Xác định các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại khoa hồi sức tích cực nội và chống độc, bệnh viện hữu nghị việt tiệp, hải phòng - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THỊ NGÂN

XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC TẠI
KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC NỘI VÀ CHỐNG ĐỘC,
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP, HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRẦN THỊ NGÂN

XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC TẠI
KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC NỘI VÀ CHỐNG ĐỘC,
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 03 năm 2016
Học viên
Trần Thị Ngân


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ...................................................................................... 2
1.1. Tổng quan những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ................................ 2
1.1.1. Khái niệm những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ........................ 2
1.1.2. Mối quan hệ giữa vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc với sai sót liên
quan đến thuốc, biến cố bất lợi và phản ứng có hại của thuốc ...................... 3
1.1.3. Hệ thống phân loại những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc .......... 5
1.2. Tổng quan về đơn vị hồi sức tích cực (intensive care unit – ICU) ............... 8
1.3. Hiệu quả của việc phát hiện, xử lý và phòng tránh DRPs tại đơn vị hồi sức
tích cực ............................................................................................................... 11
1.4. Tình hình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại
khoa hồi sức tích cực .......................................................................................... 13
1.4.1. Trên thế giới ....................................................................................... 13
1.4.2. Tại Việt Nam ...................................................................................... 17
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 20
2.1. Xác định DRPs trong quá trình kê đơn thuốc ............................................. 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 20
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 20
2.1.3. Xây dựng danh mục tài liệu tham khảo sử dụng làm cơ sở xác định

4.2. Xác định DRPs trong kê đơn thuốc ............................................................. 57
4.2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu ................................................................. 57
4.2.2. Tỉ lệ DRPs chung trong kê đơn thuốc ................................................ 58
4.2.3. Tỉ lệ một số loại DRPs cụ thể trong kê đơn thuốc ............................. 59
4.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện DRPs trong kê đơn thuốc ... 64
4.3. Xác định DRPs trong chuẩn bị và dùng thuốc ............................................ 65


4.3.1. Tỉ lệ DRPs chung trong chuẩn bị và dùng thuốc ............................... 65
4.3.2. Tỉ lệ một số loại DRPs cụ thể trong chuẩn bị và dùng thuốc ............ 65
4.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện DRPs trong chuẩn bị và dùng
thuốc đường tiêm, truyền .........................……………………………….69
4.4. Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu ................................................ 71
4.4.1. Ưu điểm.............................................................................................. 71
4.4.2. Hạn chế ............................................................................................ 712
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADEs

Adverse Drug Events - Biến cố bất lợi liên quan đến sử dụng thuốc

ADR

Adverse Drug Reaction - Phản ứng bất lợi của thuốc

AE

ICU

Intensive Care Unit - Khoa hồi sức tích cực

ME

Medication Error - Sai sót liên quan đến thuốc

NPC

National Prescribing Center – Trung tâm kê đơn quốc gia

OR

Độ chênh

PCNE

Pharmaceutical Care Network Europe - Hiệp hội chăm sóc dược Châu
Âu

PSA

Pharmaceutical Society of Australia - Hội dược sỹ Úc

T1/2

Thời gian bán thải

WHO

2.1

Danh mục tài liệu tham khảo sắp xếp theo thứ tự ưu tiên tra cứu
trong mỗi nhóm

22

3.1

Đặc điểm tuổi, giới,
chính, bênh lý mắc kèm

32

3.2

Tỉ lệ đơn thuốc theo số lượng thuốc sử dụng trong đơn

33

3.3

Tỉ lệ đơn thuốc theo số lượng DRPs trong đơn

35

3.4

Tỉ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs lựa chọn thuốc



47

3.10

Tỉ lệ DRPs trong chuẩn bị và dùng thuốc theo đường dùng

48

3.11

Tỉ lệ liều thuốc theo số lượng DRPs trong một quan sát

49

3.12

Tỉ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs chuẩn bị thuốc

50

3.13

Tỉ lệ từng loại DRPs trong nhóm DRPs dùng thuốc

51

3.14

Các cặp tương kị dùng thuốc

1.1

Phân loại DRPs theo PCNE

3

1.2

Mối quan hệ giữa DRP, ME, ADR, ADE

4

2.1

Sơ đồ tóm tắt quá trình thu thập thông tin xác định DRPs trong kê
đơn thuốc

21

2.2

Qui trình phân loại DRPs trong kê đơn thuốc

24

2.3

Sơ đồ tóm tắt quá trình thu thập thông tin, xác định DRPs trong
chuẩn bị và dùng thuốc



