1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị hình vách ngăn là bệnh tương đối phổ biến trong chuyên khoa Tai
Mũi Họng, theo Guya Settipane có khoảng 20% dân số có dị hình vách ngăn,
trong đó khoảng 25% phải sửa chữa lại vách ngăn [23], [24].
Vách ngăn mũi chia hốc mũi thành hai phần đối xứng, khởi điểm của
vách ngăn bắt đầu từ đường giữa và khi có dị hình gây ra một sự thay đổi về
chức năng mũi bình thường. Phần dị hình này có thể tạo ra những triệu chứng
khác nhau tùy thuộc vào vị trí và kích thước. Khi vách ngăn không thẳng làm
thay đổi về động học của luồng không khí lưu thông có thể gây ra những triệu
chứng, thường gặp nhất là ngạt mũi [1], [3]. Sự thay đổi tương tự trong luồng
không khí cũng có thể làm khô niêm mạc khi mà vùng đó tiếp xúc quá nhiều
với luồng khí. Điều này gây ra những triệu chứng khác ở người trưởng thành
như: ngáy, nhức đầu, chảy mũi, hắt hơi, giảm khứu giác, chảy máu mũi.
Có hai nguyên nhân gây nên dị hình vách ngăn mũi: sự phát triển cấu
trúc của vách ngăn không cân xứng với sự phát triển của xương vomer, có thể
làm một bên vách ngăn lớn hơn bên kia. Điều này làm thuận lợi cho sự hình
thành của mào, gai, củ ở vách ngăn. Chấn thương là nguyên nhân hay gặp gây
ra dị hình vách ngăn. Những tai nạn hay chèn ép trong thời kỳ có thai có thể
gây ra dị hình vách ngăn.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất đối với dị hình vách ngăn.
Từ trước tới nay có hai phẫu thuật được sử dụng: xén vách ngăn dưới niêm
mạc: được Freer mô tả năm 1902, sau đó được Killian và những tác giả khác
cải tiến. Phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn được Cottle đã phát triển vào những
năm 50, phẫu thuật này có nhiều nhược điểm, thường gặp nhất là thủng vách
ngăn. Ngày nay với sự phát triển của phẫu thuật nội soi mũi xoang, nên việc
chỉnh hình vách ngăn được thực hiện qua nội soi, đã khắc phục được những
nhưng vẫn chưa đề ra được phương pháp phẫu thuật dị hình vách ngăn hoàn
chỉnh.
Năm 1903 Killian là người đầu tiên phẫu thuật một ca viêm xoang
trước vào năm 1904 ông hoàn thiện phương pháp phẫu thuật vách ngăn mới là
"chỉnh hình vách ngăn dưới niêm mạc" và từ đó cho tới nay phương pháp này
được áp dụng ở tất cả các cơ sở tai mũi họng.
Từ năm 1960 trên thế giới đã áp dụng phương pháp phẫu thuật nội soi
chỉnh hình vách ngăn mũi, tuy nhiên tại Việt Nam phương pháp phẫu thuật
này mới được sư dụng rộng dãi vào những năm gần đây.
1.2.
Giải phẫu và sinh lý mũi.
1.2.1. Giải phẫu mũi: Gồm có tháp mũi và hốc mũi.
Tháp mũi: tháp mũi như một mái che kín hốc mũi, có khung là xương
chính mũi, ngành lên xương hàm trên, sụn cánh mũi và sụn uốn quanh lỗ mũi.
4
Hình 1.1. Cấu trúc tháp mũi
1111
2
1. Xương trán.
2. Xương chính mũi.
3
4
một cản trở, khó khăn trong phẫu thuật NSCNMX. Đặc biệt là vẹo vách ngăn
ở vùng khe giữa gây chèn ép cuốn giữa ra phía ngoài, bít vào phức hợp lỗ ngách. Khi đó chỉnh hình vách ngăn là động tác bắt buộc trong PTNSMX.
