nhiều ở các
nước phát triển và có xu hướng ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam ,,. Trên thế giới, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ tư ở nam,
thứ ba ở nữ. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ tư ở nam, thứ
năm ở nữ và đứng hàng thứ ba trong các ung thư tiêu hóa .
Ung thư đại trực tràng là bệnh tiến triển chậm, triệu chứng ban đầu
thường nghèo nàn, không điển hình làm cho chính bản thân bệnh nhân và thầy
thuốc dễ bỏ qua hoặc nhầm với các bệnh khác,. Trên thực tế, nhiều bệnh nhân
đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, có di căn tới các cơ quan khác.
Trong các di căn của UTĐTT thì di căn phúc mạc là một trong hai di căn
thường gặp nhất cùng với di căn gan và được xếp vào giai đoạn muộn của
UTĐTT,,,. Di căn phúc mạc là một tiến triển tự nhiên của UTĐTT trong quá
trình tiến triển của bệnh, nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng
phương pháp, thậm chí ngay cả khi đã điều trị đúng phương pháp, đủ liệu
trình . Thực tế lâm sàng, mặc dù đã có nhiều phương pháp mới, hiện đại để
sàng lọc, phát hiện sớm UTĐTT nhưng việc phát hiện sớm di căn phúc mạc
của UTĐTT vẫn là một thách thức lớn đối với các bác sỹ lâm sàng vì các
trường hợp UTĐTT có di căn phúc mạc thường không có triệu chứng chỉ
điểm đặc trưng. Phần lớn các trường hợp được phát hiện vô tình khi siêu âm,
chụp CLVT, chụp MRI... hoặc khi phẫu thuật điều trị UTĐTT mới phát hiện
được di căn phúc mạc.
Bệnh nhân mắc UTĐTT di căn phúc mạc thường tới viện trong tình
trạng suy kiệt, thiếu máu . Do đó, điều trị cho các bệnh nhân này thường gặp
nhiều khó khăn. Thời gian sống thêm của các bệnh nhân bị UTĐTT thường
không kéo dài. Theo các nghiên cứu trên thế giới, thời gian sống thêm trung
.
Đánh giá kết quả điều trị của nhóm bệnh nhân trên.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1.Dịch tể học
UTĐTT đứng hàng thứ tư ở nam và thứ ba ở nữ trong số mười ung thư
phổ biến nhất được chẩn đoán. Trên toàn cầu, có hơn 1.100.000 ca mới mắc
và 600.000 ca tử vong do UTĐTT được báo cáo trong năm 2007.
Trong nghiên cứu “Tình hình ung thư ở Việt Nam giai đoạn 2001 2004” thực hiện tại một số tỉnh thành lớn trong cả nước được công bố tại Hội
thảo ung thư quốc gia tại Huế năm 2006 cho thấy UTĐTT đứng hàng thứ tư ở
nam, thứ năm ở nữ và đứng hàng thứ ba trong các ung thư tiêu hóa. Tỷ lệ mắc
chuẩn theo tuổi của UTĐTT tại Hà Nội là: 13,9/100.000 dân ở nam cao hơn
so với 10,1/100.000 dân ở nữ.
Ghi nhận ung thư tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 cho thấy:
UTĐTT đứng hàng thứ tư ở nam và thứ năm ở nữ trong 10 ung thư thường
gặp với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam cao hơn nữ, 16,2/100.000 dân so với
9,0/100.000 dân. Tỷ lệ này có xu hướng gia tăng ở cả hai giới kể từ năm 1997
đến 2003 .
1.2. Đặc điểm giải phẫu đại trực tràng và phúc mạc .
Đại trực tràng là phần cuối cùng của ống tiêu hóa dài khoảng 165 cm,
trong đó trực tràng dài khoảng 12 - 15 cm.
1.2.1. Đại tràng
Đại tràng dài trung bình khoảng 150 cm, được sắp xếp như một chữ U
ngược, quây lấy tiểu tràng, bao gồm: manh tràng và ruột thừa, đại tràng lên
hay đại tràng phải,đại tràng góc gan hay góc phải, đại tràng ngang, đại tràng
góc lách hay góc trái, đại tràng xuống hay đại tràng trái, đại tràng chậu hông
sigma và phân ra hai nhánh cùng là các động mạnh trực tràng trên: một nhánh
đi đến mặt phải, một nhánh đi tới mặt trái trực tràng.
