Tiểu luận phướng hướng hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại - Pdf 37

LI M U
Hệ thống ngân hàng trong bất kỳ một nền kinh tế nào cũng luôn giữ vai
trò quan trọng trong quá trình ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Với t cách
là một định chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng không những chỉ
thực hiện tốt việc huy động, phân phối lại nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
xã hội, thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức, cá
nhân mà còn thực hiện việc kiểm tra kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế, sự phồn thịnh hay suy thoái của
nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào chất lợng hoạch định và thực thi chính sách
tiền tệ một cách linh hoạt có hiệu quả và chất lợng hoạt động của hệ thống
ngân hàng. Để đánh giá đợc hiệu quả trong hoạt động kinh tế thì cách tốt nhất
là phải đánh giá đợc chất lợng hoạt động của hệ thống ngân hàng. Việc lợng
hoá chất lợng hoạt động của hệ thống ngân hàng lại chỉ có thể đợc thực hiện
thông qua công tác kiểm toán.
Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
thế giới, những yêu cầu đòi hỏi về chất lợng của thông tin đặc biệt là thông tin
về kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị trong nền kinh tế đã ngày
càng khẳng định vai trò của công tác kiểm toán nội bộ cũng là một trong
những hình thức của kiểm toán trong đó nó nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá hoạt
động của doanh nghiệp ở từng bộ phận, từng đơn vị.
ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán nói chung cũng bắt đầu đợc thực hiện
vào cuối những năm 80 và kiểm toán nội bộ đợc áp dụng thực hiện vào đầu
những năm 90-91. Sự phát triển mạnh mẽ của kiểm toán nói chung và kiểm
toán nội bộ nói riêng đã tác động lớn đến tính hiệu quả, xu hớng hoạt động
của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế - mọi doanh nghiệp và đơn vị kinh
doanh trong đó có các NHTM đều phải điều chỉnh và hoàn thiện các hoạt
động của mình nhằm xây dựng tổ chức mình ngày càng mạnh mẽ hơn, tạo sự
tin cậy hơn trong công chúng để tăng sức cạnh tranh của mình trong nền kinh
tế. Hệ thống NHTM Việt Nam cũng thực hiện hoạt động KTNB xuất phát từ
chính nhu cầu của mình để tạo ra những động lực thúc đẩy phát triển.
Sau gần 10 năm hoạt động KTNB trong các NHTM đã đạt đợc nhiều

thập kỷ 80 nhng nó đã nhanh chóng trở nên rất quan trọng trong hoạt động
kinh tế và đặc biệt kể từ khi Việt Nam bớc sang nền kinh tế thị trờng.
Nếu nh kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho các
quyết định kinh tế của các đối tợng có liên quan thì kinh tế có trách nhiệm
thẩm tra đánh giá, đảm bảo và nâng cao độ tin cậy của các thông tin kinh tế.
Nh vậy có thể hiểu một cách tổng quát: kiểm toán là việc kiểm tra, thẩm định,
đánh giá nhằm xem xét chất lợng hoạt động của một tổ chức, chất lợng của
các hồ sơ tài chính, kế toán.
Kiểm toán đợc định nghĩa theo cách chung nhất, nh sau: Kiểm toán là
quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các
bằng chứng về các thông tin có thể định lợng đợc của một đơn vị cụ thể nhằm
mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với
các chuẩn mực đã đợc thiết lập từ trớc.
Có nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau. Nếu phân loại theo chủ
thể kiểm toán thì kiểm toán có thể gồm 3 loại là kiểm toán độc lập và kiểm
toán nội bộ.
KTNN là công việc là kiểm toán do cơ quan kiểm toán nhà nớc tiến hành
để xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ, chế độ của nhà nớc và sự
đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh
phí của nhà nớc. Kiểm toán nhà nớc có nhiệm vụ kiểm tra, xác nhận việc chi
tiêu đúng mục đích, đúng dự toán và có hiệu quả ngân quỹ của nhà nớc. Bên
cạnh đó, KTNN còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị đợc kiểm toán sửa
chữa những sai phạm và kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm,
đề xuất với chủ nhà nớc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần
3


thiết.
Kiểm toán độc lập là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên độc lập
hành nghề trong các công ty kiểm toán hoặc trong các văn phòng kiểm toán

