Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ung thư trực tràng thấp giai đoạn xâm lấn tại chỗ tại bệnh viện đa khoa thanh hóa - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại trực tràng là một trong số những bệnh ung thư phổ biến trên
thế giới cũng như ở Việt Nam. Tỷ lệ mắc ngày càng tăng, trong đó có hơn 50%
là ung thư trực tràng. Ở các nước phát triển, UTĐTT đứng hàng thứ 2 trong số
các bệnh ung thư ở cả 2 giới, sau ung thư phổi ở nam và vú ở nữ giới. Tại
Australia, tỷ lệ mắc là 44,8/ 100.000 dân, tỷ lệ tử vong 11,6/ 100.000 dân. Tại
Việt Nam, UTĐTT nằm trong số những bệnh ung thư hay gặp, đứng vị trí thứ 5
với tỷ lệ mắc 10,1/ 100.000 dân, tỷ lệ tử vong 7,0/ 100.000 dân [1].
Hiện nay, phần lớn bệnh nhân đến khám bệnh ở giai đoạn muộn, bệnh
đã xâm lấn ra các cơ quan kế cận, ảnh hưởng đến quá trình điều trị: khả năng
phẫu thuật triệt căn ngay từ đầu khó khăn và phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu
môn thấp, làm ảnh hưởng đến thời gian sống thêm và chất lượng cuộc sống
của người bệnh. Đã có nhiều trung tâm Ung bướu áp dụng xạ trị tiền phẫu cho
những bệnh nhân ung thư trực tràng thấp giai đoạn xâm lấn tổ chức xung
quanh mà không có khả năng phẫu thuật ngay(T3, T4). Tuy nhiên, đáp ứng
còn hạn chế và một số trường hợp kháng tia, dẫn đến khả năng phẫu thuật
triệt căn chưa cao và do đó kết quả điều trị đạt hiệu quả thấp.
Trên thế giới và một số trung tâm Ung bướu tại Việt Nam, đã có nhiều
nghiên cứu áp dụng phương pháp hóa xạ trị tiền phẫu, cho kết quả khả quan:
giúp hạ thấp giai đoạn bệnh, tạo điều kiện cho phẫu thuật triệt căn, tăng tỉ lệ
bảo tồn cơ thắt hậu môn và cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh.
Tại tỉnh Thanh Hóa, là một trong những tỉnh đông dân của cả nước, với
mức sống ngày càng cao, tỷ lệ bệnh nhân mắc ung thư trực tràng cũng tăng
theo mà phần đông bệnh nhân vẫn đến khám bệnh ở giai đoạn muộn. Bệnh
viện đa khoa Thanh Hóa cũng đã cập nhật, học tập kiến thức, thành tựu trong
việc điều trị ung thư trực tràng cho những bệnh nhân giai đoạn xâm lấn tại
chỗ và đã áp dụng phác đồ điều trị kết hợp đồng thời Capecitabine (dạng
uống) với xạ trị tiền phẫu.


đến điểm thấp nhất của khối u: 1/3 trên: cách rìa hậu môn 12-16cm, trực tràng
trung bình cách rìa hậu môn từ trên 6 đến dưới 12cm, và trực tràng thấp cách
rìa hậu môn ≤ 6cm [3],[4].
Thành trực tràng dày trung bình 2mm, gồm 4 lớp: lớp thanh mạc, lớp cơ,
lớp dưới niêm mạc và niêm mạc [2].

Buồng trứng Bàng quang
Vòi tử cung
DC tròn tử cung
Ruột thừa

ĐM-TM chậu ngoài

DC rộng
Đại tràng xuống

Đại tràng sigma

Manh tràng
Nếp niệu quản
Hồi tràng
ĐM-TM chậu chung

Nếp tử cung-cùngTử cung
Trực tràng

Hình 1.1. Trực tràng và các cấu trúc liên quan
(nữ giới, nhìn từ trên) [52]

Hình 1.1: Giải phẫu trực tràng ở nữ giới (nhìn bên) [5]

vào hạch bẹn nông [6].