5
Hai nhánh của động mạch đại tràng giữa và động mạch đại tràng trái
nối với nhau trong mạc treo đại tràng ngang tạo thành cung mạch Rioland.
Tất cả các nhánh động mạch nuôi đại tràng, khi tới gần bờ ruột đều chia ra các
nhánh lên và nhánh xuống nối với nhau tạo thành cung dọc bờ đại tràng gọi là
cung viền. Từ cung viền lại có vô số các mao mạch nhỏ chia nhánh ôm lấy hai
mặt: mặt trước và mặt sau của đại tràng.
- Tĩnh mạch
Máu của toàn bộ đại tràng và phần trên của trực tràng được đổ vào hai
tĩnh mạch là: tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới.
Rồi cuối cùng đều được đổ vào tĩnh mạch cửa. Điều này phần nào giải thích
được tại sao UTĐTT khi di căn theo đường tĩnh mạch, thì cơ quan đầu tiên bị
di căn thường là gan.
1.2.1.3. Dẫn lưu bạch huyết của đại tràng
Các đường bạch huyết của đại tràng được phân chia thành hai hệ thống:
một ở thành đại tràng và một ở ngoài thành đại tràng. Các lưới mao mạch trên
thành đại tràng ở lớp cơ và lớp dưới thanh mạc đi từ bờ tự do đến bờ mạc treo
dọc các cung viền, tạo thành chuỗi hạch cạnh đại tràng. Từ đó bạch mạch đi
đến các hạch ở chỗ phân chia các nhánh động mạch được gọi là hạch trung
gian, rồi từ các hạch này các đường bạch huyết đi đến các hạch nằm cạnh
động mạch chủ bụng, nơi xuất phát của động mạch mạc treo tràng trên và
động mạch mạc treo tràng dưới gọi là hạch trung tâm.
6
cấp máu cho hậu môn và các cơ tròn. Khi chạy ngang khối mỡ của hố ngồi
trực tràng nó cũng cung cấp máu cho khối mỡ đó.
Trực tràng được nuôi dưỡng bởi một hệ thống mạch máu rất phong
phú, nên ít khi bị thiếu máu khi phẫu tích vùng này.
- Tĩnh mạch trực tràng:
Các tĩnh mạch trực tràng được bắt nguồn từ một hệ thống tĩnh mạch
đặc biệt, hợp thành một đám rối trong thành trực tràng. Đám rối này rất phát
triển ở phần dưới trực tràng ngay trên van hậu môn. Toàn bộ máu của tĩnh
mạch trực tràng được đổ về hai hệ thống: hệ thống tĩnh mạch cửa bởi tĩnh
mạch trực tràng trên và hệ thống tĩnh mạch chủ bởi tĩnh mạch trực tràng giữa
và dưới.
1.2.2.3. Bạch huyết của trực tràng
Phần lớn bạch mạch trực tràng đổ về các chặng hạch dọc thân mạch
trực tràng trên. Một số bạch mạch ở đoạn giữa trực tràng đổ về nhóm hạch
dọc theo động mạch trực tràng giữa về hạch chậu. Đoạn trực tràng thấp và
8
ống hậu môn, bạch mạch đổ theo nhóm hạch dọc động mạch cùng, vùng đáy
chậu đổ vào nhánh bẹn nông.
1.2.3. Phúc mạc
1.2.3.1. Ổ phúc mạc
Nằm trong ổ bụng được giới hạn bởi lá thành phúc mạc. Do vậy những
tạng nằm trong lá thành được gọi là tạng trong ổ phúc mạc. Xử lý vết thương
ngoài ổ phúc mạc và trong ổ phúc mạc khác nhau (trong ổ phúc mạc cần được
xử lý ngay).