4


cách định kỳ các biện pháp mà ban giám đốc và các nhà quản lý ở mọi cấp áp
dụng để quản lý và kiểm soát doanh nghiệp. Chức năng này đợc đảm nhiệm
bởi một bộ phận chịu sự điều hành của Ban giám đốc nhng hoàn toàn độc lập
với tất cả các bộ phận khác.
Các mục tiêu chính của KTNB trong khuôn khổ xem xét định kỳ là kiểm
trra các thủ tục có đủ an toàn và các thông tin có trung thực, tin cậy hay
không, các nghiệp vụ có hợp thức, tổ chức hoạt động có hiệu quả, cơ cấu có rõ
ràng và thích hợp hay không.
Nh vậy, từ doanh nghiệp cho thấy KTNB không chỉ giới hạn trong bộ
phận kế toán và tài chính của doanh nghiệp, chính vì vậy đã xuất hiện kiểm
toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ cùng với khái niệm kiểm toán báo cáo tài
chính .
Tóm lại KTNB là hoạt động cần thiết của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng, là nhu cầu cần thiết khách quan cho việc kiểm soát chất lợng
hoạt động và đảm bảo chất lợng thông tin kinh tế, tài chính của BCTC, kiểm
toán hoạt động và kiểm toán tính tuân thủ các qui định, các chế độ hiện hành
của nhà nớc và của doanh nghiệp,...Trên thực tế KTNB đã hình thành và phát
triển khá mạnh ở nhiều quốc giá trên thế giới. Nhng ở nớc ta KTNB còn là vấn
đề khá phức tạp và còn mới mẻ. Vì vậy cần phải có sự thống nhất về nhận thức
và cách thức tiến hành, triển khai và thực hiện không những ở các doanh
nghiệp mà còn ở các tổ chức tài chính - tiền tệ (nh ngân hàng), cơ quan quản
lý nhà nớc...
ở các nớc trên thế giới, thông lệ KTNB không đợc qui định bởi pháp
luật. Nói một cách khác, không có qui định nào bắt buộc một công ty nhà nớc
hay t nhân phải có KTNB. Việc quyết định thành lập bộ phận KTNB phải xuất
phát từ sự tự nguyện, từ yêu cầu thực tế của ban giám đốc. Các mục tiêu và
chức năng của KTNB vì thế mà thay đổi tuỳ theo yêu cầu cụ thể của ban giám

tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị,
của ban giám đốc doanh nghiệp.
Thứ t là phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong
bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến hoàn
thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là những nhiệm vụ cơ bản nhất mà một cuộc KTNB cần phải hoàn
thành để đáp ứng yêu cầu về thông tin cho doanh nghiệp cũng nh những ngời
quan tâm đến doanh nghiệp.

6


II. Nội dung hình thức KTNB

1. Nội dung công việc của KTNB
Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình kiểm toán có 3 nội dung
công việc sau:
Một là kiểm toán hoạt động
Hai là kiểm toán báo cáo tài chính
Ba là kiểm toán tuân thủ
Tuỳ yêu cầu của BGĐ và các bộ phận đợc kiểm toán cùng với năng lực,
hoàn cảnh điều kiện có thể thực hiện 3 nội dung công việc kiểm toán hay một
trong 3 công việc cuả hoạt động kiểm toán.
a) Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động đánh giá tính hiệu quả, tác dụng của 1 phơng án
kinh doanh, 1 qui trình công nghệ hay một loại TSCĐ muốn đa vào hoạt động.
Kiểm toán hoạt động sử dụng các kỹ năng khác nhau: kế toán, tài chính, kinh
tế, kỹ thuật và khoa học... Kết thúc cuộc kiểm toàn thờng lập một bản giải
trình đánh giá, kết luận các mặt tốt, xấu gửi cho các cơ quan có thẩm quyền.
Nội dung chủ yếu của kiểm toán hoạt động gồm:

