MỞ ĐẦU
Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời ở Ấn Độ vào
khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. “Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ chia làm 4
thời kỳ: Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ các bộ phái của Phật giáo, thời kỳ Phật
giáo đại thừa và thời kỳ Mật giáo. Thời kỳ Phật giáo nguyên thủy là thời kỳ từ thế kỷ
VI, V tr. Công nguyên đến giữa thế kỷ IV tr. Công nguyên” [12, tr.185].
Tư tưởng Phật giáo nguyên thủy trước hết là tư tưởng triết lý và luân lý.
Triết lý của Phật giáo là triết lý lấy nhân quả mà suy luận, làm rõ nhân duyên của
tạo hóa, phá tan sự mờ tối che lấp trí sáng tỏ, cắt đứt lưới mộng ảo trói buột
người vào sinh tử khổ não, đưa con người đến chỗ tịch tính, yên vui. Luân lý
Phật giáo là luân lý lấy vô lượng từ bi mà yêu người, thương vật, tế độ chúng
sinh, không phân biệt người với ta, không phân chia giai cấp sang hèn.
Tuy nhiên, tư tưởng giải thoát mang nặng tính bi quan, yếm thế về cuộc
sống, chủ trương “xuất thế”, “siêu thoát” có tính chất duy tâm, không tưởng về
những vấn đề xã hội đã phần nào hạn chế khã năng sáng tạo, tính chủ động của
con người.
Phật giáo là một tôn giáo, tín ngưỡng gần gũi đối với con người Việt Nam,
nó còn đóng góp to lớn trong việc làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc,
tình thương, lòng nhân ái của con người. Nó khơi dậy trong con người một sự
giải thoát tĩnh lại.
Do đó, tôi chọn đề tài “Học thuyết Phật giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của
nó đến đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam” để làm tiểu luận
1
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỷ thứ VI trước Công nguyên gắn liền với những điều kiện tự nhiên, kinh tế –
- Đẳng cấp bình dân tự do (Vaisya): dân tự do ở Aán Độ và các nước khu
vực châu Aù khác với dân tự do ở phương Tây, vì ở các nước này, dân tự do là
lực lượng sản xuất chủ yếu, do vậy, họ cũng là bộ phận đông đảo nhất và có vai
trò nhất định dù là trong xã hội chiếm nô hay phong kiến. Tất nhiên, về địa vị xã
hội họ vẫn đứng sau đẳng cấp tăng lữ và đẳng cấp quý tộc.
- Đẳng cấp nô lệ (Ksudra): có địa vị thấp nhất. Song cũng khác với
phương Tây, ở đây nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu, mà là nô lệ
có tính gia đình, làm công việc hầu hạ, phục dịch cho các đẳng cấp trên.
Ngoài ra sự phân hoá giai cấp và đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, xã hội Ấn
Độ lúc bấy giờ còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo.
Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ
phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, kêu gọi lòng yêu thương, mối quan hệ
bình đẳng giữa người với người, cho nên có thể nói Phật giáo chính là ước mơ,
khát vọng, là tư tưởng của các đẳng cấp dưới trong xã hội lúc bấy giờ.
1.2. Vai trò của người sáng lập
Phật giáo ra đời gắn liền với tên tuổi của một người thuộc tầng lớp cao
trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, đó là Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca Mâu Ni tên
thật là Tất Đạt Đa (Siddharta), họ Cù Đàm (Gautama), ông sinh ngày 8 tháng 4
khoảng năm 563 trước Công nguyên và mất năm 483 trước Công nguyên. Ông là
3
con vua nước Tịnh Phạn, thuộc bộ tộc Sakiya. Mặc dù được kế vị ngôi vua cha,
nhưng đến năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ cung điện, từ bỏ vợ con, bỏ trốn gia đình đi
tìm đường giải thoát cho chúng sinh.