1.2.3.2. Lá phúc mạc là một màng liên tục gồm 2 phần
- Phúc mạc thành là phúc mạc lót mặt trong thành bụng
- Phúc mạc tạng là phúc mạc bao bọc ngoài các tạng
10
- Nếp là nơi phúc mạc bị đội lên đẩy lùi vào trong ổ phúc mạc bởi 1 tổ
chức hay 1 mạch máu nổi lên trong ổ bụng. VD: Nếp tá tràng trên, nếp tá
tràng dưới, nếp rốn trong, nếp rốn ngoài, nếp vị tuỵ
1.2.3.4. Cấu tạo và chức năng của phúc mạc
* Cấu tạo
- Phúc mạc cấu tạo bởi 2 lớp
+ Lớp thanh mạc là lớp tế bào thượng mô hình vẩy nằm ở bề mặt phúc
mạc, giúp phúc mạc trơn và óng ánh, tiết ra 1 lớp dịch mỏng làm cho bề mặt
phúc mạc trơn, trượt trên nhau dễ dàng. Do vậy khi lớp thượng mô này bị tổn
thương thì các tạng dễ bị dính với nhau và dính vào thành bụng.
+ Lớp trong (tấm dưới thanh mạc) là lớp mô sợi liên kết có độ đàn hồi
cao, dầy ở phúc mạc thành và mỏng ở phúc mạc tạng, mạc treo. Do đó có thể
khâu nối các tạng có phúc mạc che phủ dễ dàng so với các tạng ngoài phúc
mạc. VD: Khâu nối ruột non dễ hơn khâu nối thực quản.
- Mạch máu và thần kinh phúc mạc
+ Mạch máu: Phúc mạc không có mạch máu riêng biệt, chúng được
nuôi dưỡng bởi các nhánh thành bụng lân cận, mạch máu từ các tạng mà nó
bao bọc và mạng mạch máu dưới thanh mạc. Phúc mạc cũng có hệ thống bạch
mạch ở dưới thanh mạc và trong thanh mạc
+ Thần kinh: Chi phối gồm các nhánh thần kinh hoành; TKGS XI, XII;
các nhánh từ đám rối thắt lưng cùng. Phúc mạc thành rất nhạy cảm với cảm
giác đau còn phúc mạc tạng thì không
* Chức năng:
- Bao bọc các tạng, che chở cho các tạng và làm cho thành các tạng
vững chắc thêm.
- Đặc tính trơn bóng giúp các tạng di động dễ dàng trong ổ bụng và
thông với tiền đình ở bên phải, có 3 mặt (trước, sau, trái), 1 đáy dưới và 1 bờ
trên; thành trước là dạ dày ở trên và mạc nối lớn ở dưới; thành sau liên quan
12
với tuỵ và thận; thành trái là mạc nối vị - lách và mạc nối lách - tuỵ; đáy dưới
nằm trên ĐTN và mạc treo ĐTN; bờ trên: 2 lá PM tụm lại với nhau để dính
vào cơ hoành và tạo nên dây chằng treo đại tràng.
- Đường vào túi mạc nối:
+ Qua lỗ mạc nối: thăm cuống gan.
+ Làm sập phần mỏng mạc nối nhỏ để quan sát mặt sau dạ dày.
+ Rạch mạc nối lớn theo BCL dạ dày phía trên hay dưới vòng động
mạch vị - mạc nối (hay áp dụng).
+ Bóc mạc dính giữa mạc nối lớn và mạc treo ĐTN.
+ Làm 1 lỗ thủng ở mạc treo ĐTN để nối dạ dày với hỗng tràng.
1.3. Đặc điểm ung thư đại trực tràng
1.3.1. Yếu tố nguy cơ
- Yếu tố di truyền:
Một số bệnh lý di truyền có liên quan mật thiết đến ung thư đại - trực
tràng như: polyp đại – trực tràng, hội chứng Gardner, hội chứng Lynch, yếu tố
gia đình chiếm 5% trong ung thư đại - trực tràng.
Ngày nay, với sự tiến bộ của y học, cơ chế sinh bệnh ung thư đại - trực
tràng đang dần dần sáng tỏ qua cơ chế gen sinh ung thư, các nhà nghiên cứu
đã tìm được gen APC nằm ở nhiễm sắc thể 5 và gen p53 ở nhiễm sắc thể 17
khi bị đột biến sẽ sinh ra ung thư.
- Yếu tố môi trường đặc biệt là thực phẩm có vai trò rất quan trọng.
Những khảo cứu thực nghiệm cho thấy nổi bật là sử dụng thái quá mỡ động
vật và thiếu những thức ăn sợi.
