1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) cho tới nay vẫn còn là một căn bệnh đe dọa nghiêm
trọng sức khoẻ cộng đồng. Ung thư vú là một trong hai loại ung thư thường
gặp nhất ở phụ nữ. Theo tổ chức Y tế Thế giới, năm 2012 có khoảng 1,67
triệu phụ nữ mới mắc ung thư vú trên toàn cầu, trong đó có 458.000 người tử
vong. Tỉ lệ mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi thay đổi từ 2-5/100.000 dân ở
Nhật Bản và Mexico đến 30,4-39,4/100.000 dân ở Đan Mạch, Iceland. Nhìn
chung ung thư vú có tỷ lệ mắc cao ở các nước phát triển (trừ Nhật Bản) và
thấp hơn ở hầu hết các nước đang phát triển [1]. Theo ghi nhận tình hình mắc
ung thư tại Việt Nam năm 2010 thì tỉ lệ mắc ung thư vú đã tăng lên, ở thành
phố Hồ Chí Minh là 21,0/100000 dân còn ở Hà Nội là 39,4/100000 dân, đứng
hàng đầu trong các ung thư ở phụ nữ. Bệnh gặp ở các lứa tuổi, gặp cao nhất ở
độ tuổi từ 40 đến 49 [2].
Điều trị UTV là một ví dụ điển hình về sự kết hợp đa mô thức trong
điều trị ung thư nói chung. Từ khi khái niệm UTV là bệnh toàn thân được
thừa nhận sự phối hợp này ngày càng hoàn chỉnh. Việc điều trị ung thư vú là
sự phối hợp giữa các phương pháp điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân. Việc
đánh giá chi tiết các yếu tố tiên lượng có vai trò quan trọng trong việc lựa
chọn phác đồ điều trị.
Trong những năm gần đây tỉ lệ bệnh nhân trẻ tuổi được chẩn đoán và
điều trị UTV ngày một tăng. Tuy ung thư vú hiếm gặp ở người trẻ tuổi, chỉ
khoảng 7% xảy ra dưới tuổi 40 và 2,7% dưới tuổi 35 nhưng vẫn là ung thư
phổ biến nhất ở phụ nữ dưới 40 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
do ung thư ở phụ nữ trẻ [3]. Tuổi trẻ là một yếu tố tiên lượng độc lập trong
ung thư vú. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả nước ngoài, tuổi trẻ là yếu tố
tiên lượng không thuận lợi.
2
- Cấu tạo: tuyến vú gồm các tuyến sữa dạng chùm tạo thành các tiểu
thùy. Nhiều tiểu thùy hợp thành các thùy. Tuyến vú có từ 15-20 thùy, bao
quanh bởi mô mỡ. Những thùy này được chia ra bởi các vách xơ đi từ lớp mô
dưới da đến lớp sâu của mạc nông gọi là dây chằng Cooper. Mỗi thùy có ống
dẫn sữa đổ ra núm vú.
- Mạch và thần kinh:
+ Động mạch: vú được cấp máu bởi các nhánh của ĐM nách, ĐM ngực
trong, ĐM gian sườn. ĐM nách cấp máu theo đường ĐM ngực trên, các
nhánh ngực của ĐM cùng vai ngực, ĐM ngực ngoài và các nhánh dưới vai.
ĐM ngực trong có các nhánh xuyên đến phần trước trong của vú. Các nhánh
xuyên của ĐM gian sườn cấp máu cho vùng trước trên của vú, núm vú, quầng
vú và mô cạnh vú.
+ Tĩnh mạch: TM tạo thành một mạng nông nhìn rõ khi có thai hoặc
nuôi con bú. Các TM đổ về TM nách, TM ngực trong và TM gian sườn.
+ Thần kinh: do các nhánh trên đòn của đám rối cổ nông và các nhánh
xiên của TK gian sườn từ II – VI.
+ Hệ thống bạch huyết của vú: về phương diện lâm sàng rất quan trọng
vì ung thư vú thường di căn theo đường bạch huyết này. Bạch mạch đổ về ba
chuỗi hạch là chuỗi hạch nách, chuỗi hạch vú trong và chuỗi hạch trên đòn.
