Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, mặc dù đã rất cố gắng song khóa luận
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự
đóng góp chỉ bảo của các thầy cô, cán bộ thư viện và bạn bè để đề tài được hoàn
chỉnh hơn.
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Thông tin - Thư
viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;
cảm ơn Ban Giám hiệu và các cán bộ tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Hà Nội
đã tạo điều kiện giúp tôi thực hiện khóa luận này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Thúy Hạnh giáo viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề
tài, giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Nguyễn Thị Liên
Page 1
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài “Ứng dụng phân hệ sưu tập số của phần mềm Libol
6.0 tại Thư viện trường Đại học Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi với
sự hướng dẫn của Thạc sỹ Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Đề tài này được tác giả độc lập
nghiên cứu trên cơ sở tham khảo tài liệu, khảo sát tại Thư viện Hà Nội và sự phân
tích, đánh giá tổng hợp của bản thân.
Hà Nội, ngày 05 tháng 03 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Liên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NDT
Người dùng tin
OPAC
Mục lục tra cứu trực tuyến
TLS
Tài liệu số
XML
Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng
MỤC LỤC
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, nó thúc
đẩy tiến trình phát triển của mọi lĩnh vực. Thông tin làm nên những cuộc cách
mạng mang tính đột phá của nền văn minh nhân loại. Những lợi ích mà cách mạng
thông tin đem lại cho loài người là không thể đong đếm được, nó vô cùng to lớn và
hữu ích. Xã hội hóa thông tin là một trong những mục tiêu quan trọng của hoạt
những kiến thức thực tế cho bản thân và góp một phần nhỏ bé vào việc tìm ra giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài liệu số tại Trung tâm Thông tin – thư
viện, phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục, đào tại và các nhu cầu khác của người
dùng tin, góp phần vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế tri thức của đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
2. 1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát việc ứng dụng phân hệ Sưu tập
số của phần mềm Libol 6.0 và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác
Bộ sưu tập số tại Thư viện trường Đại học Hà Nội. Qua việc khảo sát, khóa luận sẽ
trình bày rõ những ứng dụng cụ thể của phân hệ sưu tập số - Libol 6.0 tại Thư viện,
đồng thời đưa ra đánh giá, nhận xét và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả khai thác và sử dụng bộ sưu tập số.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết được mục đích đề ra, nhiệm vụ của khóa luận là:
- Nêu được khái niệm, đặc điểm của tài liệu số và bộ sưu tập số, quy trình số
hóa và xây dựng bộ sưu tập số.
- Đặc điểm khái quát của Thư viện trường Đại học Hà Nội.
Nguyễn Thị Liên
Page 5
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
- Trình bày thực trạng ứng dụng tính năng của phân hệ sưu tập số - Libol 6.0
trong xây dựng, quản lý và khai thác tài nguyên số tại Thư viện Đại học Hà Nội.
- Nhận xét,đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bộ
sưu tập số tại Thư viện Đại học Hà Nội.
3. Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại có một số công trình nghiên cứu và tìm hiểu về
Libol 6.0 tại Thư viện Đại học Hà Nội là vấn đề mà tôi quyết định lựa chọn làm đề
tài khóa luận cho mình để bổ sung phong phú hơn vào các vấn đề nghiên cứu về
Thư viện Đại học Hà Nội. Đồng thời với việc tìm hiểu như vậy tôi muốn đem một
phần kiến thức nhỏ bé đã được tiếp nhận trong quá trình học tập tại trường vào
thực tế ngành học của mình. Từ đó đưa ra những nhận xét và giải pháp về vấn đề
mà tôi đã nghiên cứu, để có sự so sánh rõ ràng hơn về khoảng cách giữa lý thuyết
và thực tế, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân về ngành nghề mà mình sẽ gắn bó lâu
dài trong tương lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu việc ứng dụng tính năng
của phân hệ sưu tập số - libol 6.0 tại Thư viện Đại học Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn về mặt không gian và thời gian
là: “Thực trạng ứng dụng phân hệ sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 và giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng bộ sưu tập số tại Thư viện trường Đại học Hà Nội giai
đoạn hiện nay”
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Nguyễn Thị Liên
Page 7
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
Khóa luận được viết trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lê nin.
* Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát thực tế
- Trao đổi với cán bộ Thư viện
- Quan sát, ghi chép, thu thập. chọn lọc và tích hợp thông tin
một vài thiết bị chuyên dụng và hệ thống mạng máy tính”.
Tiêu chuẩn GOST R 51141-98 của Nga: “Tài liệu điện tử là những tài liệu
được tạo lập do sử dụng các vật mang tin và các phương pháp ghi bảo đảm xử lý
thông tin của nó bằng máy tính điện tử.
Đối với một số tài liệu ở dạng truyền thống: sách, báo, luận văn… việc số
hóa tài liệu này có thể ở các cấp độ khác nhau: Số hóa thư mục, số hóa dữ kiện, dữ
kiện và số hóa toàn văn.
Tài liệu số hóa thư mục là tài liệu chỉ được số hóa phần thư mục. Trong đó
các yếu tố thư mục được đưa vào số hóa bao gồm một số hoặc tất cả các yếu tố
sau: Tác giả, tên tài liệu, nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản, khổ cỡ của tài
liệu, số trang, chỉ số ISBN hoặc ISSN… Ngoài ra còn một số các yếu tố khác là:
Ký hiệu phân loại tài liệu, ký hiệu xếp giá tài liệu, ký hiệu định chủ đề, các từ
khóa, bản tóm tắt nội dung tài liệu…
Tài liệu số hóa dữ kiện, dữ kiện là tài liệu ngoài phần số hóa thư mục còn có
thêm phần số hóa một số dữ kiện, dữ liệu của tài liệu gốc nhưng không phải là toàn
bộ các thông tin chứa đựng trong tài liệu gốc. Các dữ kiện, dữ liệu này có thể là
Nguyễn Thị Liên
Page 9
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
thông tin lịch sử, số liệu thống kê, biểu đồ tăng trưởng, thành phần cấu tạo, một số
nhận định, phân tích và dự báo được nêu trong tài liệu gốc…
Tài liệu số hóa toàn văn có nội dung của tài liệu gốc đã được số hóa. Đây là
loại hình tài liệu số hóa trọn vẹn nhất, có giá trị sử dụng lớn nhất trong số các loại
hình tài liệu số hóa. Bởi giá trị thông tin nằm ngay ở chính nội dung được số hóa,
chứ không phải quy định bởi tên tác giả, tên tài liệu… hay một vài dòng xuất hiện
trong nguồn tin.
1.1.2. Đặc trưng của tài liệu số hóa
phản ánh cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người.
Như vậy, một Thư viện số có thể bao gồm nhiều bộ sưu tập theo các chủ đề
khác nhau, có thể do tập thể hoặc cá nhân tự xây dựng hoặc trao đổi, mua bán. Có
thể nằm trong lưu trữ của thư viện nhưng cũng có thể nằm ngoài thư viện thông
qua một kênh cung cấp từ phía đối tác.
Sự có mặt của các nguồn tin số hoá mở đầu một chiều hướng mới trong việc
quản lý các thư viện được tin học hoá, bởi vì cũng cần đảm bảo việc quản lý bản
thân các nguồn số hoá gắn liền với sự thông báo trong mục lục truyền thống. Như
vậy các thư viện số đã bổ sung vào hệ thống quản lý thư viện tích hợp một hệ
thống quản lý các nguồn số hoá trong quá trình xây dựng các sưu tập thông tin. Sự
hiện diện đồng thời dưới dạng số của một nguồn lực và hình thức mô tả nguồn đó
tác động đến sự tiến triển của các khổ mẫu dữ liệu.
Tóm lại, Bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu dưới dạng số
về một chủ đề nhất định được lưu giữ, quản lý và khai thác thống nhất bằng máy
tính thông qua một giao diện thống nhất.
Nguyễn Thị Liên
Page 11
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
1.2.2. Đặc điểm của bộ sưu tập số
Bộ sưu tập số là lựa chọn tối ưu để bảo tồn được lâu dài các tài liệu quý
hiếm, ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai, khí hậu và do tần
suất sử dụng. Vì vậy xây dựng bộ sưu tập số là vấn đề đáng được quan tâm ở nhiều
thư viện trên cả nước.