Sau nhiều năm tìm con đường giải thoát cho chúng sinh bằng nhiều cách
thức khác nhau nhưng vẫn chưa thành công. Cuối cùng, ông nhận thấy tu khổ
hạnh chỉ làm suy giảm tinh thần và trí tuệ; còn lối sống hưởng thụ vật chất thì chỉ
làm chậm trễ sự tiến bộ của đạo đức và tâm trí, chỉ có con đường trung đạo mới
Theo triết lý Phật giáo, sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là do
vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân – quả. Cái nhân nhờ có duyên
nợ mà trở thành quả; quả mới lại nhờ duyên mới trợ giúp mà tạo thành nhân
mới... Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng cứ sinh hóa, biến hiện không
ngừng, không nghỉ theo chu trình bất tận: sinh – trụ – dị – diệt. Quá trình đó có
thể diễn ra trong nháy mắt (một satna, một niệm) hay trong từng giai đoạn có sự
biến đổi về chất. Vì thế, kinh Pháp cú đã viết: “các hành đều vô thường... khi
đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhằm lìa thống khổ”. Vậy thì “có có” –
5
“không không” luân hồi bất tận; “thoáng có”, “thoáng không”, cái còn thì chẳng
còn, cái mất thì chẳng mất.
Theo triết lý Phật giáo: tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới từ cái
vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, từ cái đơn giản đến cái phức tạp, đều chịu sự
chi phối, tác động của luật nhân quả mà tồn tại và biến hiện. Cái gì phát động ra
ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả nào đó gọi là nhân. Cái
gì được kết tập lại do một hay nhiều nhân gọi là quả. Duyên là điều kiện, là mối
liên hệ trợ giúp cho nhân (ở trạng thái khả năng) biến thành quả (ở trạng thái
hiện thực). Như thế duyên không chỉ là một cái gì đó cụ thể, xác định mà còn là
điều kiện, sự tương hợp, tương sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành và
biến đổi.
Do nhân duyên tan hợp, hợp tan, vạn vật cứ sinh hóa biến luận vô thường,
hết thảy thế giới thiên hình, vạn trạng cũng chỉ là hư ảo, không có thực thể,
không có bản ngã, không thực có cảnh có vật. Đó là chân lý cho ta biết thực
tướng của vạn pháp, chân thể của vũ trụ và chân bản tính của con người. Thấy
được điều đó gọi là chân như (satya koka), là đạt tới cõi hạnh phúc, vô dục,
thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt... gọi là Niết bàn (Nirvana).
2.2. Quan niệm về đạo đức nhân sinh
danh sắc.
+ Danh sắc: là tên và hình. Ta đã biết ta là riêng một vật, thì phải có tên có
hình của ta. Do danh sắc mà có lục xứ. Vì danh sắc làm quả cho thức và lại làm
nhân cho lục xứ.
+ Lục căn hay lục nhập là sáu chỗ, tức là sáu giác quan. Ta thường nói có
ngũ quan là: tai, mắt, mũi, lưỡi, thân mà thôi. Đạo Phâït nói thêm một giác quan
nữa là ý thức, tức là sự suy nghĩ, sự nhận biết của mình. Đã có tên, có hình là có
7
lục xứ để giao tiếp với những ngoại vật. Do lục căn mà có xúc. Vì lục căn làm
quả cho danh sắc và lại làm nhân cho xúc.
+ Xúc là xúc tiếp. Bởi có lục xứ là tai, mắt... thì ta xúc tiếp với những
thanh âm, hình sắc... của ngoại vật vào mình. Do xúc mà có thụ. Vì xúc làm quả
cho lục xứ và lại làm nhân cho thụ.
+ Thụ là chịu, là lĩnh nạp cái ảnh hưởng, cái thế lực, hoặc cái thanh âm,
hình sắc của ngoại vật vào mình. Do thụ mà có ái. Vì thụ làm quả cho xúc và làm
nhân cho ái.
+ Aùi là khát vọng yêu thích, mong muốn, tức là lòng tư dục. Do ái mà có
thủ. Vì ái làm quả cho thụ và lại làm nhân cho thủ.
+ Thủ là lấy, giữ lấy, quyến luyến lấy những sự nó làm cho ta sống. Dẫu ta
biết sống là khổ, nhưng vẫn không bỏ những cái ta muốn lấy để sống, cứ theo đuổi
để lấy cho được. Do thủ mà có hữu. Vì thủ làm quả cho ái và lại làm nhân cho hữu.