4
Hạch nách: một phương pháp phân chia hạch nách theo giải phẫu và
theo tiến triển di căn là chia thành các chặng hạch bao gồm:
Chặng I: gồm các hạch nằm phía ngoài cơ ngực bé.
Chặng II: các hạch nằm sau cơ ngực bé.
Chặng III: các hạch nằm phía trong cơ ngực bé.
Hạch vú trong: gồm các hạch nằm ở các khoang liên sườn vùng cạnh ức dọc
ĐM vú trong từ khoang gian sườn I đến khoang gian sườn VI. Các hạch này
tố làm tăng nguy cơ phát triển UTV. Các thành tựu về sinh học phân tử gần
đây đã cho thấy được một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của UTV.
Trên thực tế có khoảng 70 – 75% bệnh nhân được chẩn đoán UTV nhưng
không xác định được yếu tố nguy cơ.
6
Trong các yếu tố nguy cơ gây UTV, nổi bật nhất là tiền sử gia đình có
người mắc UTV, đặc biệt gia đình có từ 2 người mắc trở lên ở lứa tuổi trẻ.
Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhân là có liên quan đến UTV, tuy nhiên
yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10 – 15% các trường hợp UTV. Yếu
tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với
bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc
thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm
UTV trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến gene p53
cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân ung thư vú sớm.
UTV là một trong số các ung thư có liên quan mật thiết tới nội tiết tố
nữ, cụ thể là estrogen làm tăng sinh các tế bào biểu mô tuyến vú, cần thiết cho
quá trình sinh sản và nuôi con. Do đó những yếu tố làm tăng thời gian tiếp
xúc của tuyến vú với estrogen đều có thể làm tăng nguy cơ gây UTV như: có
kinh sớm, dùng thuốc tránh thai kéo dài, có con đầu lòng muộn, mãn kinh
muộn, béo phì sau mãn kinh, phụ nữ độc thân… hoặc đã mãn kinh nhưng
dùng nội tiết thay thế có chứa estrogen.
Người ta thấy tỷ lệ mắc UTV tăng cao ở nhóm phụ nữ béo phì, chế độ ăn
nhiều chất béo làm tăng nguy cơ UTV. Những phụ nữ uống rượu có nguy cơ bị
UTV tăng 10%, nguy cơ tăng theo lượng rượu uống mỗi ngày. Tuổi càng cao
nguy cơ mắc bệnh càng tăng, phụ nữ dưới 30 tuổi rất hiếm khi mắc UTV.
1.4. TIẾN TRIỂN TỰ NHIÊN CỦA UTV [9] [10] [11]
UTV là loại ung thư tiến triển chậm, chỉ có khoảng 3% UTV diễn biến
không gây đau, một số người có khi chỉ cảm giác nhói ở một bên vú hoặc có
khi là một vùng dày lên bất thường ở vú.
- U có thể đơn độc hoặc nhiều u
- Thay đổi về da: u phát triển có thể gây dính da, da trên u đỏ, dày lên
hoặc sần như da cam
8
- Khối u ở sâu co kéo gây tụt núm vú, lõm da, biến dạng cấu trúc vú.
- Chảy dịch máu đầu vú
- Giai đoạn muộn hơn u vỡ loét ra da gây chảy dịch, chảy máu.
- Thăm khám vùng nách và cổ có thể thấy hạch nách, hạch thượng đòn to
lên. Một số trường hợp có di căn hạch nách mà không tìm thấy u nguyên phát
ở vú bằng thăm khám lâm sàng.
- Triệu chứng của di căn xa: u có thể di căn tới các cơ quan ở xa gây ra
các triệu chứng như đau xương (di căn xương), đau đầu (di căn não), ho, tức
ngực... toàn thân mệt mỏi, chán ăn, sụt cân.
Một dạng UTV không biểu hiện khối u trên lâm sàng là UTV thể viêm,
thường tiến triển nhanh trong vài tuần: tăng đột ngột kích thước vú, toàn bộ
vú có thể đỏ, đau, sờ nóng, da dày lên, sần da cam, vú cứng hơn, chắc hơn
bình thường.
Cận lâm sàng
- Chụp tuyến vú (mammorgraphy)
+ Vai trò:
- Vai trò trước tiên của chụp vú là sàng lọc cho những phụ nữ không
có triệu chứng nhằm phát hiện những tổn thương bất thường trên phim
chụp vú có thể là UT. Từ đó giúp chẩn đoán UTV ở giai đoạn sớm, làm
giảm tỉ lệ tử vong do UTV.