Sự thoái biến những steroid mật và mỡ ở trong phân biến vi khuẩn kị
hiện khối u tương đối rõ.
1.3.2.2. Cận lâm sàng
Chẩn đoán UTĐT chủ yếu dựa vào cận lâm sàng
14
a. Chụp khung đại tràng cản quang
Chụp khung đại tràng có cản quang có thể phát hiện hình ảnh cắt cụt,
hình ảnh khuyết. Để phát hiện chính xác hơn, người ta áp dụng phương pháp
đối quang kép.
b. Soi đại tràng
Đây là một thăm dò giúp xác định chẩn đoán. Nội soi cho phép xác
định vị trí, hình ảnh đại thể của tổn thương. Nội soi còn cho phép sinh thiết tổ
chức u để xác định bản chất mô học. Nội soi còn giúp tìm kiếm một cách hệ
thống các polyp hoặc những thương tổn ung thư nằm rải rác (gặp trong 2-5%
trường hợp). Ngoài ra, trong tất cả các trường hợp có hình ảnh X quang nghi
ngờ thì cũng cần phải tiến hành nội soi đại tràng.
c. Siêu âm
Là hình ảnh có giá trị xác định được vị trí, kích thước, liên quan của khối
u, tình trạng dịch trong ổ bụng và di căn của ung thư đến các tạng khác trong
d. CT scan, chụp cộng hưởng từ (MRI)
Xác định vị trí, kích thước, mức độ xâm lấn của ung thư. Phát hiện
những khối u nhỏ ở gan mà trên siêu âm không phát hiện được để có hướng
điều trị.
e. Định lượng kháng nguyên ung thư bào thai (CEA)
Không có giá trị chẩn đoán, tuy nhiên rất hữu ích trong việc theo dõi
sau mổ. Không có một chất chỉ điểm lý tưởng nào để chẩn đoán ung thư.
Định lượng nhiều lần các chất chỉ điểm này trong việc theo dõi sau mổ có thể
cho phép chẩn đoán sớm ung thư tái phát.
tràng xích ma, 15% ở đại tràng phải, 6 - 8% ở đại tràng ngang, 6 - 7% ở đại
tràng xuống và có 1% ở ống hậu môn. Tại viện K phân loại tổn thương riêng
ung thư đại tràng từ 1983 - 1993 cho thấy: đại tràng xích ma 29,67%; đại
tràng phải 20,88%; manh tràng 15,48%; đại tràng ngang 4,2%; đại tràng trái
16,48%; và 2,2% không rõ vị trí.
16
Hình thể ngoài ,.
- Thể sùi: Đây là thể hay gặp nhất, khối u lồi vào trong lòng đại trực
tràng. Mặt u không đều có thể chia thành nhiều múi, thuỳ. Màu sắc loang lổ,
trắng, đỏ tím. Độ bền vững kém, mủn dễ chảy máu. Khi u phát triển to gây
bán tắc ruột hoặc tắc ruột, u có thể hoại tử ở trung tâm, tạo giả mạc lõm
xuống làm thành ổ loét. Thể này ít di căn hơn các thể khác.
- Thể loét: Khối u là một ổ loét hình tròn hoặc bầu dục, mặt u lõm vào
thành đại tràng, màu đỏ thẫm hoặc có giả mạc hoại tử, thành ổ loét dốc, nhẵn.
Bờ ổ loét phát triển gồ lên, có thể sần sùi, mật độ đáy thường mủn bở, ranh
giới u rõ ràng, toàn bộ khối u quan sát giống hình một ''núi lửa''. Khối u thể
loét gặp ở đại tràng trái nhiều hơn, u chủ yếu phát triển vào các lớp thành ruột
theo chu vi thành ruột, xâm lấn các cơ quan khác, tỷ lệ di căn hạch cao.
- Thể thâm nhiễm hay thể chai: Dạng này tổn thương lan toả không
ranh giới. Mặt tổn thương hơi lõm nhưng có nốt sần nhỏ, lớp niêm mạc bạc
màu mất bóng. Khi mổ thường thấy thành đại tràng chắc, cứng đỏ, thanh mạc
sần. Khối u này thường phát triển theo chiều dọc, chiều dày theo chu vi, nhiều
khi u phát triển làm cho ruột cứng tròn như đoạn ống.