Bộ sưu tập số có những đặc tính nổi trội mà dịch vụ thư viện truyền thống
chưa có như:
- Bộ sưu tập số tạo ra một môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất
sử dụng.
1.3. Quy trình số hóa tài liệu, xây dựng bộ sưu tập số
Số hóa tài liệu là một quy trình đòi hỏi nhiều thời gian, do đó, trước khi xây
dựng dự án số hóa, các cơ quan thông tin - thư viện cần tự trả lời những câu hỏi
sau đây: tại sao cần số hóa tài liệu, số hóa để làm gì; đối tượng phục vụ là ai; số
lượng tài liệu cần số hóa; ai sở hữu tài liệu đó; bản quyền tài liệu thuộc về ai, thời
gian thực hiện dự án; ngân sách để tạo lập và duy trì; ai chịu trách nhiệm giải quyết
khó khăn của dự án (nếu có); số hóa tài liệu như thế nào; định dạng sản phẩm là gì
(ảnh / văn bản...); mô tả tài liệu như thế nào, dùng chuẩn biên mục gì; quy định các
chính sách truy cập tài liệu số (ai, mức độ truy cập, miễn phí hay có thu phí…);
bảo quản và duy trì phục vụ như thế nào...
Sưu tầm tài liệu
Đây là công đoạn đầu tiên trong quy trình số hóa tài liệu, bao gồm việc cân
nhắc, lựa chọn và xác định những đối tượng tài liệu nào được đưa vào số hóa. Các
thư viện cần đưa ra những tiêu chí cụ thể làm cơ sở và căn cứ cho việc lựa chọn
các tài liệu như:
Nguyễn Thị Liên
Page 13
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
Vấn đề bản quyền: bản quyền cực kỳ quan trọng trong việc lựa chọn tài liệu,
vì tài liệu sau khi số hóa sẽ được đưa lên internet. Trước khi số hóa, thư viện phải
tuân thủ luật bản quyền tác giả của Việt Nam cũng như luật bản quyền quốc tế. Tuy
nhiên những ý thức về vấn đề bản quyền cũng như những quy định về vấn đề sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự rõ ràng và còn thiếu các văn bản
pháp luật hướng dẫn và quy định cụ thể. Chính vì vậy, hiện nay nhiều thư viện ở
Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc lựa chọn các tài liệu để số hóa. Nhiều thư
quản lý người dùng và các phần mềm hệ thống có bản quyền; trang web đăng tải
và là cổng truy cập của người dùng vào bộ sưu tập; phần mềm quản lý tài liệu số.
Phần mềm quản lý tài liệu số phải đáp ứng các yêu cầu như: tạo siêu dữ liệu theo 3
dạng (siêu dữ liệu mô tả: mô tả các thông tin về tài liệu, siêu dữ liệu cấu trúc: mô
tả các liên kết giữa các đối tượng thông tin liên quan của tài liệu như mục lục,
chương, phần, trang sách, hình ảnh minh họa, phụ lục... giúp người dùng dễ dàng
di chuyển đến các thành phần của tài liệu, siêu dữ liệu quản trị: gồm tạo kích cỡ tập
tin, định dạng tài liệu (PDF), đặc tính sử dụng và tình trạng của tài liệu); mô tả dữ
liệu (theo một trong các chuẩn siêu dữ liệu MARC, Dublin Core, MODS, METS,
ISO 2709 trong đó chuẩn Dublin Core tương đối phổ biến vì có khả năng tùy biến
cho các tiêu chuẩn khác với 15 trường biên mục); vận hành liên kết (tạo ra một
giao diện tra cứu tích hợp cho người dùng trên nhiều bộ sưu tập cùng một lúc dựa
trên các điểm truy cập nhất quán như tác giả, nhan đề tài liệu, từ khóa, tiêu đề chủ
đề, chỉ mục quốc gia... ); quản lý các nguồn dữ liệu truy cập được cho phép, phần
này chưa có trong các phần mềm nguồn mở, theo đó chỉ có các thành viên đã được
đăng ký mới được quyền truy cập vào tài liệu hoặc quản lý chế độ download của
tài liệu; xuất - nhập dữ liệu để trao đổi với các hệ thống khác theo các chuẩn
chung.