- Đánh giá những tổn thương sờ thấy được trên thăm khám lâm sàng,
hiệu thấp và giá thành cao, hơn nữa những tổn thương vi vôi hóa liên quan
đến UTV sớm không quan sát được trên MRI.Tuy nhiên với những trường
hợp khó sờ thấy u trên lâm sàng hay chụp tuyến vú khó thấy tổn thương thì
MRI đời mới là 1 lựa chọn cho các thầy thuốc để chẩn đoán bệnh.
10
MRI có giá trị trong một số trường hợp sau:
+ Phát hiện tổn thương nguyên phát ở vú trong trường hợp có di căn
hạch nách hoặc di căn xa mà không phát hiện được u vú bằng thăm khám lâm
sàng và chụp vú.
+ Đánh giá những tổn thương sờ thấy trên lâm sàng mà không quan sát
được trên phim chụp vú và siêu âm.
+ Đánh giá tổn thương đa ổ
- Sinh thiết u
+ Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): được sử dụng rộng rãi vì dễ
thực hiện và cho kết quả nhanh. Tuy nhiên đánh giá tế bào học không cho
phép phân biệt được UT tại chỗ và UT xâm lấn.
+ Sinh thiết kim: cho chẩn đoán xác định hình ảnh mô bệnh học của tổn
thương.
+ Sinh thiết mở: lấy bỏ một phần hoặc toàn bộ tổn thương nghi ngờ để
làm xét nghiệm mô bệnh học. Đây là phương pháp cho kết quả chính xác cao
nhất về mô bệnh học, có thể tiến hành ở mọi cơ sở ngoại khoa. Sinh thiết mở
được thực hiện với những tổn thương sờ thấy ở vú. Với những tổn thương
không sờ thấy có thể sinh thiết nhờ định vị bằng kim dây dưới hướng dẫn của
siêu âm hoặc chụp vú.
1.5.2. Chẩn đoán
1.5.2.1. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán UT vú dựa vào bộ ba khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh
12
* Hạch vùng (N)
Nx: Hạch vùng không xác định được (ví dụ đã lấy bỏ hạch trước đó).
No: Không có di căn tới hạch vùng
N1: Di căn hạch nách cùng bên, di động
N2: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính nhau hoặc dính vào
mô khác hoặc chỉ di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng nhưng
không di căn hạch nách.
N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính nhau hoặc dính vào
cấu trúc xung quanh.
N2b: Di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng nhưng không có
di căn hạch nách.
N3: Di căn hạch hạ đòn hoặc hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng
có kèm di căn hạch nách hoặc đã có di căn hạch thượng đòn cùng bên.
N3a: Di căn hạch hạ đòn cùng bên
N3b: Di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng, kèm di căn hạch nách.
N3c: Di căn hạch thượng đòn cùng bên.
* Di căn xa (M)
Mx: Không xác định được di căn xa
M0: Không có di căn xa
M1: Di căn xa
13
Bảng xếp nhóm giai đoạn:
Giai đoạn
T
M0
T2
N0
M0
T2
N1
M0
T3
N0
M0
T0, T1, T2
N2
M0
T3
N1, N2
IIIA
IV
1.5.3. Phân loại mô bệnh học [16] [17] [18]
Phân loại ung thư biểu mô tuyến vú của tổ chức Y tế thế giới 2003
Ung thư biểu mô
Không xâm nhập
Ung thư ống tại chỗ
Ung thư thùy tại chỗ
Xâm nhập
Ung thư thể ống xâm nhập không phải loại đặc biệt
Ung thư biểu mô hỗn hợp
Ung thư biểu mô đa hình
Ung thư biểu mô khổng lồ dạng hủy cốt bào
Ung thư biểu mô màng đệm
Ung thư biểu mô với hình ảnh u hắc tố
Ung thư biểu mô tiểu thùy xâm nhập
14
Ung thư biểu mô ống nhỏ
Ung thư biểu mô mặt sàng xâm nhập
Ung thư biểu mô thể tủy
Ung thư biểu mô thể nhầy
Ung thư biểu mô thần kinh nội tiết
Ung thư biểu mô thể nhầy xâm nhập
Ung thư biểu mô thể vi nhầy xâm nhập
Từ 6-7 điểm:
Độ mô học II
Từ 8-9 điểm:
Độ mô học III
1.5.5. Các phân nhóm mô bệnh học của UTV [16] [17] [18]
Chia làm 5 phân nhóm:
Luminal A :
ER và/hoặc PR (+)
Her-2(-)
Ki67 thấp (
- Phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải biên: lấy bỏ toàn bộ tuyến vú
cùng với da trên u, núm vú và quầng vú, bảo tồn cơ ngực lớn. Thường rạch da
theo hình elip ngang hoặc chéo tùy vị trí u. Vét hạch nách chặng I và II.