- Thành ngoài:
Là thành quan trọng hơn cả. Thành ngoài có 3 xương uốn cong còn gọi
xương xoăn theo thứ tự trên, giữa, dưới. Ba xương xoăn được lớp niêm mạc
bao phủ bên ngoài mang tên: cuốn mũi trên, cuốn mũi giữa và cuốn mũi dưới.
Mỗi một cuốn mũi hợp với thành ngoài của hốc mũi tạo thành một khe mũi
hay là ngách mũi. Tên của ngách mũi được gọi theo tên của cuốn mũi tương
ứng là: ngách mũi trên, ngách mũi giữa và ngách mũi dưới.
+ Ngách mũi dưới ở đầu có lỗ thông của ống lệ tỵ, ống này từ túi lệ
xuống.
+ Ngách mũi giữa là nơi thông ra hốc mũi của các xoang hàm, sàng trước và xoang trán.
+ Ngách mũi trên là nơi thông ra hốc mũi của các xoang sàng sau, còn
xoang bướm có lỗ thông trực tiếp ra phần trên và sau của hốc mũi.
Mảnh đứng xương sàng
Sụn tứ giác
Xương lá mía
Hình 1.2. Vách ngăn mũi
6
Hình 1.3. Vách ngăn mũi và các xoang mặt
+ Loa vòi ở cách đuôi cuốn mũi giữa hơn 1cm vào phía sau và hơi
chếch xuống dưới. Sau đuôi cuốn mũi trên có lỗ bướm khẩu cái, ở đó thoát ra
động mạch bướm khẩu cái và dây thần kinh bướm khẩu cái (nhánh mũi). Từ
có lông chuyển với các tế bào tiết và có cấu trúc rất giàu mạch máu. Lớp nhầy
này bắt giữ các vật lạ để lớp tế bào lông chuyển chuyển ra phía sau mũi với
nhịp độ từ 400 đến 800 nhịp/1 phút. Hệ thống màng nhầy này hoạt động rất
hiệu quả, nó bảo vệ lớp biếu mô của mũi tuy nhiên cũng dễ bị ảnh hưởng do
viêm nhiễm, độ ẩm, hoá học, bụi, vi sinh, vi khuẩn, nấm mốc...
Hệ thống tế bào ở hạ niêm mạc, sản sinh ra các thực bào và dịch thể miễn
dịch như các loại IgE, IgG, IgA, IgM...
Chức năng ngửi: được thực hiện bởi niêm mạc ngửi nằm ở phần cao của
hốc mũi, với các tế bào thần kính cảm giác và đầu tận của thần kinh khứu
giác, trên diện tích 2 - 3cm2 còn gọi là điểm vàng. Để mũi ngửi được thì
không khí phải đến được vùng ngửi. Các chất có mùi phải được hoà tan trong
8
lớp màng nhầy trên tế bào cảm giác thì mới tạo được kích thích tới dây thần
kinh khứu giá
Chức năng phát âm: mũi có tác động đến giọng nói, tạo âm sắc, độ vang
của giọng. Khi hốc mũi bị bịt kín hoặc tịt lỗ mũi sau hay trước, giọng nói sẽ
mất độ vang, thay đổi âm sắc được gọi là giọng mũi kín.
1.3.
Bệnh học dị hình vách ngăn:
Vách ngăn mũi chia hốc mũi thành hai phần đối xứng, khởi điểm của
vách ngăn bắt đầu từ đường giữa và khi dị hình gây ra một sự thay đổi về
chức năng mũi bình thường. Phần dị hình này có thể tạo ra những triệu chứng
khác nhau tùy thuộc vào vị trí.
1.3.1. Nguyên nhân: Có hai nguyên nhân gây nên dị hình vách ngăn:
Thứ nhất: chính sự phát triển làm thay đổi trong sự phát triển của cấu trúc
vảy và ở một số bệnh nhân sẽ bị chảy máu mũi khi vảy tróc ra. Nhiều luồng
khí lưu thông qua mũi ở những vùng hẹp giữa vách ngăn và cuốn mũi dưới.
Vách ngăn có thể làm khoảng trống ở một bên mũi bị hẹp lại khi vách ngăn
vẹo sang bên đó.
