BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG VĂN HOÁ I BỘ CÔNG AN - Pdf 37

ii

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT

1
4

ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2. Những vấn đề lý luận về tự học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.3. Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tự học của học sinh. . .
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA

4
5
13
22

HỌC SINH TRƢỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
2.1. Khái quát về trường Văn hoá I - Bộ Công an . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.2. Thực trạng tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an. . . .




* Biện pháp 3: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học
trên lớp của giáo viên . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Vietluanvanonline.com

Page 2

57


iii
* Biện pháp 4: Hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện
thiết bị, tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả cho tự học . .

61

* Biện pháp 5: Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động tự
học của học sinh. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .... . .

64

* Mối quan hệ giữa các biện pháp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

67

3.3. Khảo nghiệm các biện pháp quản lý. . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . .

69

GDCD

Giáo dục công dân

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

GV

Giáo viên

GVCN

Giáo viên chủ nhiệm



Hội đồng

KHCN

Khoa học công nghệ

KHTN

Khoa học tự nhiên

KHXH


TN

Thanh niên



Thi đua


v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang

Sơ đồ 1.

Các chức năng và thông tin trong quản lý..............................................16

Sơ đồ 2.

Bộ máy tổ chức của nhà trường.............................................................23

Bảng 2.1. Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học..........................26
Bảng 2.2. Việc lập kế hoạch và mức độ thực hiện kế hoạch tự học của học sinh....27
Bảng 2.3. Thời gian dành cho hoạt động tự học.....................................................29
Bảng 2.4. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường về vai trò, ý nghĩa
quản lý hoạt động tự học........................................................................ 33
Bảng 2.5. Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho
học sinh...................................................................................................35
Bảng 2.6. Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học...36

Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định: “Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng xã hội công bằng văn minh theo định hướng xã
hội chủ nghĩa” [11, tr.6]. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn hiện
nay, cần phải xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng
bước hiện đại, xứng đáng là công cụ của Đảng, đảm bảo giữ vững an ninh trật tự
của tổ quốc.
Chất lượng và sức mạnh của lực lượng CAND là tổng hợp của nhiều yếu tố tạo
thành, trong đó phẩm chất và năng lực của cán bộ là vô cùng quan trọng. Phẩm chất
và năng lực của người chiến sĩ Công an được hình thành và phát triển trong quá
trình đào tạo, trong công tác và thực tiễn chiến đấu. Tính độc lập, sáng tạo, năng
động, thích ứng, thận trọng, khôn khéo, chính xác trong tư duy và hành động nghề
nghiệp là phẩm chất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm
vụ của người chiến sĩ Công an. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực tự học
của học sinh, sinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại các trường trong ngành.
Là một trường trong lực lượng CAND, trường Văn hoá I được Bộ Công an
giao nhiệm vụ đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT, đồng thời hướng nghiệp theo
ngành Công an cho học sinh người dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ cho Công an
các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Công tác đào tạo của trường không chỉ trang
bị cho học sinh kiến thức phổ thông mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả
năng suy nghĩ, phán đoán độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức
chấp hành nội quy, kỷ luật nghiêm ngặt của ngành theo điều lệnh CAND, xây dựng
thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân cho mỗi học sinh.
Như vậy, năng lực tự học của học sinh vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để
nâng cao chất lượng đào tạo. Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của
mọi học sinh đang học tập tại trường. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý,
khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, học sinh và toàn bộ
lực lượng giáo dục trong nhà trường.


Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những năm qua nhà trường


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề luôn được quan tâm
nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn. Song ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề tự
học được đề cập đến ở những góc độ khác nhau.
Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN), Nhà giáo dục kiệt xuất của Trung
Hoa luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Khi nói về
cách học, ông cho rằng cách học đúng là: “học và suy nghĩ phải phù hợp với nhau
và coi trọng cả hai”.
Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J. A. Komenxky (1592 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài
năng”. Năm 1657, ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đó
nêu rõ: “Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần
mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”. [8, tr.40]
Trong giai đoạn hiện đại, các nhà giáo dục học đi sâu nghiên cứu khoa học
giáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của tự học. Trong tác phẩm “Tự học như
thế nào” của N. A. Rubakin (1862 - 1946) do Nguyễn Đình Khôi dịch, đã tập trung
trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách.
Ở Việt Nam, hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền
giáo dục xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc
Việt Nam là một tấm gương sáng về tinh thần tự học. Tư tưởng của Người về giáo
dục đã được vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ II - BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp
dạy học… nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học”. [12]
Từ quan điểm chỉ đạo trên, để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục,
nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học đã hoàn thành như: “Quá trình
dạy



năng tư duy nói chung và khả năng tiến hành các thao tác trí óc nói riêng hình thành
khó khăn.