- Thể chít hẹp: thường ở nửa trái đại tràng, nhất là đại tràng sigma, u
nhỏ, mặt u thường giống thể loét, u phát triển toàn chu vi làm nghẹt khẩu kính
đại tràng, gây tắc ruột. Đoạn ruột hai phía phình ra tạo tổn thương như vành
khăn bó chặt, u thường gây di căn hạch sớm.
U lympho ác (Lymphoid neoplasms)
- Các u không xếp loại (Unclassifed)
Độ mô học của ung thư biểu mô:
- Năm 1952, Broders phân chia ung thư đại trực tràng thành 4 độ:
Độ I: có tỷ lệ biệt hoá tế bào từ 75% trở lên (Biệt hóa tốt).
Độ II: có tỷ lệ biệt hoá tế bào 75% - 50% (Biệt hóa vừa).
Độ III: có tỷ lệ biệt hoá tế bào 50% - 25% (Biệt hóa kém).
Độ IV: có tỷ lệ biệt hoá tế bào 25% - 0% (Không biệt hóa).
Ung thư tuyến nhầy xếp vào độ IV (Không biệt hóa),
1.3.5. Tiến triển tự nhiên của UTĐTT
Xâm tấn tại chỗ: lúc đầu ung thư khu trú ở niêm mạc, sau đó xâm lấn
lớp hạ niêm mạc, lớp thanh mạc, lan rộng tại chỗ, xâm lấn các cơ quan lân
cận và reo rắc các tế bào ung thư vào phúc mạc.
Xâm lấn theo bạch mạch: Năm 1879, Choott A. đề cập sự xâm lấn của
ung thư theo đường bạch huyết. Năm 1950, Dukes cho rằng chỉ khi nào các
lớp thành ruột bị phá huỷ thì tế bào ung thư mới đến hạch, nguy cơ di căn
hạch và số lượng hạch bị di căn tăng khi độ mô học của u tăng.
Di căn theo đường máu: các tác giả đã chứng minh ung thư theo đường
máu reo rắc khắp cơ thể,.
1.3.6. Phân loại giai đoạn
1.3.6.1. Giai đoạn theo Dukes (1932), cải tiến bởi Dukes và Bussay (1958)
Dukes A:
U xâm lấn lớp niêm mạc, dưới niêm, tới lớp cơ thành đại
trực tràng, chưa xâm lấn thanh mạc, chưa di căn hạch.
Dukes B:
U xâm lấn thanh mạc đến mô xung quanh, chưa di căn hạch.
Không có biểu hiện của u nguyên phát.
Tis:
Ung thư biểu mô tại chỗ.
T1:
Ung thư xâm lấn lớp dưới niêm mạc.
T2:
Ung thư xâm lấn đến lớp cơ, chưa xâm lấn thanh mạc.
T3:
Ung thư xâm lấn đến thanh mạc hoặc đến tổ chức mỡ quanh
đại trực tràng đoạn không có phúc mạc che phủ.
T4:
Ung thư xâm lấn vào cơ quan tổ chức lân cận.
N: Hạch lympho vùng.
Nx:
Không thể đánh giá được hạch vùng.
N1:
N0
M0
T1
N0
M0
A
A
T2
N0
M0
A
B1
IIA
T3
N0
IIIB
T3 – T4
N1
M0
C
C2/C3
IIIC
T bất kỳ
N2
M0
C
C1/C2/C3
IV
T bất kỳ
N bất kỳ
bào học thì đó là tế bào ung thư di căn từ đại trực tràng.
1.5. Đặc điểm bệnh học của ung thư đại trực tràng di căn phúc mạc
1.5.1. Lâm sàng ,,,,
a). Cơ năng:
- Mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, bụng to dần, buồn nôn, nôn.
- Đau bụng, thường đau âm ỉ, ngày càng tăng dần, hiếm khi đau thành
cơn, trừ khi có dấu hiệu bán tắc hoặc tắc ruột.
b). Thực thể:
- Cổ trướng, cổ trướng tiến triển nhanh, tái phát nhanh sau khi chọc.
- Sờ thấy khối u ổ bụng hoặc ở tiểu khung, có thể sờ thấy mảng khi
khám bụng.