45

3.5

Tỉ lệ DRPs trong chuẩn bị và dùng thuốc theo từng nhóm

49


ĐẶT VẤN ĐỀ
Những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Related Problems – DRPs) là
những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn mối
nguy hại cho sức khỏe người bệnh [66]. DRPs có thể dẫn đến thất bại trong điều trị,
gây nên gánh nặng cho hệ thống y tế. Một nghiên cứu đã cho thấy 81% bệnh nhân
nội trú gặp phải DRPs trong quá trình điều trị, trung bình 2,1 DRPs/bệnh nhân [27].
Bệnh nhân điều trị tại khoa hồi sức tích cực với những bệnh lý phức tạp, nghiêm
trọng, sử dụng nhiều loại thuốc nguy cơ cao, số lượng thuốc sử dụng nhiều hơn so
với bệnh nhân tại các khoa phòng khác. Đó là những lý do dẫn đến tỉ lệ gặp DRPs
tại khoa hồi sức tích cực cao hơn 1,8 lần các khoa điều trị khác [23], [34]. Các
nghiên cứu cũng cho thấy 50 – 80% DRPs có thể phòng tránh được [63], [64], [82].
Vì vậy xác định DRPs là việc làm vô cùng thiết thực, đặc biệt tại đơn vị hồi sức tích
cực. Xác định DRPs là cơ sở xây dựng các biện pháp can thiệp để giảm thiểu,
phòng tránh DRPs, góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả.
Trên thế giới từ những năm 1990, nghiên cứu về DRPs đã được thực hiện và
cho thấy hiệu quả cao trong việc phòng tránh DRPs, giảm số ngày nằm viện, giảm tỉ
lệ tái nhập viện, giảm chi phí điều trị [82]. Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam, nghiên
cứu về DRPs nói chung và tại khoa hồi sức tích cực nói riêng chưa được thực hiện,
báo cáo một cách toàn diện dẫn đến thiếu cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng
tránh DRPs. Xuất phát từ thực tế trên, với mục đích nhằm phát hiện, xử trí và phòng

Tại Mỹ, hiệp hội dược sĩ bệnh viện của Mỹ (American Society of Hospital
Pharmacists- ASHP) đã định nghĩa DRPs “là một tình huống liên quan đến điều trị
bằng thuốc, thực sự hoặc có khả năng gây trở ngại việc đạt hiệu quả điều trị tối ưu
trên một bệnh nhân cụ thể” [21].
Tại Châu Âu, theo định nghĩa của hiệp hội chăm sóc dược Châu Âu
(Pharmaceutical Care Network Europe -PCNE), DRPs là “những tình huống liên
quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe
người bệnh” [66].
Hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có khái niệm riêng về DRPs. Nghiên cứu này sử
dụng định nghĩa DRPs của PCNE. Theo đó DRPs có thể được phân loại theo hình
1.1.[58]

2


Bệnh nhân

Bác sĩ

(DRPs thông tin
cho người bệnh,
DRPs tuân thủ
điều trị)

(DRPs kê đơn)

Dược sĩ,
điều dưỡng
(DRPs cấp
phát, sử dụng)

3


trong các nghiên cứu về ME. Một ME có thể là nguyên nhân dẫn đến DRPs khi hậu
quả của ME làm thay đổi hiệu quả điều trị của thuốc trên bệnh nhân. Một vấn đề sử
dụng thuốc liên quan đến cách dùng thuốc của chính bệnh nhân có thể không được
ghi nhận là một ME nhưng lại có thể là nguyên nhân dẫn đến DRPs [58].
Biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event – ADE, hay Adverse Event –
AE) là những tổn thương xảy ra trên bệnh nhân mà nguyên nhân có thể do thuốc
gây ra hoặc thiếu thuốc cần thiết cho bệnh nhân [54]. Phản ứng có hại của thuốc
(ADR) được định nghĩa theo WHO là những phản ứng độc hại, không định trước
xuất hiện khi dùng thuốc ở liều thường dùng cho người để dự phòng, chẩn đoán,
điều trị hoặc thay đổi chức năng sinh lý của cơ thể [4]. Một ADE hay một ADR sẽ
được xem xét như một DRP, nhưng một DRP tiềm ẩn, chưa gây thương tổn trên
bệnh nhân thì không được xem là một ADE hay ADR.
Như vậy, DRPs là một khái niệm rộng, bao gồm trong đó cả ME, ADE và
ADR. Một DRP có thể gây tổn thương trực tiếp (DRPs thực sự) hoặc là nguy cơ
(DRPs tiềm ẩn) dẫn đến những tổn thương trên người bệnh. Mối liên hệ giữa các
vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc được mô tả trong hình 1.2.