+ Hữu là có, có ta, có sống ở trong thế gian. Bởi ham muốn những cái nó
làm cho ta sống, cho ta thích, như là ngũ uẩn: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Vì có
ngũ uẩn ấy cho nên ta mới có trần dục, nó gây thành cái lậu nghiệp. Do hữu mà
có sinh. Aáy là hữu làm quả cho thủ và lại làm nhân cho sinh.
+ Sinh là sinh ra ở thế gian, làm thần thánh ở trên trời, làm người, làm
quỷ, làm súc sinh. Do sinh mà có lão tử. Aáy là sinh làm quả cho hữu và lại làm
Do có thụ cảm, thụ nhận, tiếp thụ mà có ái, ấy là thụ là quả cho xúc mà lại
làm nhân cho ái phát sinh. Aùi (trisna) là luyến ái, khao khát, yêu thích, mong
muốn, bấu víu.
Có ba loại ái dục, đó là: 1. Ái dục duyên theo nhục dục ngũ trần; 2. Ái dục
duyên theo khoái lạc vật chất có liên quan đến chủ trương thường kiến. Trong
lúc thụ hưởng, nghĩ rằng vạn vật là trường tồn vĩnh cửu và những khoái lạc này
10
sẽ mãi mãi tồn tại; 3. Ái dục duyên theo những khoái lạc vật chất có liên quan
đến chủ trương đoạn kiến. Trong lúc thụ hưởng, nghĩ rằng tất cả đều tiêu diệt sau
khi chết. Tùy thuộc ái, thủ phát sinh. Vậy ái là quả cho thụ và là nhân cho thủ.
Thủ (Upadana) là giữ lấy, cố bám lấy vật mà mình ham muốn. Nguyên nhân của
thủ chính là do luyến ái và lầm lạc. Thủ có bốn loại: nhục dục, tà kiến, thân kiến
và chủ trương sai lầm cho rằng: có một linh hồn trường cửu. Do thủ mà lại phát
sinh ý nghĩ sai lầm là: “tôi” và “của tôi”. Aáy là thủ làm quả cho ái mà làm nhân
cho hữu. Hữu (Bhava) là có tại tồn tại, hiện hữu. Có ta với sắc, thụ, tưởng, hành,
thức nên mới có ái dục gây nên nghiệp. Theo sát nghĩa gốc, Bhava là đang trở
thành. Hữu là hành động tạo nghiệp thiện và bất thiện (tiến trình tích cực của sự
trở thành).
Như vậy, hành và hữu đều là hành động tạo nghiệp. Nhưng nếu hành là
hành động trong quá khứ, thì hữu là hành động trong hiện tại. Do hữu mà có
sinh, ấy là hữu làm quả cho thủ và lại làm nhân cho sinh. Sinh (Jati) là hiện hữu,
là ta sinh ra ở thế gian, sinh là hiện tượng phát sinh của những hiện tượng tâmvật-lý. Có sinh tất có lão tử, ấy là sinh làm quả cho hữu và làm nhân cho lão tử.
Lão tử (Java-marana) là già và chết. Đã sinh ra tất phải có già và chết. Nhưng
sống và chết, sinh và tử là hai mặt đối nhau mà không tách rời nhau như sáng và
tối, âm và duơng níu kéo con người trong vòng sinh tử luân hồi.
Nếu giải thích mười hai nhân duyên theo chiều từ dưới lên, phải bắt đầu từ
lão tử. Lão tử (java-marana) của vị lai phải chịu, là từ sinh (jati) ở vị lai mà có;
thể đưa đến giải thoát. Con đường để diệt dục vọng, xóa vô minh, giác ngộ và
giải thoát, theo đức Phật là con đường ở giữa hai thái cực kia, là con đường tu
luyện đạo đức theo giáo luật (sila), và tu luyện tri thức, trí tuệ bằng thực nghiệp
tâm linh, “trực giác”. Đó chính là con đường bát chính đạo, bao gồm: Chính
kiến (nhận thức đúng, nhìn nhận rõ phải trái, không để những điều sai trái che
12
lấp sự sáng suốt của mình), Chính tư duy (nhận thức đúng, nhìn nhận rõ phải trái,
không để những điều sai trái che lấp sự sáng suốt của mình), Chính ngữ (chỉ nói
những điều đúng đắn, điều phải, điều tốt, không được nói những điều gian dối,
điều ác, điều xấu), Chính nghiệp (hành động, làm việc đúng đắn, không làm
những điều tàn bạo, gian ác, giả dối), Chính mệnh (sống đúng đắn, trung thực,
nhân nghĩa, không tham lam, gian tà, vụ lợi), Chính tinh tiến (nỗ lực, sáng suốt,
vươn lên một cách đúng đắn), Chính niệm (phải luôn tâm niệm và suy nghĩ đến
đạo lý chân chính, đến điều tốt, không được nghĩ đến điều xấu xa, bạo ngược và
tà đạo) và Chính định (kiên định, tập trung tư tưởng tâm trí vào con đường, đạo
lý chân chính, không để bất cứ điều gì làm thay đổi tâm trí, đạt đến giác ngộ).