5

1.2. DỊCH TỄ VÀ SINH BỆNH HỌC UNG THƯ TRỰC TRÀNG
1.2.1. Tình hình mắc ung thư trực tràng
1.2.1.1. Trên thế giới

Hình 1.2: Tỉ lệ mắc và chết do UTĐTT trên thế giới [1].
Ung thư đại trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế
giới, đứng hàng thứ 3 về tỷ lệ mắc (10%) và thứ 4 về tỷ lệ tử vong (8,5%) do
ung thư. Ở nam giới, UTĐTT đứng thứ 3 sau ung thư phổi và ung thư tiền liệt
tuyến với tỷ lệ mắc 20,3/ 100.000 dân, tỷ lệ tử vong 9,6/ 100.000 dân. Ở nữ,
UTĐTT đứng thứ 3 sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung với tỷ lệ mắc14,6/
100.000 dân , tỷ lệ tử vong 7,0/ 100.000 dân. UTĐTT phần lớn xảy ra ở các
nước phát triển, trong đó cao nhất là ở Australia, New Zealand, các nước
châu Âu; mắc thấp ở châu Phi, Nam Trung Á. Tỷ lệ nam cao hơn nữ [1].


6

1.2.1.2. Tại Việt Nam
Ung thư đại trực tràng đứng thứ 5 trong các loại ung thư với tỷ lệ mắc
10,1/ 100.000 dân, tỷ lệ tử vong 7,2/ 100.000 dân. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc
UTĐTT nói chung và UTTT nói riêng ngày càng tăng. Ở nam giới, UTĐTT
đứng thứ 4 với tỷ lệ mắc 11,5/ 100.000 dân, tỷ lệ tử vong 8,0/ 100.000 dân. Ở
nữ, UTĐTT đứng thứ 6 với tỷ lệ mắc 9,0/100.000 dân, tỷ lệ tử vong 6,1/
100.000 dân [1]. Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở Hà Nội 7,5/100.000 dân, thành
phố Hồ Chí Minh là 9,0/100.000 dân [7].

1.2.2.4. Cơ chế sinh ung thư
Qua trình sinh bệnh của ung thư đại trực tràng trải qua nhiều giai đoạn,
liên quan đến tổn thương nhiều gen sinh ung thư do tác động của các yếu tố
gây ung thư [8].
1.2.2.5. Cách xâm lấn và di căn xa của ung thư biểu mô trực tràng
- Mức độ xâm lấn của UTTT:
+ Xâm lấn theo chiều dày thành trực tràng: UT xâm lấn qua lớp cơ niêm
vào lớp cơ theo đám rối bạch mạch trong cơ. Nhiều nghiên cứu cho thấy để xâm
lấn hết các lớp thành trực tràng cần mất khoảng thời gian từ 9 – 12 tháng.
+ Xâm lấn theo chiều rộng: UT phát triển hết toàn bộ chu vi trực tràng
cần khoảng thời gian từ 12 – 24 tháng.
+ Xâm lấn theo chiều dọc thành trực tràng: UT ít lan rộng hơn, nghiên
cứu của William cho thấy diện cắt cách rìa u 2cm cho thấy 97,5% không còn
tế bào ung thư.
+ Theo đường kế cận: Tổ chức mỡ quanh trực tràng thường bị xâm lấn,
sau đó là các cơ quan lân cận như tử cung, âm đạo, bàng quang, tiền liệt tuyến
và xâm lấn xương cùng cụt khi bệnh đã tiến xa.
- Di căn xa của UTTT:
+ Theo đường bạch mạch: UTTT di căn theo đường này là quan trọng
nhất. Theo Gilchrist, tế bào ung thư xâm lấn tơi đám rối bạch mạch dưới
niêm, rồi đến lớp cơ, sau đó đến hạch bạch huyết cạnh trực tràng, hạch chậu
và hạch chủ bụng.