Hình 1.2. Mối quan hệ giữa DRP, ME, ADR, ADE [15]
Một nghiên cứu về sai sót liên quan đến thuốc thường được thực hiện để đánh
giá qui trình sử dụng thuốc sau khi đã xây dựng thành công các hướng dẫn điều trị,
hướng dẫn sử dụng thuốc. Hiện nay tại Việt Nam nói chung và bệnh viện Việt Tiệp,

4


Hải Phòng nói riêng, việc xây dựng các hướng dẫn điều trị, hướng dẫn sử dụng
thuốc áp dụng cho từng đơn vị chưa được thực hiện đồng bộ, do đó các nghiên cứu

STT

Tên hệ thống phân loại
DRPs

1

Hepler–Strand (Mỹ) [76]

8 nhóm vấn đề

1990

2

Hanlon (Mỹ) [37]

10 nhóm vấn đề

1992

3

PI-doc (Đức) [72]

6 nhóm vấn đề

1995

4

3 nhóm vấn đề

2000

8

Krska (Anh) [50]

18 nhóm vấn đề

2002

9

Granada (Tây Ban Nha)
[67]

6 nhóm vấn đề

2002

10

Westerlund (Thụy Điển)
[84]

14 nhóm vấn đề

2002



Phân loại của PCNE
(Châu Âu) version 4, 5,
6. [66]

2004

- Version 5: 21 nhóm vấn đề và 34
nhóm nguyên nhân

2009

- Version 6: 11 nhóm vấn đề và 35
nhóm nguyên nhân

2010

6


Ngoài những hệ thống phân loại trên, một số nghiên cứu sử dụng hệ thống
phân loại tự thiết kế. Phân tích 268 nghiên cứu liên quan đến DRPs cho thấy có đến
46% nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại tự thiết kế dựa trên sự thay đổi, bổ sung
từ các hệ thống phân loại phổ biến để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, địa điểm
nghiên cứu và loại hình nghiên cứu [24]. Do đó việc so sánh kết quả giữa các
nghiên cứu liên quan đến phát hiện và đánh giá DRPs của các tác giả và các đơn vị
khác nhau thường gặp nhiều khó khăn.
Năm 2004, tác giả Mil Van thực hiện nghiên cứu so sánh, đánh giá các hệ
thống phân loại DRPs nêu trên, kết quả cho thấy không một hệ thống phân loại nào
là đầy đủ tất cả các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, nghiên cứu cũng chỉ ra hệ

thông tư 31/2012/TT-BYT- Hướng dẫn hoạt động thực hành dược lâm sàng trong
bệnh viện) [6] đã đề cập đến DRPs và phân loại 16 vấn đề (lý do can thiệp) gồm có:
chỉ định không phù hợp, bệnh không được chỉ định, thuốc chống chỉ định, thuốc
không phải lựa chọn ưu tiên, thuốc đắt tiền và có thể thay thế bằng thuốc khác, thời
gian điều trị quá dài hoặc quá ngắn, liều dùng một lần hoặc hàng ngày quá cao hoặc
quá thấp, đường dùng/ dạng bào chế không phù hợp, kĩ thuật dùng thuốc không hợp
lý, thời điểm dùng thuốc không hợp lý, theo dõi điều trị chưa hợp lý, tác dụng
không mong muốn, tương tác thuốc, tuân thủ điều trị kém, vấn đề dược chính, vấn
đề khác.
Tuy có sự khác biệt lớn về số lượng nhóm DRPs giữa các hệ thống phân loại
nhưng nhìn chung DRPs được chia thành các nhóm lớn như: lựa chọn thuốc, liều
dùng, cách dùng, tuân thủ điều trị, điều trị không đầy đủ, theo dõi điều trị, tương tác
thuốc, ADR, dị ứng, ngộ độc.