Thứ nhất là kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính
tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trớc khi giám đốc ký
duyệt và công bố.
Thứ hai là kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
quản trị đợc ra những kiến nghị và t vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm bảo đảm sụ hợp lý và hiệu quả.
2. Các hình thức kiểm toán nội bộ
Hoạt động KTNB có thể tiến hành dới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi
hình thức kiểm toán đem lại những kết quả nhất định và thoả mãn những yêu
ầu khác nhau. Tuỳ từng điều kiện hoàn cảnh và trong từng khoảng thời gian
không gian cụ thể cần và có thể vận dụng các hình thức kiểm toán một cách
thật linh hoạt sao cho có hiệu quả. Trên thực tế trong công tác KTNB ngời ta
sử dụng các hình thức sau:
a) Thứ nhất là kiểm toán toàn diện và kiểm toán đặc biệt
Kiểm toán toàn diện nhằm vào toàn bộ hoạt động kinh doanh, hoạt động
kế toán với mục đích xem xét sự chính xác của tài liệu, số liệu kế toán, đồng
thời tìm hiểu xem các tài liệu này đã phản ánh trung thực của tình hình hoạt
động của cơ quan, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp cha.
8


Trái lại, kiểm toán đặc biệt (hay kiểm toán chuyên đề) tập trung vào số
nghiệp vụ nhất định, ví dụ nh kiểm toán ngân quỹ, kiểm toán hoạt động bán
hàng, kiểm toán chi phí, lợi nhuận,...
Tuy nhiên để phân biệt giữa 2 loại kiểm toán này cũng không đơn giản,
vì đôi khi 1 cuộc kiểm toán đặc biệt chỉ nhìn vào một vấn đề xem công ty có
chia lãi đúng qui định không, cũng đòi hỏi phải thực hiện một cuộc kiểm toán
hầu nh toàn diện mới có đủ yếu tố để xác định.
Do đó, tiêu chuẩn phân biệt hai loại kiểm toán này nằm ở chỗ bao gồm
nhiều hay ít nghiệp vụ phải kiểm toán. Nếu cuộc kiểm toán chỉ nhằm vào một

Hai hình thức này mặc dù có sự khác nhau nhng vẫn có sự hỗ trợ nhau rất
hữu hiệu. Một mặt, chính nhờ các kinh nghiệm, các kết luận đợc rút từ những
cuộc kiểm toán sau hoạt động mà các chuyên gia mới xây dựng, thiết lập các
biện pháp phòng ngừa cho công tác kiểm toán phòng ngừa. Mặt khác, việc ban
hành các biện pháp phòng ngừa không chỉ đơn thuần đa ra các chỉ thị, các qui
định mà còn phải có những sự kiểm toán theo dõi sự tuân thủ, chấp hành nữa,
đó là một dạng kiểm toán sau hoạt động đầu tiên.
3. Đối tợng của KTNB
Cũng nh kiểm toán nói chung, KTNB cũng có đối tợng là các sai lầm và
gian lận.
Đối tợng của công tác kiểm toán là xem xét đánh giá sự đánh giá hợp
thức của các số liệu, tài liệu kế toán. Để có thể đạt đến mục đích này công
việc phải làm là xác định các sổ kế toán, các số liệu kế toán đ ợc kiểm tra
không chứa đựng một sai lầm hay gian lận nào.
Do đó đối tợng của kiểm toán là loại trừ các sai lầm và gian lận
Sai lầm và gian lận là các khiếm khuyết, các vi phạm đối với nguyên tắc
và luật lệ kế toán đã đợc qui định. Sự khác biệt giữa sai lầm và gian lận nằm
trong yếu tố ý đồ.
Sai lầm là sự vi phạm do bất cẩn, vô ý hay kém cỏi mà ngời thực hiện
hoàn toàn không có.
Gian lận là một sự vi phạm do cố tình mà ngời thực hiện có ý đồ phạm
pháp rõ rệt.
Trên thực tế kiểm toán viên nhiều khi khó phân biệt xem sự vi phạm nào
là sai lầm và sự vi phạm nào là gian lận. Xác định một trờng hợp vi phạm là có
ý đồ hay không có ý đồ hoàn toàn không đơn giản.
Các dạng sai lầm thờng gặp là do thiếu sót, do định khoản sai, nhầm lẫn
về ghi sổ và chuyển khoản sổ, nhầm lẫn do trùng lắp, sai lầm bù trừ nhau, sai

10


Các nhiệm vụ trong bớc này gồm:
Một là phải xem xét, thu thập và đánh giá đầy đủ các bằng chứng cần