Quá trình tư duy đối với các khái niệm khoa học và khái niệm thông thường
thì sự hiểu biết thuộc tính bản chất khái niệm và sự vận dụng các khái niệm đó vào
thực tế chỉ đạt mức gần trung bình. Các em hay lầm lẫn giữa thuộc tính bản chất với
thuộc tính không bản chất của khái niệm.
Những đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh chi phối mạnh mẽ các thuộc
tính tâm lý khác như: khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả
năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của học sinh còn yếu. Đặc biệt, về mặt ngôn
ngữ các em còn gặp khó khăn vì trước khi đi học các em thường dùng tiếng mẹ đẻ.
Trong khi đó quá trình nhận thức, tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn
ngữ tiếng Việt. Như vậy, ở góc độ nhất định, sự giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn
trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư duy bị hạn chế. Trong học tập các em
không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học
tập. Đa số học sinh chỉ cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi lặp lại y
nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề (học vẹt).
Trong lối sống, các em không thích gò bó, thường có những thói quen chưa tốt như
phong cách chậm chạp, thiếu ngăn nắp, ảnh hưởng đến công tác đào tạo khi các em
học tập tại trường.
 Đặc điểm nhu cầu
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, đi học là sự thay đổi căn bản, ở môi trường
này tâm lý các em có sự chuyển biến, ý thức mình là học sinh, là cán bộ tương lai
của địa phương, đất nước. Đặc biệt, học sinh trường Văn hoá I khi được cử tuyển
vào trường các em đã thuộc biên chế của lực lượng Công an, bản thân các em xác
định học tập để phục vụ lâu dài trong lực lượng Công an. Vì vậy, duy trì được nhu
cầu thích học, khẳng định vị trí mới cho học sinh trong môi trường nội quy kỷ luật
của ngành là một trong những nhu cầu thiết yếu để giáo dục học sinh, đặc biệt là về
ý thức tập thể và kỷ luật học tập. Vấn đề là tổ chức học tập làm sao cho hiệu quả,

giờ đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ, buổi tối từ 19 giờ đến 21 giờ.
Như vậy, ngoài thời gian nghỉ, thời gian dành cho sinh hoạt cá nhân và các hoạt
động tập thể thì thời gian trong ngày dành cho nhiệm vụ học tập là 9 giờ. Trong đó
từ 4 đến 5 giờ dành cho học tập chính khoá trên lớp theo chương trình, còn 4 đến 5
giờ dành cho tự học ngoài giờ lên lớp vào buổi chiều và buổi tối.


Thời gian dành cho học tập trong ngày nhiều, nhưng do còn bị chi phối bởi
cách học, kế hoạch học, động cơ học tập nên mức độ thực hiện nội dung công việc
còn hạn chế. Phần lớn học sinh chỉ chú ý đến những bài học, bài tập mà giáo viên sẽ
kiểm tra ngày hôm sau.
Sự nỗ lực của bản thân học sinh trong tự học chưa cao, khi gặp khó khăn trong
học tập (một bài tập khó, một vấn đề chưa hiểu…) hầu hết các em bỏ qua, chỉ một số ít
hỏi thầy, hỏi bạn hoặc tự mày mò, tiếp tục suy nghĩ tìm tài liệu để giải quyết vấn đề.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số
Hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số nói chung và hoạt động tự học
của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an nói riêng không tách rời các điều kiện
tác động, bao gồm hai yếu tố chính là yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
* Yếu tố khách quan là các yếu tố tác động từ bên ngoài vào chủ thể đó là
người học, bao gồm:
- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, thông tư,
hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an .v.v. có liên quan tới quá trình
giáo dục đào tạo của thầy và trò nhà trường.
- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường, mà đối với học sinh THPT đó
chính là nội dung chương trình, sách giáo khoa. Đối với học sinh trường Văn hoá I,
ngoài chương trình THPT còn chương trình đào tạo hướng nghiệp theo ngành Công
an. Ngoài nội dung chương trình đào tạo thì phương pháp dạy học của giáo viên là
yếu tố ảnh hưởng lớn tới năng lực và hiệu quả tự học của học sinh.
- Các điều kiện cơ sở vật chất như ký túc xá, phòng học, thư viện, hệ thống
mạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo .v.v.

sinh phải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả và tự tin
vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập, duy trì tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạt động tự học.
1.2.4. Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách học sinh
Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể học hộ
người khác. Khi nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của
người dạy. Trò học, cốt lõi là tự học cách học, cách tư duy; thầy dạy, cốt lõi là dạy
cách học, cách tư duy. Tác động dạy của thầy là vô cùng quan trọng nhưng vẫn chỉ
là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự học mới là nhân tố quan trọng,
là nội lực quyết định sự phát triển của học sinh.