1.3.3. Tần suất.
Mỹ: tần suất dị hình vách ngăn bẩm sinh được ghi nhân từ 4 tới 5 %
(Podoshin, 1991 và Cottle, 1995). Những khu vực khác có sự thay đổi rất
nhiều về tần suất đối với dị hình vách ngăn bẩm sinh: Israel 0,93% (Podoshin,
1991), Ba Lan, 14,3% (Soboczynski,1992), Phần Lan, dị hình vách ngăn được
tìm thấy ở 9,5% các học sinh (Hapaniemi,1995).
1.3.4. Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng:
Ngạt mũi là triệu chứng thường gặp nhất của dị hình vách ngăn, mặc dù
không phải tất cả các bệnh nhân bị dị hình vách ngăn đều có triệu chứng. Biến
dạng của mũi có thể thấy ở nhiều bệnh nhân. Những triệu chứng khác ở người
trưởng thành.
Theo Low (1992), gặp các triệu chứng như sau:
- Ngạt mũi (57,3%).
− Nhức đầu (48%).
− Chảy mũi (38,7%).
− Hắt hơi (30,7%).
10
− Giảm khứu giác (30,7%).
− Chảy máu mũi (21,3%).
Khám thực thể:
− Chẩn đoán đòi hỏi phải soi mũi trước và sau khi đặt thuốc co mạch tại chỗ
nhằm giảm sự cương tụ niêm mạc mũi, qua đó đánh giá được hình ảnh dị
thể dùng ở trẻ em và trẻ sơ sinh.
Hạn chế là:
+ Khi mà nó đo diện tích thay cho trở kháng, thì kích thước của mũi ảnh
hưởng nhiều đến đường biểu diễn. Cần thiết phải so sánh hai bên.
+ Phương pháp đo kém chính xác cho phần phía sau mũi.
+ Phương pháp đo có thể bị ảnh hưởng bởi lỗ thông của các xoang cạnh
mũi, cho ra giá trị thay đổi trong trường hợp lỗ thông bị tắc nghẽn cũng
như trong trường hợp viêm xoang.
1.3.5. Phân loại.
Theo Cottle: chia dị hình vách ngăn mũi thành trật, lồi, uốn cong
phần đuôi và vách ngăn căng thẳng.
− Trật thường là sự di lệch của sụn vách ngăn ra khỏi khớp của nó với xương
lá mía. Điều này thường gây ra một chỗ lồi nằm ngang và tùy theo kích
thước nó có thể gây tắc nghẽn khí lưu thông, gây ra sự tiếp xúc với cuốn
mũi dưới ở cùng bên.
− Gai hay mào là một phần lồi của vách ngăn, kích thước thay đổi và thường
nằm ở vùng tiếp nối sụn và xương lá mía. Một số gai hay mào có thể dài,
điều này thường xảy ra ở phần sau của mũi.
− Phần uốn cong đuôi vách ngăn là do vẹo ở phân trước của mũi. Kiểu vẹo
này có thể làm tắc nghẽn van mũi do vị trí của nó. Chúng thường đi kèm
với trật nhẹ khớp phần trước và liên tục cho tới phần sau mũi nơi chỗ khớp
giữa sụn và xương lá mía.
− Vách ngăn căng thẳng là thuật ngữ do Cottle sử dụng để mô tả một tình
trạng đặc biệt trong đó chiều cao thẳng đứng của vách ngăn quá lớn tạo ra
một cái mũi cao, to và hẹp. Niêm mạc phủ vách ngăn bị sức căng và trở
nên quá ngăn so với nó.
Theo Mladina: đề nghị phân loại dị hình vách ngăn thành: lệch vẹo
vách ngăn (kiểu thẳng dọc và kiểu ngăn ngang), dày chân vách
ngăn, mào và gai vách ngăn.
thuật được sử dụng:
Phẫu thuật xén vách ngăn dưới niêm mạc
Được Freer mô tả năm 1902. Sau đó được Killian và những tác giả khác
cải tiến. Nó nhằm tạo ra một đường rạch trước vùng vẹo của vách ngăn. Bóc
tách niêm mạc để bộc lộ vùng vẹo và cắt bỏ phần vách ngăn bị vẹo (sụn và
13
xương). Đường rạch được đóng lại và hốc mũi được nhét bấc để tránh máu tụ
vách ngăn.