8

+ Theo đường máu: Tế bào ung thư gây di căn xa bằng cách xâm nhập
vào lòng mạch đi đến các cơ quan khác như gan, phổi và lan tràn phúc mạc
chiếm khoảng 25 – 30% [9].
1.3. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TRỰC TRÀNG

+ Giai đoạn 4: U cố định.
Thăm khám hệ thống hạch (hạch cổ, hạch bẹn), khám bụng (đôi khi sờ
thấy khối u, gan to, dịch ổ bụng...), những triệu chứng tắc ruột do khối u....
1.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng
1.3.2.1. Nội soi trực tràng
Soi trực tràng ống cứng cho đến nay vẫn còn là phương pháp quan trọng
để chẩn đoán UTTT, cho biết chính xác u về hình dạng, kích thước và vị trí u
cách rìa hậu môn từ đó đưa ra phương pháp điều trị thích hợp.
Ngoài ưu điểm: rẻ tiền, kỹ thuật đơn giản, kỹ thuật này còn được dùng
để thực hiện sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học và có thể thực hiện một số thủ
thuật như cắt polyp, đặt đầu dò siêu âm [12].
1.3.2.2. Siêu âm nội trực tràng (Endorectal ultrasonography)
Siêu âm nội trực tràng có độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao, dựa trên hình
hình siêu âm đầu dò qua trực tràng để đánh giá mức độ xâm lấn của khối u, do
đó đánh giá giai đoạn khối u tốt hơn so với các phương pháp chẩn đoán hình
ảnh khác, từ đó giúp phẫu thuật viên có thể lựa chọn phương pháp phẫu thuật
bảo tồn cơ thắt hậu môn hay không. Tuy nhiên đây là phương pháp mới, khó
và phụ thuộc vào trình độ của người làm nên không phải trung tâm nào cũng
triển khai được [13].
1.3.2.3. Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng 64-128 dãy(CLVT)
Đây là một trong những phương tiện cho phép xác định vị trí, mức độ
xâm lấn của khối u, tình trạng các tạng ở tiểu khung, hạch ổ bụng, gan...với
độ chính xác về khối u từ 50% - 90%, di căn hạch là 70% - 80% [8].


10

Nguyên lý chính của chụp cắt lớp vi tính trong xác định tổn thương u
tại trực tràng là dựa vào độ dày của thành trực tràng, bình thường trên hình
ảnh CLVT thành trực tràng dày 3mm, với các tổn thương dày 6mm trở nên là

Chụp MRI tiểu khung là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tốt nhất để
đánh giá xâm lấn tại chỗ và di căn hạch vùng đối với ung thư trực tràng, có
giá trị cao hơn CLVT trong đánh giá giai đoạn xâm lấn khối u (T) và di căn
hạch (N) với độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 90%. Chụp MRI còn cho phép đánh
giá diện phẫu thuật nên có ý nghĩa trong điều trị và tiên lượng khả năng tái
phát tại chỗ sau PT [8].
1.3.2.5. Ghi hình cắt lớp bằng positron PET-CT (Positron Emission
Tomography - Computed Tomography)
Hiện nay là một trong những xét nghiệm cận lâm sàng hiện đại đã giúp
đánh giá chính xác hơn giai đoạn của nhiều bệnh ung thư nói chung và UTTT
nói riêng. PET/CT được dùng để đánh giá u, hạch, tình trạng di căn xa; đánh
giá giai đoạn ung thư đại trực tràng trước và sau phẫu thuật, hoá trị, xạ trị với
độ nhạy đạt đến 90% và độ đặc hiệu trên 70%. PET/CT giúp đánh giá giai
đoạn bệnh trước điều trị từ đó đưa ra quyết định điều trị phù hợp nhất cho
bệnh nhân. Ngoài ra còn giúp theo dõi đáp ứng điều trị, tiên lượng bệnh, phát
hiện tổn thương tái phát, di căn [16],[17].
1.3.2.6. Chụp X quang bụng, khung đại tràng
Chụp khung đại tràng có chất cản quang: Hiện ít ứng dụng.
Chụp bụng không chuẩn bị được chỉ định trong trường hợp cấp cứu để
chẩn đoán tắc ruột hoặc thủng ruột.
1.3.2.7. Xạ hình xương
Phương pháp này dùng để phát hiện các di căn vào xương trước khi
thấy được trên phim X quang và để xác định mức độ lan rộng thực sự của di
căn xương khi đã thấy tổn thương xương, tuy nhiên đây là phương pháp có độ
đặc hiệu không cao [18].