Số hóa nguồn tài liệu
Đây là công đoạn đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, kinh phí nhưng lại là khâu
dễ dàng thực hiện nhất, bởi hiện nay công nghệ số hóa tài liệu đã tiến bộ rất nhiều.
Trước đây, muốn số hóa một cuốn sách khoảng 2000 trang thì phải mất vài ngày để
quét từng trang sách. Nhưng hiện nay cũng với cuốn sách đó chỉ mất vài giờ là cho
Nguyễn Thị Liên
Page 15
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
ra một sản phẩm tài liệu số đảm bảo chất lượng tốt, sắc nét, hình ảnh đẹp, giống
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
Trước khi vận hành thật các công đoạn: quét (scan), biên mục tài liệu, tải tài
liệu lên mạng,... thư viện sẽ thực hiện giai đoạn thử nghiệm bằng cách cho scan
khoảng 10 đơn vị tài liệu với đủ các loại hình: sách, tạp chí, bản thảo, tài liệu hành
chính, tranh ảnh,… và cho lưu trữ cũng như vận hành thử trên website để kiểm tra
về chất lượng, bao gồm kích cỡ của hình ảnh, vấn đề xử lý chung, dạng tập tin,
chiều sâu của bit, vùng sáng, vùng tối, giá trị âm thanh, độ sáng, độ tương phản, độ
phân giải, sự nhiễu, sự định hướng, tiếng động, sự điều chỉnh kênh màu, sự mất
văn bản, sự điều chỉnh hình ảnh, sựu mất đường truyền hay mất hình ảnh, sự sống
động, chất lượng truy cập, hình thức ngắn gọn, rõ ràng của văn bản…
Trong quá trình quét tài liệu, tạo sản phẩm số cho đến biên mục tài liệu số
nên được sao lưu, cất giữ bảo quản ở các dạng: bộ nhớ lớn của máy chủ, trên CDROM, trên ổ cứng di động...
Cung cấp, tải dữ liệu lên mạng là khâu cuối cùng của tiến trình số hóa, bao
gồm việc đưa bộ sưu tập lên mạng của thư viện để phục vụ trực tuyến và thiết kế
giao diện với người dùng: tạo ra các công cụ sử dụng, chính sách khai thác đối với
người dùng, ý kiến đóng góp, đánh giá của người sử dụng, xây dựng các ứng dụng
tùy biến, chính sách phát triển nguồn tài liệu… Tất cả các kết quả này cần được
thông qua trước hội đồng số hóa để hoàn chỉnh lần cuối trước khi công bố kết quả
bộ sưu tập đối với người dùng tin.
Xây dựng bộ sưu tập số là một xu thế tất yếu của các thư viện hiện nay nhằm
giải quyết vấn đề lưu trữ tài liệu, chia sẻ tài nguyên và cải thiện dịch vụ cung cấp
cho người dùng tin. Để làm được điều này, ngoài những nỗ lực của đội ngũ cán bộ
ngành thông tin - thư viện, cần phải có sự định hướng và quan tâm chỉ đạo từ các
cấp lãnh đạo nhằm thống nhất nhận thức cũng như hành động.
Nguyễn Thị Liên
Page 17
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
quá trình hoạt động, Thư viện đã không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật,
đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin
vào hoạt động nghiệp vụ.
Năm 2000 với chương trình đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất
lượng đào tạo ngoại ngữ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, Ban Giám hiệu trường
quyết định sát nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi tên thành “Trung tâm
Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”. Trung tâm thực hiện dự
án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới
WB (World Bank) mức A vốn đầu tư 500.000 USD để đầu tư nâng cấp cơ sở vật
chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết bị.
Ngày 5/12/2003 Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không
ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị. Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm đã
ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu
quả hoạt động thông tin thư viện.
Năm 2010 đổi tên thành “Thư viện Đại học Hà Nội”. Và hiện nay thư viện
Đại học Hà Nội đang đi vào hoạt động ổn định và từng bước hiện đại, ngày càng
đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của trường Đại học Hà Nội nói riêng và của
ngành đào tạo của nước ta nói chung.