Triết học Mác - Lê Nin khẳng định tự học trong quá trình giáo dục là yếu tố
quan trọng đóng vai trò nguyên nhân bên trong, động lực thực sự của việc học sinh
tự giác học tập.
Tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự phát triển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó giáo dục và hoạt động của cá nhân là quan trọng nhất. Hoạt động của cá
nhân là yếu tố đóng vai trò trực tiếp quyết định năng lực và phẩm chất của con người.
Đánh giá về vai trò, tầm quan trọng của tự học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
dạy: “Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt”. Quá trình tự học như thế có thể
hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi
bản thân trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lấy giá trị bên
ngoài, là một hành trình nội tại được “cắm mốc” bởi kiến thức, phương pháp tư duy
và thực hiện tự phê bình để tự hiểu bản thân mình.
Các lý luận trên không có nghĩa là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của giáo viên
trong quá trình dạy học mà giáo viên đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên,
dẫn đường cho học sinh học tập có hiệu quả và đúng cách. Thông qua tự học giúp
học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai; giúp
học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học trong
trường, đồng thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc

sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. [16, tr.7]
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có
chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về
hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý
của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt mục tiêu.
Quản lý được hiểu ở những góc độ khác nhau, song vẫn được thống nhất: là
hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng,
khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý.
* Khái niệm về quản lý giáo dục
Có nhiều nghiên cứu về quản lý giáo dục, hiện nay các ý kiến cơ bản đồng
nhất nhau về khái niệm quản lý giáo dục:
“Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở cấp độ khác


nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ sở giáo dục
khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy
luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh
niên". [23, tr.10]
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất". [33, tr.35]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: quản
lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong
việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được
những mục tiêu đề ra.

phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt
động như: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo
viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học, quản lý tài chính .v.v.
* Bản chất quản lý
Bản chất quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản
lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu chung. Trong
giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến giáo viên, học sinh và các
lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục.
Toàn bộ quá trình quản lý được thực hiện thông qua các chức năng quản lý đó
là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Các chức
năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong
khoảng thời gian, không gian xác định. Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quản lý, được coi là mạch máu lưu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho
toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Mối liên hệ giữa
các chức năng và thông tin trong quản lý được biểu diễn theo sơ đồ 1.


Sơ đồ 1. Các chức năng và thông tin trong quản lý
Lập kế hoạch

Kiểm tra

Thông tin

Tổ chức

Chỉ đạo
1.3.2. Quản lý hoạt động dạy học

Như vậy, quản lý quá trình dạy học chính là hệ thống tác động sư phạm có
mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác
nhằm huy động, lôi kéo, phối hợp sức lực, trí tuệ của các lực lượng vào việc hoàn
thành có chất lượng và hiệu quả của mục tiêu đào tạo.
1.3.3. Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản
lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ
thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Quản lý hoạt động tự
học của học sinh bao gồm hai quá trình cơ bản là quản lý hoạt động tự học trong giờ
lên lớp và quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, được tiến hành trên cả hai
phương diện ở trường và ở nhà. Tuy nhiên đối với trường THPT dân tộc nội trú nói
chung và trường Văn hoá I nói riêng thì công tác quản lý hoạt động tự học của học
sinh được diễn ra hoàn toàn trong môi trường nhà trường.
Quản lý hoạt động tự học là sự tác động của chủ thể quản lý đến quá trình tự
học của học sinh làm cho học sinh tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự
cố gắng nỗ lực của chính mình. Quản lý hoạt động tự học của học sinh có liên quan
chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của giáo viên.
Như vậy, quản lý hoạt động tự học là một hệ thống các tác động sư phạm có
mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường đến toàn bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự giác,
tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản
thân.


Nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm nhiều hoạt động
như: quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học; xây dựng và thực hiện kế hoạch tự
học; xây dựng nội dung tự học; bồi dưỡng phương pháp tự học; xây dựng kế hoạch
kiểm tra đánh giá kết quả tự học; các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học.
* Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ,

hoạch tự học. Kiểm tra đánh giá kết quả tự học là chức năng nhiệm vụ của giáo viên
và cán bộ quản lý thông qua hiệu suất đào tạo của giáo viên và chất lượng học tập
của học sinh.
* Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học
Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trên lớp, thời gian dành cho tự
học; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thiết bị đồ dùng để thầy và trò cùng tích cực
trong đổi mới phương pháp dạy học.
Trong quản lý hoạt động tự học của học sinh cần phải phối hợp quản lý chặt
chẽ tất cả các nội dung trong mối quan hệ thống nhất. Đồng thời cần phối hợp chặt
chẽ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lý hoạt động tự học
trong và ngoài giờ lên lớp nhằm đảm bảo thời gian tự học của học sinh.
1.3.4. Biện pháp quản lý hoạt động tự học
Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết
một vấn đề cụ thể.
Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, các hình thức tiến hành của chủ
thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể
của hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể quản
lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan.
Biện pháp quản lý hoạt động tự học: là tổ hợp các phương pháp, các cách
thức tiến hành của lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tác động đến toàn
bộ quá trình tự học của học sinh nhằm thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực, chủ động
tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân học sinh.
Để quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh có thể sử dụng nhiều biện pháp
khác nhau, nhưng có thể chia thành ba nhóm biện pháp chính:


- Biện pháp quản lý có tính chất hành chính, quy chế: Căn cứ điều lệ trường
THPT, điều lệnh CAND, quy chế quản lý giáo dục học sinh các trường CAND, quy
định quản lý việc dạy học trên lớp của giáo viên và việc học tập của học sinh.
- Biện pháp quản lý có tính chất đặc thù: Thông qua việc soạn bài trước khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status