11


thiết có liên quan kể cả các chứng cứ bên ngoài doanh nghiệp.
Hai là xem xét, đánh giá việc thực hiện các chính sách, qui định trong
thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Ba là đánh giá khả năng sai sót nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại
nghiệp vụ, từng hoạt động kinh tế, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong các
nghiệp vụ phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp .
Bốn là thực hiện phân tích, khảo sát,các khoản mục chính, khảo sát, bổ
xung các chi tiết, xem xét các sự kiện tiếp sau, đang kết quả cuộc kiểm toán.
Năm là các bớc tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng qui
trình của một cuộc kiểm toán và các bớc tiến hành kiểm toán phải đợc ghi
nhận trên tài liệu hồ sơ kiểm toán .
4. Kết thúc cuộc kiểm toán
Là bớc cuối cùng của một cuộc kiểm toán
Khi kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểm
toán. Trong báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quả
kiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra cho từng cuộc kiểm toán, các phân
tích đầy đủ, hợp lý của báo cáo kiểm toán, báo cáo kết quả từ hàng năm trớc
khi trình ký duyệt, đề xuất các kiến nghị và biện pháp xử lý các sai sót, gian
lận, các vi phạm, nêu các giải pháp cần thiết để nâng cao chất lợng và hiệu
quả quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.
Phúc tra kết quả kiểm toán là công việc tiếp sau cuộc kiểm toán nhằm
kiểm tra lại việc triển khai thực hiện những kiến nghị, những đề nghị xử lý và
những giải pháp đã nêu trong báo cáo kiểm toán ở các bộ phận quản lý, điều
hành kinh doanh của doanh nghiệp.

tín dụng, hối đoái... Tính rủi ro cao mang tính qui luật trong hoạt động của các
NHTM xuất phát từ nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, có thể kể đến là do các NHTM hoạt động dựa trên cơ sở thu
hút tiền của khách hàng (dới hình thức nhận tiền gửi, huy động bằng KP, kỳ
phiếu và đi vay...) , với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,
đầu t và các nghiệp vụ thanh toán.
Nh vậy NHTM tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua
việc sử dụng không chỉ bằng nguồn vốn tự có của mình mà chủ yếu bằng
nguồn vốn tín dụng huy động của khách hàng. Nếu nh NHTM không thu hồi
đợc số nợ mà họ đã cho vay hoặc đầu t cũng gặp phải rủi ro thì không những
họ bị mất nguồn vốn tự có của bản thân mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả
đợc số tiền đã huy động của khách hàng. Điều này dẫn đến sự phá sản của
ngân hàng và đây là rủi ro lớn nhất của NHTM.

13


Thứ hai, do NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nó khác với
các doanh nghiệp bình thờng ở chỗ NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán mà tiền tệ luôn luôn gắn liền với rủi ro, rủi ro
về sự biến động giá trị của đồng tiền. Do đó mà hoạt động của NHTM cũng
gắn liền với rủi ro.
Thứ ba, hoạt động của NHTM gắn liền với một mảng trong nền KTQD
nếu nh trình độ pháp lý và khả năng điều hành của các cấp lãnh đạo chỉ cần có
một chút sơ xuất là có thể gây ra thiệt hại lớn cho nền kinh tế rất dễ dẫn đến
tình trạng phá sản lan truyền giữa các NHTM trong nền kinh tế.
Thứ t, rủi ro có thể đến với bất kỳ một ngân hàng nào nếu nh nó không
có sức cạnh tranh trên thị trờng, không tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc
trên thị trờng.
Rủi ro mang tính chủ quan của con ngời cũng làm ảnh hởng không nhỏ