1.4.2. Chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Thư viện Đại học Hà Nội có 4 chức năng cơ bản, đó là:
- Chức năng thông tin
- Chức năng văn hoá
- Chức năng giáo dục
- Chức năng nghiên cứu
Nguyễn Thị Liên
Page 20
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
Căn cứ quyết định số 668/QĐ ngày 14/07/1986 của Bộ trưởng Bộ Đại học
và trung học chuyên nghiệp về quy chế tổ chức và hoạt động của Thư viện đại học,
căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ tổ chức và hoạt động của Thư viện Đại học Hà
Nội, Thư viện được tổ chức theo sơ đồ sau:
BAN
GIÁM
ĐỐC
Tổ
Kĩ thuật
Tổ Nghiệp
vụ
Tổ
Dịch vụ và
Marketing
Tổ Tập
huấn và
giải đáp
thông tin
Tổ
•
Thư viện trung tâm
Tủ sách các Khoa
Tủ sách Phòng, Ban
Thư viện trung tâm
+ Tài liệu Tiếng Việt.
+ Tài liệu tra cứu: từ điển bách khoa, từ điển chuyên ngành, từ điển ngôn
ngữ, almanach, số liệu thống kê...
+ Báo và tạp chí in, tạp chí điện tử online.
+ Tài liệu nghiên cứu khoa học: Luận án, luận văn, công trình nghiên cứu
khoa học.
+ Tài liệu tự chọn: Sách nhiều thứ tiếng đã xử lý an ninh nhưng chưa biên
mục, được trung bày để bạn đọc tự chọn, nhằm đáp ứng nhanh nhất yêu cầu bạn
đọc và tiết kiệm không gian tư liệu.
+ Tài liệu tiếng nước ngoài (Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức...)
+ Tài liệu nghe nhìn.
+ Tài liệu trực tuyến.
+ Cơ sở dữ liệu trực tuyến
Nguyễn Thị Liên
Page 22
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
+ Bộ sưu tập số hóa tài liệu điện tử: Luận văn, file mp3, sách điện tử...
+ Các phần mềm dạy và học tiếng Anh trực tuyến qua mạng.
14974
Luận án, Luận
1108
2710
4
văn, Khóa luận
Bảng 1.1: Nguồn tài liệu truyền thống của TVĐHHN
Ngoài ra do quá trình bùng nổ thông tin và xu thế phát triển nguồn tài liệu
điện tử, Thư viện cũng đã và đang từng bước chuyển đổi nguồn tài liệu truyền
thống sang bổ sung tài liệu điện tử nhằm tiết kiệm vật chất, trang thiết bị lưu trữ,
bên cạnh đó lại đáp ứng nhu cầu của người dùng tin về chất lượng cũng như thói
quen sử dụng tài liệu của thư viện ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào, như: Cơ
sở dữ liệu (CSDL) ProQuest - Central, CSDL Emerald, và một số CSDL miễn phí
khác: CSDL chuyên ngành y - sinh học: Hinari; CSDL Ebsco - Host…
STT
Cơ sở dữ liệu
Số biểu ghi
1
Thư viện trường Đại học Hà Nội đã xây dựng được một số tủ sách các Khoa:
+ Tủ sách khoa Hàn Quốc
+ Tủ sách khoa tiếng Pháp
+ Tủ sách khoa tiếng Italia
+ Tủ sách khoa Giáo dục chính trị
+ Tủ sách khoa tiếng Đức
• Tủ sách Phòng, Ban
+ Tủ sách phòng Tổ chức Hành chính
+ Tủ sách phòng tài vụ
+ Tủ sách Y tế dự phòng
Đây là sự cố gắng không ngừng của thư viện và nhà trường nhằm tăng vốn
tài nguyên thư viện, đáp ứng nhu cầu phát triển của nhà trường và xã hội.
1.4.5. Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Có thể khái quát các nhóm người dùng tin chủ yếu của Thư viện như sau:
Nhóm 1: Sinh viên chính qui
Nhóm 2: Cán bộ, giảng viên
Nhóm 3: Học viên dự án
Nhóm 4: Học viên cao học
Nhóm 1: Sinh viên chính qui
Đây là nhóm người dùng tin đông đảo của Trung tâm, nhu cầu thông tin của
họ là rất lớn. Họ thường sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào dịp chuẩn
Nguyễn Thị Liên
Page 24
Khóa luận – K55 Thông tin – thư viện
bị làm đề tài, thực hiện các công tình nghiên cứu khoa học, bảo vệ khóa luận. Lúc