Bao gồm 4 thì:
+ Thì 1: rạch niêm mạch vách ngăn
+ Thì 2: Bộc lộ gai mũi trước
+ Thì 3: Bộc lộ vách ngăn - giải phóng sụn từ giác - chuyển dịch sụn tứ
giác - sửa chữa những dị hình - tái tạo lại vách ngăn.
+ Thì 4: Cố định vách ngăn
Phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn
Cottle đã phát triển kỹ thuật này vào những năm 50. Nó bắt đầu bằng việc
bóc tách ở trong vùng xoang hàm và trước xoang hàm (vì vậy gọi là phương
pháp tiếp cận xoang hàm - trước xoang hàm) và tách rời niêm mạc và màng
sụn ra khỏi vách ngăn sụn xương. Phần gây nghẹt của vách ngăn được cắt đi,
tỉa gọn và đặt lại giữa hai lớp niêm mạc. Như vậy vẫn duy trì được độ cứng
của vách ngăn và tránh được biến dạng sau này của mũi. Chỗ bóc tách được
khâu lại và vách ngăn được cố định bằng nhét bấc mũi, thiết bị cố định bằng
chất dẻo hay khâu lại để tránh hình thành máu tụ vách ngăn và giữ cho mũi
thẳng. Kỹ thuật này cho phép phẫu thuật viên điều trị nhưng biến dạng ở mọi
vùng của vách ngăn, ngay cả có thể lấy sụn vách ngăn để tái tạo ở bên ngoài
cơ thể nếu cần thiết. Phẫu thuật này thường ít gây thủng vách ngăn và ít biến
chứng hơn phẫu thuật xén vách ngăn dưới niêm mạc.
15
Phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn được tiến hành tại Bệnh viên
Quân y 103
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh
- Lựa chọn ngẫu nhiên không phân biệt nam, nữ.
- Người bệnh trên 18 tuổi, ở độ tuổi này đã ổn định về mặt hình thể phát
triển xoang hàm mặt và người bệnh dưới 60 tuổi vì trên 60 tuổi là tuổi không
nên can thiệp phẫu thuật [6], [10].
- Những người bệnh vào viện được chẩn đoán là vẹo vách ngăn, gai vách
ngăn, mào vách ngăn hay các dị hình phối hợp có chỉ định phẫu thuật chỉnh
hình vách ngăn.
- Được làm bệnh án tỉ mỉ theo bệnh án mẫu (xem phần phụ lục) và được
duyệt phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn.
- Có đầy đủ Fim xquang Blondeaux, Hirtz, có đủ các xét nghiệm cơ bản.
- Sau phẫu thuật chỉnh hình có mô tả cách thức phẫu thuật.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh dưới 18 tuổi và trên 60 tuổi.
- U máu vách ngăn.
- Abces vách ngăn.
- Thủng vách ngăn.
- Chấn thương vách ngăn.
- Người bệnh có chỉ định phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn nhưng vì các
lý do khác không tiến hành được phẫu thuật.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu lâm sàng, theo thiết kế nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có
đối chứng nhằm so sánh hiệu quả điều trị bằng phương pháp nội soi phẫu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn n1 = n2 = 80
2.3.3. Phương tiện nghiên cứu
- Khám bệnh:
+ Khám bệnh bằng dụng cụ khám chuyên khoa thông thường.
+ Khám nội soi.
- XQ: Chụp film Blondeaux, Hirtz tại khoa Xquang Bệnh viên Quân y
103
17
- Người bệnh được phẫu thuật vách ngăn thông thường và phẫu thuật nội
soi chỉnh hình vách ngăn tại Bệnh viện Quân y 103.