Trong tám biện pháp tu luyện để đạt tới giác ngộ và giải thoát thì chính
kiến, chính tư duy thuộc về môn tu luyện trí tuệ (prajnâ), chính ngữ, chính
nghiệp, chính mệnh thuộc về môn tu luyện đạo đức theo giới luật (sila), còn
chính tinh tiến, chính niệm, chính định thuộc về môn tu thiền định (samadhi).
Triết học Phật giáo khái quát ba phương pháp tu luyện đó, gọi là “tam học”,
gồm: giới (sila), định (dhyâna) và trí tuệ (samadhi). Như vậy, tư tưởng về đạo đế
chính là đạo đức luận và tri thức luận của phật giáo.
13
Thông, Minh Không, Giác Hải, Pháp Loa, Huyền Quang.
Nhà nước Lý ,Trần tôn chuộng đạo Phật, trong bối cảnh của sự khoan
dung, hoà hợp tôn giáo “Tam giáo đồng nguyên”, chủ yếu là sự kết hợp giữa
Phật Giáo và Nho giáo, giữa giáo lí và thực tiễn đời sống. Đạo Phật thời Lý Trần
đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của nhà nước, là đối trọng tư tưởng của Nho
giáo.
3.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến nền kiến trúc chùa phong phú
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo đó chính là về kiến trúc. Kiến trúc là
sản phẩm nhân tạo cho nên cũng chính là văn hoá và sự phát triển của nó đánh
dấu bước tiến của văn minh.
Khởi thuỷ nơi trú ẩn đầu tiên của con người là ngôi nhà tự nhiên. Đó chính
là những hang động những vòm đá. Tuy nhiên ngôi nhà tự nhiên này không thể
che chở an toàn cho con người với bao như thứ hiểm hoạ chết chóc. Để chống
chọi với những hiểm nguy trong cuộc sống, con người phải làm nhà để ở, chống
lại tất cả sức mạnh tự nhiên đó. Ban đầu người Việt làm nhà sàn bằng gỗ rồi làm
nhà đất bằng tre. Tuy nhiên dù là nhà sàn hay nhà đất thì cho đến trước năm
1945, những ngôi nhà tranh tre của người Việt vẫn còn tồn tại như nguyên mẫu
xa xưa. Đó là một ngôi nhà hình chữ nhật thông thường chia làm 3 gian với
chiều dài từ 6 – 10 mét, đôi khi có nối các chái. Đó là những ngôi nhà tranh lè tè
mái rạ vàng rộm. Những ngôi nhà nông thôn có một mầu như vậy. Đền thờ nhà
là gốc đa, và về sau đã có nghè thì cũng chỉ là ngôi nhà hai ba gian đơn sơ như
nhà ở. Thế nhưng, một khi Phật giáo du nhập vào thì hai loại hình kiến trúc mới
đã xuất hiện đó là chùa và tháp.
Cho đến khi ngôi chùa xuất hiện, dù thuộc niên đại muộn hơn buổi đầu
Phật giáo it nhiều, thì xóm làng vẫn còn là một quần thể nhà tranh. Ngôi chùa
15
chiếm ngay đến địa vị trung tâm của làng và trở thành nơi quần tụ văn hoá.
chùa báo Thiên hợp thành “tứ đại khí” nổi tiếng, là thành tựu về nghệ thuật và kỹ
thuật các thời Lý – Trần. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho đào hồ ở quanh cột
đá có toà sen, gọi là hồ Linh Chiểu. Bên ngoài có hồ Bích Trì. Ngôi chùa thời Lý
được xây dựng lại ở thời Trần vào năm 1249 và các đời sau thường tu sửa. Năm
1954, chùa được xây dựng lại với quy mô kiểu dáng như ngày nay.