12

1.3.2.8. Xét nghiệm CEA (Carcino-Embryonic Antigen)

trực tràng. Phân loại TNM theo UICC 2010, mới đây nhất là phiên bản 2017
( xin xem phụ lục)

Hình 1.3: Phân loại các giai đoạn UTĐTT [21]
1.4. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG
1.4.1. Phẫu thuật ung thư trực tràng
Phẫu thuật là phương pháp chủ yếu trong điều trị UTTT, bao gồm phẫu
thuật triệt căn và phẫu thuật tạm thời.
1.4.1.1. Phẫu thuật triệt căn
- Phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn:
+ Phẫu thuật cắt đoạn trực tràng đường bụng: U trực tràng cao và trung bình
+ Phẫu thuật Babcock-Bacon: Hiện nay ít thực hiện vì dễ hẹp hậu môn
và són phân
+ Phẫu thuật cắt đoạn trực tràng Parks-Malafosse:Đưa đại tràng xuống
hậu môn nối với cơ tròn tạo lại hậu môn. Chỉ định cho những ung thư trực
tràng cách rìa hậu môn 4-5 cm.
+ Phẫu thuật cắt trực tràng xuyên cơ thắt


14

+ Phẫu thuật cắt u qua đường hậu môn hoặc cắt u dưới niêm mạc qua
nội soi trực tràng: Chỉ định cho UTTT giai đoạn sớm (T1N0M0).
+ Phẫu thuật Hartmann: Cắt đoạn trực tràng, làm hậu môn nhân tạo đại
tràng sigma, đầu dưới đóng lại. Hiện nay ít sử dụng, chủ yếu áp dụng cho các
trường hợp mổ cấp cứu hoặc những bệnh nhân khó khăn về hồi sức, gây mê…
- Phẫu thuật phá hủy cơ thắt: Phẫu thuật cắt cụt trực tràng đường bụng – tầng
sinh môn (phẫu thuật Miles). Chỉ định cho u cách rìa hậu môn
lượng: S=e-α D trong đó α là độ nhạy cảm bức xạ của tế bào; D là tổng liều có
thể thu được từ từ mỗi thể tích bia đơn lẻ [24],[25].
1.4.2.2. Các thể tích xạ trị
+ Thể tích xạ trị trong bệnh UTTT: Gồm khối u hoặc nền khối u (sau
PT) + 2-5 cm rìa khối u, hạch trước xương cùng và hạch chậu trong. XT thêm
hạch chậu ngoài (khi u ở giai đoạn T4). Đối với các trường hợp đã được phẫu
thuật cắt u đường bụng-tầng sinh môn (PT Milles), trường chiếu phải bao
gồm tầng sinh môn, các lỗ dẫn lưu nhằm hạn chế tái phát tại chỗ [10],[20].
+ Xác định các cơ quan cần bảo vệ trong xạ trị UTTT: Gồm bàng
quang, ruột non, cổ xương đùi, tiền liệt tuyến, tử cung, âm đạo [20],[26].
1.4.2.3. Mục đích xạ trị [20], [27]
+ Xạ trị triệt căn: Xạ trị với mục đích điều trị triệt căn được chỉ định
cho những UTTT sớm: u < 3cm, thể biệt hoá tốt, u di động, không có tổn
thương hạch vùng trên siêu âm nội trực tràng.