2.3.4. Nội dung nghiên cứu
Các biến số - Chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu
Biến số
Chỉ số/ Định nghĩa/ Phân loại
PP
thu
thập thông
tin
1. Mô tả đặc 1. Tỷ lệ % Tuổi phân theo nhóm (18 - 25; Hỏi
điểm hình thái, các nhóm 26 - 35; 36 - 45; 46 - 60)
- Chảy mũi: trong hay nhày
lệ - Vẹo vách ngăn.
các - Mào vách ngăn.
Khám lâm
sàng
và
triệu
- Gai vách ngăn.
khám
chứng
- Dày vách ngăn.
bằng
nội
thực thể
- Phối hợp.
5. Tỷ lệ - Film Blondeaux
soi
Đọc
pháp nhóm
2. Tỷ lệ % - Ngạt mũi.
phẫu thuật thông
các triệu - Hắt hơi.
thường
chứng cơ - Ngửi kém.
Hỏi
năng sau - Đau đầu.
phẫu thuật - Chảy mũi.
3. Tỷ lệ % - Chảy máu: có - không
Hỏi
các
khám lâm
biến
tai - Thủng vách ngăn: có - không
và
sau - Dính niêm mạc vách ngăn vào sàng
phẫu thuật niêm mạc cuốn mũi: có - không
2.3.5. Phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi.
− Những ngày sau: đặt thuốc co mạch và thuốc tê tại chỗ, sau đó
hút mũi và cho bệnh nhân rỏ mũi, khí dung.
− Theo dõi tình trạng chảy máu: sau 6 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ,
72 giờ.
− Khám lại sau 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng.
20
Thì 1: Gây tê tại chỗ
Thì 2: Bóc tách niêm mạc và
màng sụn, xương
Thì 3: Lấy phần sụn,xương dị Thì 4: Ép niêm mạc và màng
hình
sụn vào vách ngăn
Hình 4: Phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi
2.3.6. Đánh giá hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật.
Đánh giá triệu chứng ngạt mũi: theo phân độ của Podoshin (1991)
Độ 1: Không ngạt.
Độ 2: Ngạt mũi gây khó chịu thoáng qua từng thời điểm trong
ngày.
Độ 3: Ngạt mũi gây ảnh hưởng đến sự suy nghĩ, làm việc trí óc.
21
22
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh Bệnh viện Quân Y 103, Bộ môn
Khoa Tai Mũi Họng và Phòng Sau đại học Học viện Quân y.
- Nội dung nghiên cứu nhằm góp phần vào việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
cho người dân.
- Kết quả nghiên cứu sẽ được công bố công khai và làm cơ sở để có thể ứng
dụng vào thực tiễn.
- Đối tượng người bệnh và người thân của họ tham gia trong nghiên cứu
này được tư vấn về vấn đề nghiên cứu. Những thông tin cá nhân sẽ được
giữ bí mật.
CHƯƠNG 3
DỰ KIẾN KÊT QUẢ
3.1. Đặc điểm hình thái, biểu hiện lâm sàng của dị hình vách ngăn
3.1.1. Tuổi và giới
Bảng 3.1. Sự phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu (n1 = n2 = 80)
Nhóm can thiệp
n
%
Đặc điểm
Tuổi
18 - 25
26 - 35
36 - 45
46 - 60
Nhóm chứng
p
Công chức
Học sinh
Nông dân
Nghề khác
Tổng
Nhận xét
3.1.3. Các triệu chứng cơ năng
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo triệu chứng cơ năng cả 2 nhóm
Triệu chứng
Nhóm can thiệp
n
%
Nhóm chứng
n
%
p
Nhóm chứng
n
%
p
Ngạt mũi
Chảy mũi
Không chảy
Chảy dịch trong
Chảy dịch nhày
Tổng
Nhận xét:
Bảng 3.6. Tính chất của hắt hơi
Tính chất
Nhóm can thiệp
n
%
Nhóm chứng
n
%
p
Nhóm chứng
n
%
p
Nhóm chứng
n
%
p
Ngửi kém liên tục
Tổng
Nhận xét:
3.1.4. Triệu chứng thực thể
Bảng 3.9. Dị hình vách ngăn
Dị hình
Nhóm can thiệp