Chùa Một Cột được coi là biểu tượng của thủ đô nghìn năm văn hiến, là
một danh thắng nổi tiếng mà ai đã từng đến Hà Nội không thể không ghé qua.
Từ góc độ khoa học, đã có ý kiến cho rằng, chùa Một Cột chính là một loại hình
điện thờ tư nhân sớm nhất được xây dựng cho một cá nhân cụ thể – vua ly Thái
Tông.
Ngày nay, do mô hình kiến trúc đã hiện đại hoá xuất hiẹn chùa dạng nhà
lầu với phác đồ theo chiều thẳng đứng: tầng dưới là nơi thuyết pháp cho tín đồ
mang tính chất Tiền đường, tầng trên là Phật Điện mang tính chất Thiêu Hương,
Thượng Điện. Chùa thuộc loại này có thể kể tới những ngôi chùa nổi tiếng ở
thành phố Hồ Chí Minh như chùa Xa Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm.
Chùa Khmer lại thuộc một mô hình khác. Mô hình chùa loại này thông
thường là một tứ giác có nhiều tầng bậc chỉ thờ một tượng Thích Ca. Trên các
thềm bậc có những tháp vây quanh và một cửa cổng rất đặc sắc với hai apxara
hai bên góc như chùa Svay Ton (chùa Xà Tón) ở An Giang, gợi cho người ta liên
tưởng tới dáng dấp cổng tháp Sanchi nổi tiếng ở ấn Độ.
Chùa ở Nam bộ lại có kiến trúc kiểu nhà tứ trụ. Đó là kiểu kiến trúc nhà
rường. Bốn cột cách đều nhau ở bốn góc một diện tích hình vuông, từ bốn cột cái
các kèo đấm và kèo quyết đưa đều ra bốn hướng. Hình vuông được giải thích đó
là một kiểu thức của một ngôi tháp hoặc bắt chước dịch lý gọi là kiểu nhà tứ
tượng: Thái Âm – Thiếu Dương – Thái Dương – Thiếu Âm, Pha màu sắc phong
17
thuỷ, ảnh hưởng của Đạo giáo và Nho giáo. Chùa ở Nam Bộ, từ đầu thế kỷ XX
đem hiện (Hành), và cuối cùng là biết(Thức).Ở đây nếu đem bóc cái thần bí ra ta
thấy có những hạt nhân hợp lý.
Phật giáo đã đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những qua niêm biện chứng
với các khái niệm ‘vô thường’, ‘vô ngã’ Cho thấy phật giáo nhìn sự vật trong sự
vận động biến đổi liên tục không có gì là trụ lại mãi, không có ai là tồn tại
mãi.Tuy nhận thức đó chỉ nhìn thấy cái biến đổi mà không nhìn thấy cái ổn định
tương đối, chỉ thấy được cái vận dộng mà không thấy được của cái hình thức vận
động sẽ đi đến chiều hướng bi quan buông xuôi nhưng mặt khác phải thấy nhận
thức được như vậy là cũng có chiều sâu, là thấy được phương diện cơ bản của sự
phát triển sự vật.
Phật giáo đề cập đến mối nhân duyên đến mối quan hệ nhân quả, đến việc
xét sự vật phải từ kết quả tìm ra nguyên nhân và xem kết quả này là nguyên nhân
từ kết quả khác trong mỗi qua hệ khác.
Tuy vậy Phật giáo cũng có nhứng hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực nhất định
đế tư duy của người việt nam chúng ta.