thể là do khách quan (khủng hoảng tài chính khu vực, động đất, lạm phát ... ),
có thể còn xuất phát từ các chính sách của Nhà nớc...
Tóm lại, có thể nói, ngân hàng là nghề của rủi ro. Điều đó có nghĩa là
các loại rủi ro luôn luôn bao vây, rình rập ngân hàng.Khi có bất kỳ một sai
sót, sơ hở nào chúng cũng có thể xuất hiện để làm cho hoạt động của ngân
hàng sa sút và phát sản.
3. Sự cần thiết phải KTNB trong các NHTM
Xuất phát từ đặc trng trong hoạt động của các NHTM mang tính rủi ro
cao các nguyên nhân dẫn đến rủi ro đã buộc các NHTM trong bất cứ một môi
trờng, chế độ xã hội nào cũng đều phải biết cách định dạng đợc các rủi ro và
chế ngự sự xuất hiện của chúng thì các NHTM mới có thể tồn tại đợc.
Từ điều trên, chúng ta không ngạc nhiên khi hầu hết các NHTM ở
những nớc tiên tiến đều có hệ thống phân tích, dự đoán rủi ro để chế ngự sự
xuất hiện và phá hoại của chúng đối với hoạt động của ngân hàng. Hệ thống
phân tích, định dạng rủi ro chế nghự đó chính là "kiểm toán nội bộ".
Mặc dù là một nớc chậm phát triển, ngành ngân hàng Việt Nam ra đời
muộn hơn rất nhiều so với các nớc trên thế giới nhng các NHTM Việt Nam
cũng không thể nằm ngoài tính qui luật nói trên đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay hoạt động của các ngân hàng trong môi trờng cạnh tranh thì việc tổ chức
công tác kiểm toán nội bộ thực sự là vấn đề bức thiết.
Hơn nữa KTNB giúp cho các NHTM công khai các báo cáo tài chính,
thông tin có giá trị xác thực tạo điều kiện củng cố niềm tin, uy tín, sức mạnh
tăng u thế cạnh tranh trên thị trờng. Đây chính là một trong số các mục tiêu
của các NHTM.
Thêm vào đó, hiện nay phần lớn các NHTM ở Việt Nam thờng có các
15


chi nhánh và các đơn vị thành viên thực hiện hạch toán độc lập hay các đơn vị
sự nghiệp. Nh vậy trong một NHTM các hệ thống báo cáo tài chính đợc xây

16


toán này đợc thực hiện khi nghiệp vụ đã hoàn thành. Kiểm toán sau ngoài việc
kiểm tra lại hồ sơ chứng từ nghiệp vụ, rà soát lại tính hợp lý, hợp lệ của nghiệp
vụ ở 2 giai đoạn trớc, còn có tác dụng phát hiện ra những hiện tợng bất thờng
trong những nghiệp vụ đã hoàn thành.
Nh vậy sự an toàn trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng của các NHTM
phần lớn là dựa vào công tác kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ.
Do đó, trong điều kiện hiện nay, các NHTM Việt Nam càng phải nâng
cao chất lợng kiểm toán nội bộ tạo điều kiện bảo đảm an toàn cho các hoạt
động của chính mình.
5. Nội dung công tác KTNB trong hệ thống NHTM ở Việt Nam
Nội dung công tác KTNB trong các NHTM ở Việt Nam thể hiện những
nội dung cơ bản của KTNB nhng nó đợc chi tiết và cụ thể bao gồm các lĩnh
vực chủ yếu sau đây :
Thứ nhất là kiểm toán về chấp hành các qui định của hội đồng quản trị
về các chế độ liên quan đến hoạt động của đơn vị, các qui định, chính sách
của ngành, của Nhà nớc.
Thứ hai, là kiểm toán về các nghiệp vụ kinh doanh nh nghiệp vụ kinh
doanh tín dụng, nghiệp vụ hối đoái, dịch vụ thanh toán, nghiệp vụ bảo lãnh...
kiểm toán các báo cáo tài chính hàng quý, hàng năm.
Trong tơng lai, hàng năm bảng thống kê tài sản và báo cáo tài chính của
NHNN sẽ do tổng kiểm toán Nhà nớc kiểm toán và xác nhận; bảng tổng kết
tài sản và báo cáo tài chính hàng năm của NHTM sẽ do kiểm toán độc lập
kiểm toán và xác nhận.
Tuy nhiên để có đợc quá trình kiểm toán Nhà nớc và kiểm toán nội bộ
thì các NHTM trớc hết phải thực hiện kiểm toán nội bộ.
KTNB thực hiện càng sát với thực tế các thông tin thu đợc từ báo cáo
kiểm toán càng có độ tin cậy cao. Do đó càng có ý nghĩa đối với chính doanh

bộ phận quan trọng trong các NHTM.
1. Thực trạng của công tác KTNB trong các NHTM
Công tác KTNB đợc áp dụng trong các doanh nghiệp nói chung và các
ngân hàng nói riêng chỉ mới vài năm trở lại đây nên những số liệu tổng kết về
công tác này rất hạn chế và mang tính chất chung chung bởi công tác này cha
đợc tổng kết trên phạm vi rộng. Nhng KTNB đã nhanh chóng thể hiện tính
hiệu quả trong công tác kiểm tra, xác nhận giúp cho các ngân hàng có đợc
những thông tin chính xác về tình hình hoạt động của mình.
Trớc hết, cần đề cập đến mô hình tổ chức công tác KTNB trong các
NHTM hiện nay. Hiện nay ở hầu hết các ngân hàng đều thực hiện công tác
KTNB nhng với nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào qui mô hoạt động.
Đối với các NHTM lớn, hoạt động trên địa bàn rộng mức đô các hoạt
động gửi tiền, rút tiền, cho vay, thanh toán nhiều, phát sinh nhiều nghiệp vụ và
các nghiệp vụ cũng phức tạp hơn. Do đó các công tác kế toán trong các
NHTM này thờng là rất lớn. Nên ở các NHTM lớn thờng có một bộ phận đợc
tách riêng ra làm công tác kiểm toán nội bộ. Số ngời trong bộ phận kiểm toán
nội bộ phụ thuộc qui mô của mỗi NHTM.
Đối với các NHTM nhỏ hoặc là các chi nhánh NHTM ví dụ nh chi nhánh

19


của các NHTM quốc doanh hoạt động trên địa bàn hẹp cũng có một bộ phận
đợc tách riêng ra làm công tác KTNB - bộ phận này thờng thờng là trực thuộc
giám đốc (Ban giám đốc).
Các kiểm toán viên nội bộ ngân hàng thực chất, theo thống kê thờng là
cán bộ công nhân viên (thờng là kế toán viên) đợc đơn vị cử đi đào tạo ngắn
hạn rồi quay trở lại làm nhiệm vụ với t cách là KTVNB.
Bộ phận KTNB hoạt động do yêu cầu của giám đốc ngân hàng, hoặc của
chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng đó. Thông thờng, KTNB thực hiện theo

vậy, việc phân cấp quản lý điều hành kinh doanh, chỉ tiêu tài chính là điều tất
yếu. Bên cạnh đó là sự phân tán về hoạt động hạch toán kế toán, hoạt động
kiểm tra, kiểm soát. Nếu nh cứ tiếp tục tiến hành duy trì chế độ quyết toán các
báo cáo tài chính nh hiện nay là các đơn vị cơ sở lập các báo cáo trên cơ sở
các nghiệp vụ phát sinh từ cơ sở và gửi báo cáo lên trung tâm điều hành kiểm
tra xem xét sơ bộ sau đó tập hợp toàn bộ hệ thống NHTM. Nh vậy rõ ràng
cách làm này không đảm bảo tính chính xác cao mà thông thờng thì các đơn
vị lập báo cáo có thể là cố ý dấu để những khoản có lợi cho đơn vị họ hay
những điều không tốt có hại đến tình hình tài chính, tình hình phân phối kết
quả thu nhập của đơn vị mình. Mặt khác, cũng có thể có những khoản sai sót
mà tự bản thân đơn vị cơ sở không thể phát hiện ra khi lập baó cáo quyết toán.
Việc thực hiện KTNB sẽ giúp cho các chính sách ngân hàng kiểm tra và
tác nhân ngay tính trung thực hợp lý về các thông tin mà chi nhánh chuẩn bị
trình lên trung tâm. Do đó khi tập hợp toàn ngành hệ thống NHTM thì bộ
phận KTVNB của trung tâm cần xác định lại những thông tin đó một lần nữa
với các dữ liệu đã thu thập đợc. Chính vì vậy mà khi tiến hành kiểm toán trong
toàn bộ hệ thống NHTM, các NHTM sẽ tránh đợc khối lợng công việc dồn
dập và tiết kiệm đợc thời gian, kết quả kiểm tra và xác nhận có độ chính xác
cao hơn. Từ đây, có thể nói KTNB giúp các NHTM rút ngắn đợc các thủ tục.
Các công việc, công tác nghiệp vụ đợc chuyển về một mối.
Bốn là, việc thực hiện công tác kiểm toán nội bộ giúp các ngân hàng thúc
đẩy, hoàn thiện và nâng cao chất lợng hoạt động kiểm soát nội bộ. Bằng các
chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận KTNB sẽ hỗ trợ cho hoạt động kiểm
soát, làm giảm nhẹ công tác thanh tra từ bên ngoài.
Năm là, các NHTM thực hiện công tác KTNB tốt sẽ tạo điều kiện nâng
cao uy tín của mình, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng. Điều này có thể
đợc nhìn nhận thông qua khối lợng tiền gửi tăng nhanh, quy mô tín dụng lớn
và tăng trởng liên tục.
Trong toàn ngành ngân hàng, trong các năm gần đây, lợng vốn huy động
qua hệ thống ngân hàng tăng nhanh, bình quân khoảng 25-30%/năm. Nếu nh