16

+ Xạ trị trước mổ: Xạ trị trước mổ được chỉ định cho UTTT giai đoạn
T3, T4 và/ hoặc N1-2,đây chính là giai đoạn bệnh tiến triển tại chỗ theo phân
loại của UICC 2010 [32],[33]. Có tác dụng làm giảm kích thước khối u, góp
phần giúp cho phẫu thuật dễ dàng đạt được triệt căn hơn.
+ Xạ trị trong mổ (IORT: Intraoperative Radiotherapy): Bệnh nhân
được xạ trị ngay sau khi phẫu thuật, đặc biệt có ý nghĩa giúp diệt nốt tế bào
ung thư ở những bệnh nhân UTTT phẫu thuật tiếp cận từ đó giúp giảm nguy
cơ tái phát tại chỗ, tăng thời gian sống thêm.
+ Xạ trị sau mổ: Chỉ định xạ trị sau phẫu thuật cho UTTT có u xâm lấn
tổ chức quanh trực tràng, di căn hạch sau mổ hoặc diện cắt dương tính, liều xạ
45-50Gy.
+ Xạ trị phối hợp cả trước và sau phẫu thuật: Phác đồ điều trị UTTT

- Xạ trị áp sát:
Xạ trị áp sát suất liều cao (High Dose Rate - HDR) là kỹ thuật đưa
nguồn phóng xạ áp sát vào khối u. Nguồn phóng xạ được sử dụng trong điều
trị thường là Iridium 192 (Ir-192). Xạ trị đóng vai trò quan trọng trong điều
trị ung thư, đặc biệt xạ trị áp sát là một phương thức điều trị không thể thiếu
cho các tiến trình điều trị với mục đích nâng liều tại chỗ và kiểm soát được
liều lượng bức xạ [26],[35].
1.4.2.5. Phân liều xạ trị
Trên thế giới đã có nhiều tác giả, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các
phương pháp mới điều trị UTTT như: xạ trị trước mổ phối hợp với hoá trị, xạ
trị điều biến liều, xạ trị phân liều phối hợp với phẫu thuật đã làm tăng thêm
khả năng phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật bảo tồn UTTT, kéo dài thời gian
sống thêm so với các phác đồ kinh điển và cải thiện chất lượng cuộc sống tốt
hơn cho người bệnh.
- Xạ trị ung thư trực tràng thường quy:
Ở nước ta, xạ trị UTTT được áp dụng từ năm 1984 trở lại đây, phương
pháp chủ yếu là xạ trị Cobalt với liều xạ thường quy 2 Gy/ngày, tổng liều xạ


18

36Gy, tuy nhiên kết quả điều trị còn hạn chế. Mặt khác, với xạ trị Cobalt theo
phương pháp xạ trị 2 chiều (2D), năng lượng thấp (1,17 - 1,33 MeV) thường
dễ tổn thương tổ chức lành xung quanh nên ít được sử dụng. Hiện nay xạ trị
thường quy với máy gia tốc được chỉ định liều xạ là 44-50Gy.
- Xạ trị liều cao phân liều: ứng dụng xạ trị trước mổ liều cao 25Gy
trong 5 buổi, sau đó phẫu thuật. Một số kết quả cho thấy tỉ lệ sống thêm cao
hơn phẫu thuật đơn thuần và tỉ lệ tái phát tại chỗ giảm rõ rệt [29].
- Xạ trị đa phân liều (Hyperfraction): Quá trình xạ trị hàng ngày được
phân liều làm 2 lần điều trị, nhưng không làm thay đổi liệu trình xạ trị. Ưu điểm

Năm 1950 trên thế giới người ta bắt đầu các thử nghiệm đơn hoá trị liệu
trong UTĐTT. Năm 1957, Heidelberger tổng hợp ra 5FU. Năm 1989, nhóm
nghiên cứu ở Mayo Clinic sử dụng phác đồ 5FU kết hợp với Levamisol cho kết
quả thời gian sống thêm cao hơn so với phẫu thuật đơn thuần với BN giai đoạn
III. Năm 2005 thử nghiệm X-act được tiến hành tại châu Âu và Canada sử dụng
Capecitabine trong UTĐTT sau mổ cho kết quả tuong tự truyền FUFA. Từ đó
nhiều phác đồ hóa chất được nghiên cứu và áp dụng trong điều trị bệnh UTĐTT.
1.4.3.1. Hóa trị bổ trợ
Hoá trị bổ trợ được chỉ định cho UTTT giai đoạn II có yếu tố nguy cơ
cao, giai đoạn III nhằm làm tăng thêm tỷ lệ sống trên 5 năm. Trong thập niên
gần đây với sự tìm ra một số thuốc mới để điều trị bổ trợ UTTT như
Irinotecan (ức chế D/VA Topoisomerase) với các phác đồ FOLFOX4,
FOLFOX6, FOLFIRI, CapeOX... đã đem lại kết quả điều trị bổ trợ cao hơn
hẳn so với các phác đồ cũ [31].
1.4.3.2. Hóa trị tạm thời
Những bệnh nhân UTTT giai đoạn muộn, không còn chỉ định điều trị
triệt căn, sử dụng hoá chất toàn thân, để điều trị triệu chứng chống đau, chống