Phật giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ
thấy cong người nói chung mà không thấy con người của giai cấp đối kháng
nhau trong xã hội trước đây, không thừa nhận đấu tranh trong gia cấp xã hội,do
đó không thấy được nguyên nhân khổ ải của con người, không thấy được sự cần
thiết phải chống áp bức, bóc lột vì thế qua niêm từ bi bác ái trong một số trường
hợp bất lợi cho đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
Phật giáo không bàn tới lĩnh vực chính trị, vì thế mỗi khi nhà sư bước sang
lĩnh vực chính trị-xã hội phải sử dụng các tư tương Nho hay Lão Trang.Nhà sư
Viễn Thông cho rằng``Lòng dân là gốc trị loạn``,trong đó``lòng dân`` là khái
niệm và tư tưởng của nhà nho; nhà sư Đỗ Phát Nhuận nói ( nếu dường nối vô vi
19
ngự trị trong triều đình thì nơi nơi sẽ tắt chiến tranh) trong đó vô vi là khái niệm
chúng ta ngày nay khi rời ghế nhà trường được trang bị không những kiến thức
để làm việc mà còn cả kiến thức về lý luận chính trị. Điều này giúp ta nhận thức
được về cơ bản giữa mô hình lý tưởng nhân đạo của Phật giáo và chủ nghĩa cộng
sản là: Một bên là duy tâm, một bên duy vật. Một bên diệt dục triệt để bằng ý chí
và coi dục là căn nguyên của mọi tội lỗi, bên kia thì cố gắng thoả mãn nhu cầu
ngày càng tăng của con người bằng lao động với năng suất và chất lượng cao
nhằm cải tạo thế giới, coi nhằm cải tạo thế giới, coi đó là tiêu chuẩn đánh giá
tính nhân đạo thực sự tiến bộ của xã hội, một bên hứa hẹn một mô hình niết bàn
bình đẳng tự do cho tất cả mọi người, từ bi bác ái như nhau, không còn bị ràng
buộc bởi các nhu cầu trần tục, còn bên kia khẳng định mô hình lý tưởng cho mọi
người lao động, coi lao động là nhu cầu sống chứ không phải phương tiện sống,
lao động không còn là nguồn gốc của khổ đau, qua lao động con người hoàn
thiện cả bản thân và hoàn thiện cả xã hội.
Đấy là những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nó phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại, của xã hội. Do đó, nó nhanh chóng được thanh
niên ủng hộ, tiếp thu. Do có một số quan điểm ngược lại nên tất yếu Phật giáo
không còn giữ một vai trò như trước đây nữa.
Mặt khác, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, mọi lĩnh
vực trong đời sống con người đều có bước nhar vọt. Xu thế toàn cầu hoá thể hiện
ngày càng rõ nét. Điều kiện đó đòi hỏi con người phải hết sức năng động, nhanh
nhạy nắm bắt vấn đề trong cuộc sống. Trong khi đó, theo giáo lý nhà Phật con
người trở nên không có tham vọng tiến thân, bằng lòng với những gì mình đã có,
sống nhẫn nhục, không đấu tranh, hướng tới cõi niết bàn khi cuộc sống trần gian
đã chấm dứt. Như vậy đạo đức Phật giáo đã tách con người ra khỏi điều kiện
thực tiễn của con người xã hội, làm cho con người có thái độ chấp nhận chứ
21
không phải là cải tạo thế giới. Đạo đức xuất thể của Phật giáo là chạy trốn nhu
không chỉ năng động, sáng tạo đầy tham vọng trong cuộc sống mà còn thừa
hưởng những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha, đó là sự thương yêu, đùm bọc
lẫn nhau giữa mọi người, lòng thương yêu giúp đỡ mọi người qua cơn hoạn nạn
mà không chút nghĩ suy, tính toán. Và ta không thể phủ nhận Phật giáo đã góp
phần tạo nên những giá trị tốt đẹp ấy. Và ta càng phải nhắc đến giá trị đó trong
khi cuộc sống ngày nay ngày càng xuất hiện những hiện tượng tiêu cực.
23
KẾT LUẬN
Phật giáo là một tôn giáo, tín ngưỡng gần gũi đối với con người Việt Nam,
nó còn đóng góp to lớn trong việc làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc,
tình thương, lòng nhân ái của con người. Nó khơi dậy trong con người một sự
giải thoát tĩnh lại.
Trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn
liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích cực
hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là
thế hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của
xã hội - gia đình - nhà trường - bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực
cả truyền thống và hiện đại. Chúng ta tin tưởng vào một thế hệ trẻ hôm nay và
mai sau cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, đạo
đức tác phong trong sáng kế thừa truyền thống cha ông cũng như những giá trị
nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định,
phát triển.
24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO