Luận văn Thạc sĩ Đánh giá đặc tính vật lý hóa học đất vườn trồng cam quýt ở huyện Lai Vung Đồng Tháp - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------------

NGUYỄN TRÀ NGUYÊN TRÂN

ĐÁNH GIÁ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ – HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN
TRỒNG CAM QUÝT Ở HUYỆN LAI VUNG - ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học : TS.Phạm Quang Khánh
Lớp: Cao học Quản lý đất đai khóa 2015

-TP. Hồ Chí Minh, tháng 4, năm 2016-


MỞ ĐẦU
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn
và phát triển. Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc thù
bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được – đó là độ phì nhiêu (Lê
Văn Khoa, 2004).
Đất được hình thành, phát triển và thoái hóa theo thời gian dưới tác động của điều
kiện tự nhiên và các hoạt động của con người (Wada, 2000).
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu về sự thoái hoá vật lý, hoá học và
sinh học ở các vùng đất thâm canh 03 vụ lúa/năm; trên các vườn cây ăn trái nhiều năm
tuổi bước đầu nghiên cứu cho thấy sự giảm hàm lượng chất hữu cơ, độ nén dẽ cao, hệ
số thấm của nước thấp (Võ Thị Gương, 2004).
Do hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây nhiều nhà vườn đã cải tạo vườn tạp,

Minh Viễn, 2004).
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005), đất là vật thể bao gồm các kích thước
hạt có kích thước khác nhau. Chính các cấp hạt này gọi là thành phần cơ giới. Tuỳ theo
tỷ lệ các cấp hạt mà đất có tính chất khác nhau. Ba cấp hạt: cát (Sand), thịt (Silt), sét
(Clay) sẽ tạo nên kết cấu của đất. Tỷ lệ các cấp hạt khác nhau dẫn đến sự khác nhau về
đặc điểm tính chất như: tỷ trọng, dung trọng, khả năng giữ nước, tính bền của đất...
Thành phần cơ giới là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá độ phì của đất (Nguyễn
Đăng Nghĩa và ctv, 2005). Đất Đồng bằng sông Cửu Long đa số là đất phù sa màu mỡ,
có thành phần cơ giới nặng nên khả năng giữ nước và hấp phụ chất dinh dưỡng tốt
chính vì thế phục vụ rất tốt cho việc sản xuất nông nghiệp.
Thành phần cơ giới đất là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến đặc tính của
đất như sự thấm nước, sự kiềm giữ nước, sự phát triển của rễ cây (Raymond W. Miller
et al, 2001) Trong nông nghiệp, thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng trong
nghiên cứu phát sinh đất, loại đất và các quá trình thổ nhưỡng của đất. Nhiều tính chất
hoá học, vật lý như khả năng giữ ẩm, khả năng giữ nhiệt và động thái nhiệt, chế độ khí


và động thái khí, CEC và khả năng điều tiết chất dinh dưỡng...đều liên quan đến thành
phần cơ giới (Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998).
1.1.2 Tính bền cấu trúc
Độ bền đoàn lạp là tính bền của tập hợp các phần tử đất, là đặc tính cấu trúc quan
trọng của đất giúp đo lường mức độ chịu đựng của đất dưới tác động của mưa, các lực
cơ giới khi cày hoặc hoạt động tưới nước.
Tính bền cấu trúc đất phụ thuộc vào hàm lượng của chất hữu cơ, hàm lượng sét
và các oxit sắt (Trần Kim Tính, 2003).
Tính bền của đất được xem như là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá chất lượng đất đai. Tính bền của đất có thể tác động mạnh mẽ đến đặc tính đất cả
về hoá học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003).
1.1.3 Dung trọng
Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng dùng để đánh giá độ phì vật lý và hoá

Tấu, 2006).
Nhìn chung tỷ trọng của đất đa số nhỏ ở các loại đất mùn và thường lớn ở
những loại đất khoáng. Do vậy thông thường ở những tầng mặt thì tỷ trọng của đất nhỏ
so với các tầng sâu hơn.
1.1.5 Độ xốp
Độ xốp của đất là phần trăm thể tích của đất được chiếm bởi không khí và nước
(Trần Bá Linh và ctv, 2006). Độ xốp là tổng các tế khổng trong đất biểu thị bằng % thể
tích đất. Độ xốp đất phụ thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ giới, dung trọng và tỷ
trọng đất. Khả năng thoáng khí, khả năng giữ nước phụ thuộc lớn vào độ xốp đất. Đối
với cây lúa độ xốp là chỉ tiêu không quan trọng, ngoại trừ các mao quản, lượng tế
khổng lớn chứa khí trong đất phải không dưới 25% cho đất canh tác cây trồng cạn. Độ
xốp thích hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng là 50%. (Võ Thị Gương và ctv,
2004).
Sự trao đổi không khí đặc biệt là sự khuếch tán oxy có ý nghĩa rất quan trọng cho
cây trồng. Việc giảm chất hữu cơ trong đất sẽ đưa đến giảm độ xốp đất. Đất kém
thông thoáng có thể giới hạn sự phát triển của rễ, đặc biệt ảnh hưởng đến việc hấp thu
chất dinh dưỡng (Lipiec and Stepniewski, 1995).
1.1.6 Hệ số thấm (Ksat)
Hệ số thấm bảo hoà Ksat là thông số chính để dự đoán dòng chảy bảo hoà
trong đất, ngoài các tác nhân khác làm ảnh hưởng đến hệ số thấm, sa cấu và cấu trúc
đất cũng làm cho hệ số thấm bị thay đổi một cách đáng kể. Chỉ tiêu này dùng để phân
biệt khả năng thấm và thoát nước của đất. Đất có giá trị Ksat cao sẽ có tác dụng thấm
nước và thoát nước nhanh không bị ngập úng (Radeliffe and Rasmussen, 2000).


Hầu hết đất lúa nước đạt năng suất cao tại Nhật Bản có tốc độ thấm trong
khoảng 20 – 30mm/ngày (Takai and Mada, 1997). Riêng ở Trung Quốc để đạt được
năng suất cao, tốc độ thấm trong đất từ 9 – 15 mm/ngày (Yang and Chen, 1961). Thực
tế thì tốc độ thấm tối hảo cho năng suất lúa tuỳ thuộc vào hàm lượng chất hữu cơ trong
đất và điều kiện hoạt động thích hợp của vi sinh vật đất. Khi ruộng lúa bị ngập liên tục

năng thấm nước và tăng dòng chảy trên mặt gây xói mòn đất, làm giảm khả năng nẩy
mầm và phát triển của cây trồng (Lê Văn Khoa và ctv, 2003).
Sự hình thành nên lớp váng ở bề mặt (do sự bong đất mặt) thì thường được thấy
nhiều hơn trên những vùng đất có hàm lượng thịt cao, hay cát mịn và hàm lượng sét
của nó tương đối thấp (Trần Kim Tính, 2003).
Việc canh tác làm phá huỷ cấu trúc đất sẽ làm giảm lượng tế khổng lớn trong đất
và tăng các tế khổng nhỏ ở bề mặt của tầng canh tác ảnh hưởng đến tính thấm của đất
(S.S Prihar et al, 1985).
Sự kết cứng của đất tác động trực tiếp đến sự nẩy mầm của hạt giống, sự tăng
trưởng của cây trồng, khả năng thoáng khí và thoát nước của đất. Tuy nhiên, ở một số
loại đất ở Châu Âu điều này có thể được thay đổi bởi sự thêm vào một lượng các
hydroxide sắt, nhôm vào trong đất như là tác nhân liên kết (Lê Văn Khoa, 2003).

Hình 1.7: Sự đóng váng kết cứng bề mặt khi đất khô
1.2. Hoá học đất
1.2.1 Độ chua hiện tại(pHH20)
Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng,
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản
ứng hóa học và sinh hóa trong đất. Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả
của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất.
pH đất ảnh hưởng đến độ hữu dụng của dinh dưỡng cây trồng, độc chất trong
đất, đến hoạt động của vi sinh vật đất (Tất Anh Thư, 2006). Theo Trần Thành Lập


(1999), đất Đồng bằng sông Cửu Long thường có pH thấp, đất phù sa không phèn
thường có pH = 4,0-5,5. Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng pH có thể

rất chặt chẽ với độ phì nhiêu của đất, nhất là trong điều kiện nhiệt đới ẩm của chúng ta.
Những thành tựu nghiên cứu về chất mùn ở điều kiện nhiệt đới ẩm của Castagnol
1942, Fridland 1958-1964, Duchaufour 1968...đã ghi nhận, về sau Ngô Văn Phụ
(1970-1979) đều cho rằng mùn ở đất Việt Nam rất quan trong việc tạo độ phì nhiêu đất
(Đỗ Ánh và ctv, 2000). Viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng hàm lượng chất hữu cơ
tối thích cho đất lúa nước là 4%. Nếu giảm 1% chất hữu cơ thì lân bị giữ chặt trong đất
tăng 50mg/100g đất (Đỗ Ánh và ctv, 2000).
Theo Thái Công Tụng (1971), sự ảnh hưởng của chất hữu cơ đến tính chất đất đai.
-

Ảnh hưởng của màu sắc đất đai: nâu đến đen

-

Ảnh hưởng đến tính chất hóa học của đất như: khả năng giữ nước, độ dẻo dính.

-

Ảnh hưởng đến khả năng trao đổi base như: làm cho đất đai hấp thụ được
nhiều chất base hơn, 30 - 90% ngoại hấp là do chất hữu cơ.

-

Cung cấp và tăng độ hữu dụng của chất dinh dưỡng.
Theo Trần Thành Lập (1999), đất ĐBSCL thường có hàm lượng chất hữu cơ

vào độ trung bình. Đất xám bạc màu có hàm lượng hữu cơ rất thấp 0,3 - 1,2%. Đất
giàu hữu cơ nhất ĐBSCL là đất than bùn, có hàm lượng hữu cơ đến 25%, đất phèn
cũng giàu chất hữu cơ ở tầng mặt.
Theo Lê Văn Khoa và ctv (2000), chất hữu cơ là chỉ tiêu số một về độ phì, nó ảnh

1.2.5 Độ dẫn điện dung dịch đất (EC)
Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng,
giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc của đất (Tất Anh Thư, 2006).
EC được tính bằng đơn vị mmhos trên centimet, chính mmhos cũng là trị số
nghịch đảo của đơn vị đo sức cản điện (ohms). Trị số mhos/cm là một đơn vị rất lớn,
phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ hơn trị số này rất nhiều (Trần Kim Tính, 2003).
EC là độ mặn của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong
dung dịch đất. Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất
phèn sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho cây
(Đỗ Thị Thanh Ren, 1999). Theo H. Eswaran (1985), cây lúa rất nhạy cảm với độ mặn,
cây lúa sẽ không phát triển được nếu trên đất lúa nước có EC > 6 mmhos/cm. EC = 4 –
6 mmhos/cm thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, nếu EC < 2 mmhos/cm thì
cây lúa phát triển bình thường.


1.3. Đặc điểm vùng nghiên cứu
1.3.1. Vị trí địa lý
Huyện Lai Vung nằm phía nam
tỉnh Đồng Tháp, có diện tích 23.793,55
ha, chiếm 6,79% diện tích toàn tỉnh
Đồng Tháp. Với dân số năm 2006 là
164.953 người, mật độ dân số khoảng
693,28 người/km2.
Về hành chính, Huyện có 12 đơn
vị hành chính bao gồm 01 thị trấn và 11
xã.
 Toạ độ địa lý:

Hình 1.9: Bản đồ đất huyện Lai Vung



1.3.2 Đặc điểm địa chất với vấn đề chất lượng đất đai và khả năng sử dụng đất
huyện Lai Vung.
Huyện Lai Vung có mẫu chất đơn giản tạo cho huyện một quỹ đất tương đối đồng
nhất, Huyện có các mẫu chất sau:
+ Đặc điểm địa chất huyện Lai Vung mang cấu trúc chung của tỉnh Đồng Tháp
cũng như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là loại trầm tích trẻ sông biển.
+ Loại đất được hình thành từ trầm tích sông, phân bổ ven sông lớn hình thành
đất phù sa chiếm hầu hết diện tích trong huyện.
Từ các đặc điểm địa chất và địa hình đã tạo nên lớp vỏ thổ nhưỡng thể hiện cấu
trúc đất đai khác nhau giữa các vùng trong huyện. Từ đó bố trí sử dụng đất sẽ khác
nhau.
1.3.3 Đặc điểm địa hình với vấn đề chất lượng đất đai và khả năng sử dụng đất.
Căn cứ bản đồ địa hình do viện Khảo sát Thiết Kế Thuỷ lợi Nam bộ lập năm
1982 cho thấy xu thế địa hình toàn huyện tương đối bằng phẳng thuận lợi cho canh tác
nông nghiệp.
Địa hình của huyện cao ở ven sông Tiền và phía sông Hậu, trũng lòng máng ở
giữa, cao độ phổ biến (+0,9)-(+0,1), cao nhất (+2,0), thấp nhất (+0,8), bề mặt địa hình
bị chia cắt bởi hệ thống kênh mương dầy đặc thuận lợi cho tưới, tiêu, song hạn chế
trong việc cơ giới hoá nông nghiệp.
Đất đai vùng ven sông Hậu là các dải đất phù sa ven sông và ven các kênh rạch
lớn lâu đời, hàng năm được phù sa bồi bắp, nguồn nước ngọt dồ dào quanh năm thuận
lợi cho việc phát triển lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và nuôi trồng
thuỷ sản.
1.3.4 Đặc điểm khí hậu
Huyện Lai Vung có đặc điểm khí hậu chung của tỉnh Đồng Tháp, nằm ở Đồng
bằng sông Cửu Long, chịu ảnh hưỏng của khí hậu nhiệt đới gió mùa gần xích đạo.
a- Gió:
Thịnh hành theo 2 hướng Tây Nam và Đông Bắc (tháng 5 – tháng 11), ngoài ra
còn có gió chướng (tháng 2 – tháng 4), cá biệt mùa mưa có gió lốc xoáy.

+ Mùa kiệt nối tiếp sau mùa lũ từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Chế độ thuỷ văn
trong sông, kênh chịu tác động trực tiếp của thuỷ triều biển Đông, mực nước giảm dần
đến tháng 1, 2 trở đi bắt đầu thấp hơn mặt ruộng, từ một số khu vực phía Nam có thể
lợi dụng thuỷ triều khai thác tưới tự chảy.
- Biên độ các tháng mùa kiệt lớn, biên độ bình quân từ 0,4 – 1,7 m.


+ Mùa lũ : Lũ xuất hiện ở Đồng Tháp từ tháng 7 đến tháng 11 vào loại sớm nhất
ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó các huyện thị phía Nam cũng như
huyện Lai Vung, lũ về muộn hơn so với các huyện đầu nguồn ảnh hưởng đến sản xuất,
sinh hoạt. Việc tăng cường và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi là biện pháp quan trọng để
khắc phục khó khăn này.
1.3.6. Cảnh quan môi trường
Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái của huyện là:
- Đất phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất tự nhiên.
- Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa.
- Nguồn nước ngọt sông Tiền rất dồi dào, chất lượng tốt.
Về cảnh quan của Lai Vung mang đặc trưng cơ bản của vùng đồng bằng Nam Bộ,
với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Địa hình bằng phẳng sông ngòi chằng chịt, dân
cư sống ven theo đường giao thông và kênh rạch, nhà ở chủ yếu là nhà tre, lá, cơ sở hạ
tầng kém phát triển. Môi trường ít bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp. Tuy nhiên, đất
phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất, mấy năm gần đây lũ lụt xảy ra thường
xuyên, dân cư đổ mọi chất thải ra kênh rạch, môi trường nước bị ô nhiễm. Nhân dân
lại sử dụng nước mặt để sinh hoạt ăn uống nên ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của
nhân dân nhất là sau khi ngập lụt.
Mặt khác Lai Vung có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông trong sản xuất đã sử
dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, nên môi trường đất, nước, không khí ít
nhiều đã bị ô nhiễm.
1.4 Đặc điểm của cây cam, quýt:
Trái cam quýt được sử dụng rộng rãi vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết

do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triễn có tác dụng cung cấp dinh dưỡng
cho cây trong giai đoạn rễ hoạt động.
Sự phân bố của bộ rễ tùy thuộc các yếu tố: tầng đất canh tác, hình thức nhân
giống, loại giống, loại gốc ghép, mực thủy cấp và kỹ thuật trồng. các yếu tố này có ảnh
hưởng làm rễ mọc sâu hay cạn, xa hay gần. Nói chung, rễ cam quýt thường mọc cạn,
đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt. do đó việc giữ cho lớp đất mặt tơi
xốp êm mát có tác dụng giúp cây hút thu được dinh dưỡng tốt hơn.
Rễ mọc ra từ hột thường khỏe, mọc sâu, nếu đất thoát nước tốt và tơi xốp rễ có
thể mọc sâu trên 4 mét. Do đó ở ĐBSCL, trên những vùng đất thấp việc trồng cam
quýt bằng hột hay gốc tháp thường bị ảnh hưởng bởi mặt thủy cấp. Nếu không lên líp
trồng cao và thiết kế bờ bao vườn để điều tiết nước, cây có thể bị suy yếu dần và chết
do thối rễ. Trái lại rễ mọc ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn cạn hơn, ít bị tác hại
bởi mặt thủy cấp.


b. Thân, cành:
cam quýt thuộc loại thân gỗ, dạng bụi hay bán bụi. Các cành chính thường mọc
ra ở các vị trí trong khoảng 1 mét cách mặt đất. Cành có thể có gai, nhất là khi trồng
bằng hột. tuy nhiên sau giai đoạn ra hoa trái, các gai thường ít phát triển. Ở một vài
loài, gai chỉ mọc ra từ những cành sinh trưởng mạnh.
Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một khoảng
nhất định thì ngừng lại, các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn cành sẽ mọc ra,
các cành thứ cấp này cũng mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng và các mầm
bên dưới đỉnh sinh trưởng lại tiếp tục phát triển giống như cũ.
Trong một năm cây có thể cho 3-4 đợt cành. Tùy theo chức năng của cành trên
cây, có thể gọi nhự sau:
− Cành mang trái:
Là những cành có mang trái, thường mọc ra trong mùa xuân, cành ngắn nhỏ,
mau tròn mình, dài trung bình < 10cm trên cành có lá hoặc vết lá, các cành có mang lá
cho trái tốt hơn. Cành mang trái mọc ra từ những cành lớn hơn gọi là cành mẹ, nững

- 20 mẫu đất được lấy tầng mặt canh tác (0-30cm)
- Các dụng cụ lấy mẫu đất: khoan, ring, bao nilong, ….
- Dụng cụ xử lý mẫu: hệ thống sấy mẫu, hệ thống rây, hệ thống ống hút
Robinson…
- Phần mềm hỗ trợ: Word, Excel, chương trình thống kê ANOVA,….
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu Đánh giá tính vật lý – hóa học trên vùng đất trồng cam quýt ở huyện
Lai Vung – Đồng Tháp. Đề tài được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 đến
ngày 01 tháng 01 năm 2010.
2.1.3. Địa điểm phân tích mẫu
Khoa Quản lý đất đai, trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu đất được lấy ở tầng mặt canh tác (0-30cm) từ những vườn trồng cam,
quýt điển hình tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Mẫu đất được làm khô không khí,
nghiền và qua rây theo yêu cầu của mỗi chỉ tiêu khác nhau.
2.2.1. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vật lý
2.2.1.1. Tính bền cơ học đất
Tính bền của đất được phân tích theo phương pháp rây khô và rây ướt của Đại
học Gent, Bỉ (Verplancke, 2002). Hai nghiệm thức tác động ẩm độ khác nhau trước khi
rây ướt được thực hiện:
• Phá vỡ tập hợp đất bằng cách không làm ẩm: tập hợp đất được chuyển từ hệ
thống rây khô sang hệ thống rây ướt mà không được làm ẩm
• Phá vỡ tập hợp đất bằng cách làm ẩm: tập hợp đất được làm ẩm đến ẩm độ
thủy dung ngoài đồng theo hệ thống Mariotte, trong đó chiều cao và đường
kính giọt nước được thực hiện theo mô hình mưa trong phòng thí nghiệm.
Sau đó các mẫu đất được đặt trong tủ ủ 24h (khoảng 20 oC và ẩm độ 80%100%).


Các nghiệm thức được tiến hành trên mỗi loại đất khác nhau và được lập lại 3 lần
với mẫu đất đã được xủ lý nhẹ nhàng qua rây 8 mm


VL
Suy ra:

Ks = -


A t ∆H
Trong đó:
Ks:

Hệ số thấm bảo hòa của đất, m s .

V:

Thể tích nước thấm qua đất trong khoảng thời gian t, m3

t:

Thời gian, s

L:

Chiều sâu của mẩu đất, m (l ring)

∆H:

Số gia thủy lực, m (H trong - H ngoài)

A:

Trong đó:

ρb:

Dung trọng khô, (g/cm3 )

Wvo: Khối lượng mẩu đất và ring ngay sau khi sấy khô ở 1050C (g)
W r:
Vr:

Khối lượng của ring (g)
Thể tích ban đầu của mẩu đất (cm3)

2.2.2. Các chỉ tiêu phân tích hóa học


2.2.2.1. pH
+ pHH2O: trích bằng nước (1/2,5) và đo bằng pH kế.
+ pHKCl: trích bằng KCl và đo bằng pH kế.

Hình 2.14: Máy đo pH

Hình 2.15: Giấy đo pH
2.2.2.2 Chất hữu cơ
Chất hữu cơ trong đất được xác định theo phương pháp Walkley- Black. Dựa trên
nguyên tắc oxy hoá chất hữu cơ bằng K2Cr2O7 trong môi trường H2SO4 đậm đặc, sau đó
chuẩn độ lượng dư K2Cr2O7 bằng FeSO4 0.1N.

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Tổng số
Quýt
Cam


1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

TT. Lai Vung
Long Hậu
Tân Phước
Tân Thành
Vĩnh Thới
Tân Hòa
Định Hòa
Phong Hòa
Long Thắng
Hòa Long
Tân Dương
Hòa Thành

0,8
31,7
8,0
69,4
56,0
7,0
6,0
1,5
1,5
7,6
0,1
189,57

(Nguồn: phòng nông nghiệp và PTNT huyện Lai Vung, tháng 10 năm 2009)

3.2. Tính chất đất trồng cam, quýt tại các vị trí nghiên cứu
3.2.1. Tính chất hóa học đất
3.2.1.1. pHH2O
Kết quả phân tích pHH2O được trình bày ở hình 3.16 cho thấy phần lớn các địa
điểm nghiên cứu có pH < 6,0 chiếm 75% trong tổng số các vị trí nghiên cứu. Giá trị
pH tại hầu hết các vị trí nghên cứu đều đạt mức tối hảo (từ 5,1 đến 6,4) chiếm 95%,
ngoại trừ Tân Thành 3 giá trị pH hơi thấp hơn ngưỡng tối hảo (pH = 4,9). Giá trị pH ở
các điểm nghiên cứu đều thích hợp cho sự phát triển của cây ăn trái, vi sinh vật đất,
vận tốc phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất, độ hữu dụng của dưỡng chất trong
đất, hiệu quả sử dụng phân bón cũng nâng cao. Nguyên nhân làm cho giá trị pH ở các
vị trí lấy mẫu tăng cao và đạt ngưỡng tối hảo cho cây trồng là do trong quá trình canh
tác người dân lên liếp rữa phèn, kết hợp sử dụng vôi trong canh tác cam, quýt.
3.2.1.2. pHKCl
Độ chua tiềm tàng được tính bằng ion H + và Al3+ tự do và hấp thu trên bề mặt
keo đất. Thông thường độ chua này lớn hơn độ chua hiện tại và biểu thị khả năng gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status