1.2. Tổng quan về đơn vị hồi sức tích cực (Intensive Care Unit – ICU)
Đơn vị hồi sức tích cực là khoa lâm sàng có nhiệm vụ tiếp nhận điều trị và
chăm sóc tích cực người bệnh của khoa cấp cứu và của các khoa lâm sàng khác
trong bệnh viện chuyển đến. Khoa hồi sức tích cực là một đơn vị đặc biệt trong
bệnh viện, tại đây bệnh nhân thường trong tình trạng nặng, thậm chí đe dọa tính
mạng, ví dụ như sau mổ, chấn thương nặng, đột quỵ, suy giảm chức năng nhiều cơ
quan, nhiễm trùng máu. Những bệnh nhân này yêu cầu phải theo dõi thường xuyên,
chặt chẽ, thường phải sử dụng nhiều thuốc và thiết bị máy móc đặc biệt để đảm bảo
chức năng sinh lý bình thường. Vì vậy bệnh nhân điều trị tại ICU có nguy cơ gặp

8


phải các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc cao hơn nhóm bệnh nhân nằm điều trị
tại các khoa phòng khác.
Nhóm các yếu tố nguy cơ dẫn đến DRPs ở bệnh nhân tại khoa ICU có thể chia


- Sử dụng nhiều thuốc có khoảng điều trị hẹp, nguy cơ độc tính cao như kali clorid,
heparin, magnesium sulphate, thuốc giảm đau, an thần, thuốc mê. Liều thuốc sử
dụng cần được tính toán theo cân nặng của bệnh nhân.
- Đường dùng thuốc phổ biến trong ICU là đường tĩnh mạch, một nghiên cứu đã chỉ
ra bệnh nhân dùng thuốc theo đường này nguy cơ gặp biến cố bất lợi cao hơn 3%
đối với mỗi thuốc sử dụng so với đường dùng khác [43]. Đường tĩnh mạch là đường
dùng thuốc có tác dụng nhanh, tuy nhiên cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ liên quan đến
kĩ thuật pha chế, kĩ thuật tiêm truyền, tương kị, độc tính nhanh…
- Bệnh nhân phải trải qua nhiều can thiệp điều trị (lọc máu…) làm tăng nguy cơ
tương tác giữa thuốc với can thiệp, hay gặp nhất là trường hợp bệnh nhân cần hiệu
chỉnh liều thuốc sử dụng sau khi lọc máu [26].
* Yếu tố môi trường làm việc:
- Môi trường làm việc tại ICU rất phức tạp, cường độ công việc cao hơn các đơn vị
điều trị khác, thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải bệnh nhân, dễ dẫn đến tình
trạng quá tải cho nhân viên y tế, làm tăng nguy cơ dẫn đến DRPs.
- Cần kết hợp nhiều nhóm nhân viên y tế để điều trị cho một bệnh nhân có tình
trạng bệnh phức tạp, ví dụ cần kết hợp bác sĩ ICU, bác sĩ tim mạch, bác sĩ dinh
dưỡng, điều này gây khó khăn trong việc kết hợp các kế hoạch điều trị với nhau và
là yếu tố nguy cơ gia tăng DRPs trùng lặp thuốc hoặc điều trị không đầy đủ [26].
Như vậy, tình trạng bệnh lý phức tạp, kết hợp nhiều thuốc điều trị, môi trường
làm việc căng thẳng làm tăng nguy cơ xuất hiện DRPs trên những bệnh nhân điều
trị tại khoa ICU. Một nghiên cứu tại Pháp năm 2015 cho thấy khoa ICU có tỉ lệ gặp
DRPs cao hơn 1,8 lần so với các khoa phòng khác (36,0% so với 19,8%; p < 0,01)
[23]. Tuy nhiên có đến 50-80% DRPs là có thể phòng tránh được [63], [64], [82].
Do đó việc phát hiện, quản lý tốt DRPs sẽ góp phần sử dụng thuốc hợp lý, an toàn,
hiệu quả hơn trên đối tượng này.

10



11


giữa các nghiên cứu, phụ thuộc vào quốc gia, thời gian nghiên cứu, loại hình can
thiệp. Một số nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế các can thiệp dược lâm sàng
thông qua việc phát hiện, giải quyết và phòng tránh DRPs tại khoa ICU được liệt kê
trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Một số nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, hiệu quả lâm sàng của
hoạt động dược lâm sàng tại khoa ICU
Quốc gia/
Vấn đề can
năm xuất
thiệp
bản
Mỹ/ 1999
[51]

Hiệu quả lâm sàng

Hiệu quả kinh tế

Kê đơn
thuốc

Giảm 66% tỉ lệ gặp ADEs Tiết kiệm 270,000 $ US
(p< 0,001)
mỗi năm

Georgia/


-

Tránh lãng phí 205,919 –
280,421$ US/ 4,5 tháng.