20

chèn ép nhằm cải thiện thêm chất lượng sống cho người bệnh. Hiện nay, các
bệnh nhân UTTT giai đoạn di căn xa được điều trị bằng các phác đồ
FOLFOX4, FOLFOX6, CapeOX kếp hợp với Bevacizumab hoặc Cetuximab
cho kết quả khả quan.
1.4.3.3. Hóa trị phối hợp với kháng thể đơn dòng
Kháng thể đơn dòng phối hợp hóa trị được chỉ định cho các bệnh nhân
UTĐTT giai đoạn di căn. Các kháng thể đơn dòng trong điều trị UTTT bao gồm:
Bevacizumab (Avastin), Cetuximab (Erbitux), Panitumumab (Vectibix) [32].
1.4.3.4. Hóa xạ trị phối hợp


5FU 250mg/m2 truyền tĩnh mạch ngày 1-14 và 22-35 và Oxaliplatin 50mg/m 2
truyền tĩnh mạch ngày 1,8,22,29

5.

5FU 225mg/m2 truyền tĩnh mạch 5 ngày/tuần vào các ngày xạ trị

6.

Capecitabine 800-825mg/m2 uống 2 lần/ngày, 5 đến 7 ngày/tuần, kết hợp với
xạ trị

7.

UFT (300-350mg/m2/ngày) và Leucovorin 22,5-90mg/ngày uống, 5 đến 7
ngày/tuần, kết hợp với xạ trị [33], [34].
1.5. HÓA CHẤT SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
Chúng tôi lựa chọn Capecitabine là thuốc dùng đồng thời trong khi xạ trị
trước mổ cho bệnh nhân ung thư trực tràng thấp giai đoạn tiến triển tại chỗ vì
đây là hoá chất giúp tăng mức độ nhạy cảm của khối u với bức xạ, ít độc tính,
dạng uống nên thực hiện đơn giản, dễ sử dụng.
Capecitabine
Là thuốc kìm tế bào,
viên 150mg và 500mg, đường dùng: uống
1.5.1. Chỉ định điều trị bệnh ung thư đại trực tràng:
Điều trị bỗ trợ cho những bệnh nhân UTĐTT, điều trị phối hợp với xạ
trị trước mổ và sau mổ cho bệnh nhân UTTT, điều trị cho những bệnh nhân
UTĐTT di căn.
1.5.2. Chống chỉ định

- Tiêu hóa: Khô miệng, đầy bụng, tiêu chảy, viêm thực quản, dạ dày,
viêm tá tràng, viêm đại tràng, chảy máu dạ dày. Suy gan và viêm gan ứ
mật.
- Tim mạch: Phù chi dưới, đau ngực do tim bao gồm đau thắt ngực,
bệnh cơ tim, thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim, suy tim, đột tử, nhịp tim
nhanh, rung nhĩ và ngoại tâm thu thất.


23

- Thần kinh: Rối loạn vị giác, mất ngủ, nhầm lẫn, bệnh não, và các
dấu hiệu về tiểu não như thất điều tiểu não, loạn vận ngôn, giảm thăng
bằng, phối hợp bất thường. Các rối loạn tâm thần: trầm cảm.
- Toàn thân: Suy nhược, đau chân, ngủ lịm, đau ngực.
- Huyết học: thiếu máu, suy tủy.
- Da: Ngứa, tróc da khu trú, các rối loạn móng, các phản ứng nhạy
cảm với ánh sáng, hội chứng xuất hiện lại các tác dụng phụ giống như khi
xạ trị, bong móng, móng dễ gãy, loạn dưỡng móng.
1.6. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ HOÁ XẠ
TRƯỚC MỔ BỆNH UNG THƯ TRỰC TRÀNG
1.6.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về hoá-xạ trị trước mổ bệnh ung
thư trực tràng
Tác giả Kim JS và cs (2002) nghiên cứu 45 BN UTTT giai đoạn cT3,
T4 hoặc N+ được điều trị HXT trước mổ. Xạ trị 45Gy/25 buổi vào vùng
khung chậu, tiếp theo là xạ trị thêm 5,4Gy/3 ngày vào vùng u nguyên phát kết
hợp với Capecitabine (1650mg/m2/ngày) và leucovorin 20mg/m2/ngày trong 14
ngày, sau đó nghỉ 7 ngày (chu kỳ 21 ngày). Phẫu thuật được tiến hành sau khi
hoàn thành HXT 6 tuần. Kết quả: 38 bệnh nhân được PT, HXT giúp hạ thấp giai
đoạn cho u và hạch là 63% và 90% tương ứng. Tỷ lệ hạ thấp giai đoạn tính
chung cho cả u và hạch là 84%. 31% đáp ứng hoàn toàn (trên mô bệnh học); 21

tiến triển tại chỗ được điều trị HXT đồng thời (45Gy với Capecitabine
825mg/m2 hai lần một ngày vào các ngày XT), sau đó nghỉ 4-6 tuần rồi phẫu
thuật cắt đoạn trực tràng. Kết quả cho thấy sau HXT có 4 BN đạt đáp ứng
hoàn toàn trên mô bệnh học (9,3%) và có 32 bệnh nhân hạ thấp giai đoạn
(74,4%). Phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hậu môn đạt 20/43 BN (46,5%). 75% BN
ở giai đoạn cT3. Độc tính chủ yếu ở mức độ trung bình và không có bệnh
nhân nào phải ngừng điều trị. Thiếu máu độ 2 gặp 4 BN (9,3%), hạ bạch cầu:


25

4,7% và viêm da do xạ trị 9,3% BN [39].
Tác giả Valentini V và cs (2009) nghiên cứu 100 BN UTTT giai đoạn
T4, M0 được điều trị bằng HXT trước mổ cho kết quả có 78 BN được PT triệt
căn, nữ nhiều hơn nam (93% so với 67%) với tỷ lệ đáp ứng với HXT trước mổ là
94% và 60% tương ứng. Tỷ lệ bảo tồn cơ thắt hậu môn là 57%, chủ yếu là UTTT
giữa. Thời gian theo dõi trung bình là 31 tháng (4-136 tháng) có 7 bệnh nhân tái
phát tại chỗ (10%). Với nhóm phẫu thuật triệt căn tỷ lệ kiểm soát tại chỗ 5 năm là
90%, tái phát với tổn thương di căn xa gặp trên 24 bệnh nhân (30%) [40].
Tác giả Park IJ và cs (2012) nghiên cứu hồi cứu trên 725 BN UTTT
giai đoạn tiến triển tại chỗ được điều trị hóa xạ trị trước mổ và sau đó được
phẫu thuật triệt căn. Mô bệnh học thu được: 131BN (18,1%) ypT 0N0, 210BN
(29,0%) ypT1-2N0, 164BN (22,6%) ypT3-4N0, 210 BN (29%) ypTanyN(+). Đánh
giá đáp ứng trên mô bệnh học sau mổ được chia làm 3 nhóm: đáp ứng hoàn
toàn (T0N0), đáp ứng một phần (T1-2,N0), đáp ứng kém (T3-4N0, TanyN0). Thời
gian theo dõi trung bình là 65 tháng, thu được kết quả sống thêm không bệnh
trong 5 năm tương ứng là 90,5%, 78,7%, 58,5% (p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status