- Phẫu thuật bảo tồn vú: cắt bỏ u rộng rãi cùng với mô lành xung quanh
khoảng 2cm. Nên kiểm tra diện cắt bằng sinh thiết tức thì để đảm bảo đã lấy
rộng u. Vét hạch nách chặng I, II. Đường rạch da trong vét hạch nách thường
tách biệt với đường rạch lấy rộng u. Trường hợp u ở gần vùng nách có thể
dùng chung một đường rạch cho cả lấy rộng u và vét hạch.
Chỉ định
• Giai đoạn I, II
17
Hầu hết các trường hợp UTV xâm lấn giai đoạn I, II đều có thể điều trị
bằng phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải biên hoặc bằng phẫu thuật bảo tồn
tuyến vú phối hợp với xạ trị sau mổ. Quyết định tùy thuộc vào lựa chọn của
bệnh nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sau không chỉ định phẫu
thuật bảo tồn:
- UTV đa ổ
- Khối u ở vị trí dưới quầng vú
- Bệnh Paget núm vú
- Bệnh nhân có thai: không nên phẫu thuật bảo tồn vì tia xạ sau mổ ảnh
hưởng đến thai nhi. Trường hợp đựợc chẩn đoán UTV gần với thời kỳ sinh nở
có thể phẫu thuật bảo tồn rồi chờ đến sau khi sinh mới tia xạ.
- Bệnh nhân có bệnh lý của tổ chức liên kết ( bệnh xơ cứng bì, Luput
ban đỏ hệ thống): nguy cơ xơ hóa và hoại tử rất cao khi điều trị bằng tia xạ
nên tốt nhất là phẫu thuật cắt tuyến vú.
- Tổn thương vôi hóa lan tỏa trên phim chụp vú
• Giai đoạn III
sinh thiết hạch cửa âm tính đối với UTV giai đoạn sớm.
Vấn đề tạo hình sau phẫu thuật UTV [24] [25] [26].
Phẫu thuật tái tạo lại tuyến vú có thể tiến hành đồng thời với phẫu thuật
UTV (phẫu thuật tái tạo vú một thì) hoặc sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm
sau điều trị UTV ( phẫu thuật tái tạo vú hai thì) tùy lựa chọn của bệnh nhân.
+ Có 3 phương pháp chính tạo thể tích cho vú bị cắt bỏ:
- Đặt túi độn ngực (implant): thời gian phẫu thuật ngắn, thích hợp nhất
với tuyến vú kích thước nhỏ đến trung bình. Phẫu thuật cắt tuyến vú tiết kiệm
da rất quan trọng, nếu không đủ da phải đặt túi giãn da trước khi đặt túi độn
ngực vĩnh viễn. Nhược điểm của phương pháp này là không tạo được đường
19
cong tinh tế của tuyến vú tự nhiên, vị trí túi độn có thể bị thay đổi, phản ứng
tạo bao xơ quanh khối.
- Quay vạt da cơ lưng to: Với tuyến vú kích thước nhỏ, quay vạt da cơ
lưng to đơn thuần có thể cung cấp đủ thể tích và tổ chức cho việc tái tạo toàn bộ
tuyến vú mà không cần phối hợp với đặt túi độn ngực. Phương pháp này có
thuận lợi là thời gian phẫu thuật ngắn, dễ thực hiện, vạt da có khả năng sống tốt
do mạch nuôi dưỡng khỏe, có thể thực hiện một thì cùng với phẫu thuật UTV.