- Có thể thấy hạch nhiều nơi.
- Thiếu máu.
- Có thể thấy dấu hiệu chỉ điểm của ung thư nguyên phát như: rối loạn
phân, phân nhày máu gặp trong ung thư đại tràng...
1.5.2. Cận lâm sàng ,,,,
a). Dịch ổ bụng
- Có thể dịch máu hoặc màu vàng, thường là dịch tiết.
- Có thể thấy tế bào ác tính trong dịch ổ bụng.
- Nồng độ LDH trong dịch thường rất cao.
b). Sinh hóa máu:
- Làm một số marker chỉ điểm ung thư một số cơ quan đích như:
+ CEA tăng cao.
+ Kháng thể đơn dòng, kháng thể đa dòng.
22
c). Siêu ẩm ổ bụng và chụp cắt lớp vi tính:
- Siêu âm đánh giá dịch cổ trướng là dịch tự do hay khu trú, thâm
1.6.1. Phẫu thuật
Đối với UTĐTT, phẫu thuật là phương pháp điều trị được đặt ra đầu
tiên vì khả năng lấy được hết khối u và các hạch di căn. Tuy nhiên, ở các bệnh
nhân UTĐTT di căn phúc mạc thường rất khó để lấy hết tổ chức ung thư vì
khi đã di căn phúc mạc, các tế bào ung thư sẽ lan rộng khắp ổ bụng. Phẫu
thuật chủ yếu để xử trí các biến chứng của ung thư như: tắc ruột, thủng ruột
hay viêm phúc mạc toàn thê do khối u vỡ vào ổ bụng...
Chỉ định phẫu thuật phải cân nhắc trên từng bệnh nhân. Thường dựa
trên một số yếu tố:
- Thời gian xuất hiện di căn
- Di căn một hay nhiều vị trí
- Tình trạng sức khỏe bệnh nhân có cho phép hay không?
Một số loại phẫu thuật tạm thời có thể áp dụng trong UTĐTT di căn
phúc mạc:
- Phẫu thuật lấy bỏ u tối đa: Khi khối u lớn, dính. Việc này làm giảm
đáng kể khối lượng tổ chức ung thư, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng
phương pháp điều trị bổ sung. Cụ thể ở bệnh nhân UTĐTT là hóa trị liệu.
- Phẫu thuật phục hồi sự lưu thông: Làm hậu môn nhân tạo.
1.6.2. Hóa trị liệu
Đối với UTĐTT di căn phúc mạc, hóa trị liệu đóng vai trò vô cùng
quan trọng vì nhiều bệnh nhân khi đến bệnh viện không có khả năng điều trị
bằng phương pháp phẫu thuật. Các phác đồ thường được dùng là:
- Phác đồ FOLFOX4:
Oxaliplatin 85mg/m2 da, TM ngày 1.
Lecovorin 200mg/m2 da, TM trong 2 giờ.
5-FU 400mg/m2 da truyền Bolus, sau đó 5-FU 600mg truyền liên tục
trong 22 giờ, ngày 1 và 2.
24
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Chỉ cho vào nghiên cứu những trường hợp:
+ Các bệnh nhân phát hiện UTĐTT đồng thời phát hiện di căn phúc
mạc ở nhóm bệnh nhân lan tràn phúc mạc đồng thời;
+ Kết quả giải phẫu bệnh là Adenocarcinoma (đại thể và vi thể);
+ Có tiền sử mổ ung thư biểu mô đại trực tràng ở nhóm bệnh nhân có di
căn phúc mạc lan tràn thứ phát;
+ Có thêm không quá một vị trí di căn ngoài phúc mạc;
+ Hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đưa vào nghiên cứu các trường hợp:
+ Giải phẫu bệnh không phải là ung thư biểu mô đại trực tràng;
+ Ung thư đại trực tràng không có di căn phúc mạc;
+ Có hơn một vị trí di căn khác ngoài phúc mạc;
+ Bệnh án hồ sơ không đầy đủ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả, hồi cứu và tiến cứu.
- Chọn mẫu và cỡ mẫu:
+ Áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, không xác suất.
+ Cách lấy số liệu: Danh sách tất cả bệnh nhân được chẩn đoán ung thư
biểu mô đại trực tràng và được chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng hoặc chẩn