Thái Lan/
2009 [71]

Kê đơn
thuốc

Rút ngắn 1 ngày nằm viện Giảm 14% chi phí sử dụng
(p=0,99)
thuốc/ bệnh nhân (p=0,14)

Tương tác
thuốc,
ADEs

Giảm 18% trường hợp gặp
tương tác thuốc, giảm 43%
tỉ lệ gặp ADEs (p < 0,01)

Đức/ 2010
[25]
Ấn Độ/
2012 [52]

Kê đơn

Quốc gia/
Vấn đề can
năm xuất
thiệp
bản

Hiệu quả lâm sàng

Hiệu quả kinh tế

ADEs có thể phòng tránh
được (p= 0,018)
Trung
Quốc/
2012 [41]
Jordan/
2013
[18]

Việt Nam/
2014 [61]

Hoạt động
chăm sóc
dược

Tiền thuốc trung bình mỗi
Số sai sót trên 1 bệnh nhân
bệnh nhân giảm từ 347.43
giảm từ 1,68 xuống 0,46

tránh DRPs có hiệu quả cao hơn ở các nước đang phát triển.

1.4. Tình hình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
tại khoa hồi sức tích cực
Thông qua các nghiên cứu đánh giá sử dụng thuốc, DRPs được ghi nhận và
báo cáo trong một số lĩnh vực có liên quan như: sai sót liên quan đến sử dụng thuốc,
biến cố bất lợi, biến cố bất lợi liên quan đến sử dụng thuốc, hoặc phản ứng bất lợi
của thuốc.
1.4.1. Trên thế giới
Các nghiên cứu về đánh giá sử dụng thuốc tại khoa ICU đã được thực hiện ở
nhiều quốc gia trên thế giới, nhằm phát hiện và hạn chế DRPs tại đơn vị điều trị đặc
biệt này. Một số nghiên cứu đã được công bố như bảng 1.3.

13


Bảng 1.3. Nghiên cứu trên thế giới về DRPs tại khoa ICU
Kết quả
Quốc gia/
năm xuất
bản

Mỹ/ 1999
[51]

Australia /
2008 [35]

27 quốc
gia thuộc

viện

99%

-

-

Nghiên cứu mô tả quan sát trực tiếp quá
trình chuẩn bị và dùng thuốc dùng đường
tĩnh mạch trong 16 ngày.

Barker

0,73 sai sót/ lượt
quan sát

-

-

-

Hệ thống
phân loại
tự thiết kế

0,65 sai sót liên
quan đến chuẩn
bị và dùng thuốc

Quốc gia/
năm xuất
bản

Ấn Độ/
2012 [52]

Trung
Quốc/
2012 [41]
Jordan/
2013 [22]

Phương pháp xác định vấn đề

- Tiến cứu can thiệp trong 7 tháng trên 72
bệnh nhân ICU.
- DSLS đi buồng bệnh và thảo luận cùng
bác sĩ để xác định DRPs

Phân loại
mức độ
ảnh hưởng
của vấn đề

Phân tích
yếu tố
nguy cơ

0,14 DRP/ bệnh

Hệ thống
phân loại
của ASHP

3,375 DRP/
bệnh nhân, 1,67
DRP/ đơn thuốc.

47%

-

-

HeplerStrand

- Mô tả tiến cứu trong 6 tháng
- Nhóm xác định sai sót trong kê đơn gồm:
một bác sĩ ICU và một dược sĩ lâm sàng
ICU toàn thời gian
-Tiến cứu, can thiệp trong 7 tháng
- 1 thạc sĩ DLS tham gia đi buồng và thảo
luận cùng bác sĩ
- Tiến cứu can thiệp trong 6 tháng

Ấn Độ/
2013 [69]

Tỉ lệ (số lượng)
vấn đề

Mức độ
đồng thuận
của các
nhân viên
y tế khác

Phân loại
mức độ
ảnh hưởng
của vấn đề

Phân tích
yếu tố
nguy cơ

HeplerStrand

6,4 DRPs/ bệnh
nhân

-

-

-

FASTHU
GMAIDEN

10,9 DRPs/ bệnh

Canada/
2013 [55]

Saudi
Arabia/
2015 [39]

- Một hoặc hai dược sĩ nội trú và một dược
sĩ lâm sàng ICU tham gia đi buồng bệnh
hàng ngày và ghi nhận DRPs

Hệ thống
phân loại
- Nhóm xác định DRPs gồm: 1 bác sĩ, một
MEs của
dược sĩ lâm sàng, 1 chuyên gia dược lý lâm
Mỹ (NCCsàng
MERP)
- Mô tả hồi cứu 193 bệnh án trong 1 năm

“ – “ không được báo cáo
DSLS: dược sĩ lâm sàng

16

17,1 % bệnh
nhân gặp DRPs
nghiêm trọng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status