- Vạt da cơ thẳng bụng (TRAM): là vạt da lý tưởng vì đủ tổ chức cho
việc tái tạo tuyến vú mà không cần phối hợp với túi độn ngực, tạo được hình
dáng tự nhiên của tuyến vú. Tuy nhiên đây là một kỹ thuật phức tạp đòi hỏi
trang thiết bị và kinh nghiệm cao của phẫu thuật viên, thời gian phẫu thuật
kéo dài. Biến chứng có thể gặp là tắc tĩnh mạch, thiểu dưỡng hoặc hoại tử vạt
da, thoát vị thành bụng, sổ bụng.
+ Tạo hình quầng và núm vú
- Tạo hình quầng vú: xăm tạo mầu quầng vú hoặc ghép da dầy toàn bộ.
gồm u xâm lấn tại chỗ, di căn hạch nhiều, phẫu thuật không đảm bảo đủ rộng.
Tia xạ vào diện thành ngực và hệ thống hạch vùng.
1.6.2.3. Xạ trị trong trường hợp tái phát tại chỗ tại vùng
Với các trường hợp tái phát ở những vị trí có thể phẫu thuật được thì
chỉ định phẫu thuật là tốt nhất. Có thể hóa trị và xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật.
Trường hợp không phẫu thuật ngay được do u xâm lấn rộng, điều trị hóa chất
bổ trợ trước sau đó phẫu thuật phối hợp xạ trị sau mổ.
Với các trường hợp tái phát ở vị trí không phẫu thuật được thì điều trị
hóa chất phối hợp với tia xạ. Xạ trị đơn thuần ít mang lại thành công.
1.6.2.4. Xạ trị điều trị triệu chứng
Xạ trị là phương pháp điều trị triệu chứng hiệu quả đối với các trường
hợp di căn xa. Di căn xương đáp ứng đặc biệt tốt với điều trị tia xạ. Hiệu quả
giảm đau và bảo tồn chức năng vận động của xương đạt được ở phần lớn bệnh
nhân. Tổng liều 30Gy với 10 lần chiếu trong 2 tuần.
21
Chèn ép tủy là tình trạng cấp cứu cần tia xạ càng sớm càng tốt để ngăn
ngừa liệt tủy không hồi phục. Liều thông thường từ 30-45Gy, phân liều 3Gy/1lần.
Di căn não luôn là biểu hiện của giai đoạn UTV tiến triển nhanh. Tia xạ
toàn bộ não có thể kiểm soát được các ổ tổn thương nhỏ. Cần cân nhắc giữa
lợi ích và biến chứng do tổn thương nhu mô não lành. Liều thông thường
30Gy, phân liều 2-2,5Gy/1lần.
1.6.3. Hóa trị [30] [31] [32] [33] [34]
Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị UTV những thập kỷ gần đây,
đặc biệt là hóa trị toàn thân đã cải thiện đáng kể thời gian sống thêm của bệnh
nhân UTV. Tỉ lệ tử vong giảm xấp xỉ 1,8% mỗi năm. Những hóa chất mới,
phác đồ mới ra đời đã góp phần điều trị tích cực cho bệnh nhân UTV cả giai
đoạn còn mổ được và giai đoạn di căn.
hợp Paclitaxel và FAC.
- Giai đoạn III:
+ Có khả năng phẫu thuật: Điều trị bằng phẫu thuật trước sau đó hóa trị
cũng mang lại hiệu quả, thường dùng phác đồ Paclitaxel 4 chu kỳ + FAC 4
chu kỳ. Đa số các trường hợp giai đoạn III điều trị bằng hóa chất bổ trợ trước
làm giảm kích thước u, sau đó phẫu thuật sẽ giảm nguy cơ, biến chứng.
+ Không có khả năng phẫu thuật: lợi ích của hóa trị bổ trợ trước đã được
khẳng định. Trước đây thường dùng phác đồ FAC 4 chu kỳ. Gần đây phác đồ
Doxorubicin và Docetaxel (Taxotere) 4 chu kỳ cho thấy hiệu quả hơn. Nếu
đáp ứng, bệnh nhân sẽ được phẫu thuật triệt căn. Nếu không đáp ứng có thể
chuyển phác đồ CMF hoặc tia xạ.
- Hóa trị trong UTV di căn
Bất chấp những tiến bộ trong điều trị hóa chất vẫn có một tỉ lệ bệnh nhân
thất bại và chết vì bệnh. Vị trí di căn hay gặp nhất là gan, phổi, xương. Bệnh nhân
di căn các tạng có thời gian sống thêm ngắn, trung bình 24 tháng. Bệnh nhân di
căn xương đơn thuần có thời gian sống thêm dài hơn, có thể tới 60 tháng.
UTV di căn không còn khả năng điều trị khỏi nhưng hóa trị làm giảm thiểu
sự phát triển của u, làm giảm nhẹ các triệu chứng và kéo dài thời gian sống thêm.
23
Bệnh nhân di căn các tạng có triệu chứng đe dọa mạng sống nên điều
trị hóa chất ngay từ đầu bất kể tình trạng TTNT âm tính hay dương tính.
Trường hợp không di căn tạng hoặc không có triệu chứng đe dọa tính mạng,
nếu TTNT âm tính thì điều trị bằng hóa chất, nếu TTNT dương tính nên bắt
đầu điều trị bằng liệu pháp hormon. Điều trị nội tiết ít tác dụng phụ và duy trì
được chất lượng sống ở nhiều bệnh nhân.
Một số phác đồ hóa chất thường dùng:
- Phác đồ CMF
600mg/m2 TM
ngày1
5-Fluorouracil
500mg/m2 TM
ngày 1, 5
Doxorubicin
50mg/m2
TM
ngày 1
Cyclophosphamide
500mg/m2 TM
ngày 1
Chu kỳ 28 ngày
- Phác đồ AC
Chu kỳ 21 ngày
- Phác đồ FAC
TM
ngày 1
Cyclophosphamide
500mg/m2 TM
ngày 1
- Phác đồ TAC
24
Chu kỳ 21 ngày
- Phác đồ AC- Paclitaxel
Doxorubicin
60mg/m2
TM
ngày 1
Cyclophosphamide
600mg/m2 TM
ngày 1
25
Miễn dịch điều trị trong ung thư: cùng với sự phát triển của khoa học,
việc áp dụng miễn dịch điều trị trong UTV đem lại những hy vọng mới cho
bệnh nhân.
Cơ chế: trực tiếp tác động vào quá trình chuyển dạng, phát triển hay di
căn của tế bào ung thư. Kích hoạt các tế bào trong hệ miễn dịch chống lại tế
bào ung thư.
Điều trị đích trong UTV hiện này là phương pháp hữu hiệu nhưng còn
hạn chế do chi phí cao (Trastuzumab, Bevacizumab). Trastuzumab là kháng
thể đơn dòng gắn đặc hiệu với thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (Her2/neu).
Việc kết hợp sử dụng các kháng thể đơn dòng vào điều trị bổ trợ cho những
bệnh nhân có bộc lộ quá mức Her2/neu đã cải thiện đáng kể thời gian sống
không bệnh và thời gian sống còn toàn bộ cho các BN có Her-2/neu dương
tính với nhuộm HMMD hoặc FISH. Điều trị đích là một trong những thành
tựu nổi bật trong 10 năm trở lại đây trong điều trị UTV, và nó đã được công
nhận phương pháp điều trị chuẩn trong UTV có Her-2/neu dương tính.
1.7. MỘT SỐ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG TRONG UTV [38] [39] [40]
•Kích thước u: là một trong những yếu tố tiên lượng độc lập quan trọng
nhất. Nghiên cứu của Rosen và CS (1989), cho thấy bệnh nhân UTBM thể
ống câm nhập hoặc tiểu thùy xâm nhập có u < 1cm cho tỷ lệ sống thêm có tái
phát sau 10 năm và 20 năm là 91% và 87% trong khi đó u > 1cm tỷ lệ này là
73% và 68%. Qua nghiên cứu 24.000 trường hợp UTV ở Mỹ người ta thấy
rằng kích thước u có liên quan chặt chẽ một cách độc lập với di căn hạch
vùng với tỷ lệ tái phát và thời gian sống thêm của bệnh nhân UTV. Thời gian
sống thêm sau 5 năm đối với các trường hợp hạch nách âm tính giảm từ 98%
ở những bệnh nhân có kích thước u < 1cm xuống còn 95% đối với u có kích
thước từ 1 – 1,9cm và 82% đối với u có kích thước lớn hơn 5cm