động trực tiếp đến chất lợng đến tính hiệu quả của công tác kiểm toán nội bộ.
Có thể nói đây là một trong số những vớng mắc lớn của chúng ta trong
lĩnh vực kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng.
Hai là, tính chất pháp lý của công tác kiểm toán nội bộ trong các ngân
hàng: Sự phát triển mạnh mẽ của KTNB trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi mỗi
đơn vị nói chung và mỗi ngân hàng phải có một hệ thống các văn bản qui định
22


cho công tác này dễ dàng thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xây dựng hệ
thống các văn bản qui định về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của bộ phận KTNB mà mỗi ngân hàng phải thực hiện là hết sức khó khăn. Bởi
vì hệ thống các văn bản này có ý nghĩa quan trọng đối với bộ phận KTNB
giúp cho các KTVNB có căn cứ pháp lý và định hớng trong khi thực hiện
nhiệm vụ, thể hiện mức độ quan tâm khác nhau đối với lĩnh vực KTNB ở một
ngân hàng là một nhân tố quyết định chất lợng của hoạt động KTNB.
Ba là, xuất phát từ trình độ chuyên môn của các KTVNB còn hạn chế và
thiếu những căn cứ pháp lý cho công tác kiểm toán nội bộ làm cho quá trình
thực hiện hoạt động này diễn ra chậm chạp, gặp phải nhiều khó khăn đặc biệt
trong công tác lập kế hoạch kiểm toán và lựa chọn phơng pháp kiểm toán. Và
khi đã lập đợc kế hoạch rồi nhng công tác chuẩn bị lại không hoàn thiện nhiều
khi còn làm sai lệch kế hoạch đã vạch ra.
Bốn là, hoạt động KTNB còn gặp phải nhiều khó khăn là do tính chất
hoạt động trong các NHTM. Cụ thể là:
Thứ nhất, do khối lợng giao dịch ở các NHTM là rất lớn, khối lợng tiền
tệ cũng lớn nên hiện nay hầu hết các NHTM đều phải có hệ thống máy vi tính
trợ giúp. Trớc đây, nói chung các nghiệp vụ đều có chứng từ gốc để chứng
minh và hầu hết các kết quả của quá trình xử lý là rõ ràng đối với ngời sử
dụng và đối với các kiểm toán viên. Với khối lợng công việc ngày một lớn hơn
của dữ kiện và sự phức tạp hơn về hoạt động thì điều này không còn thực tế

học tập huấn về kiểm toán, dần dần nâng cao sự hiểu biết, sự chuyên sâu của
đội ngũ KTNB. Ngoài cách thức cho các cán bộ Ngân hàng trong ngành đi
học về lĩnh vực kiểm toán, các NHTM lớn có đủ khả năng và điều kiện nên
mời hẳn một chuyên gia về kiểm toán thực hiện và chịu trách nhiệm về công
tác kiểm toán trong cơ quan mình thêm vào đó là đa các chuyên gia này đi học
thêm về lĩnh vực Ngân hàng.
Hai là, để cho công tác KTNB đạt đợc hiệu quả cao, trớc hết các NHTM
phải tự xác định cụ thể hơn các chuẩn mực mà mình cần phải thực hiện và
những chuẩn mực mà Nhà nớc yêu cầu. Từ các chuẩn mực này, các KTNB sẽ
có phơng hớng rõ ràng trong quá trình thực hiện, tránh đợc tình trạng chuẩn
mực không cụ thể, không rõ ràng làm cho các KTNB Bộ không thể có căn cứ
để đối chiếu.
Ba là, việc xác định ra căn cứ pháp lý, phân định rõ ràng chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn của các KTNB trong các NHTM cũng là những yếu tố
tác động đến tính hiệu quả của công tác KTNB. Ngân hàng nào làm tốt công
tác này chứng tỏ Ngân hàng đó quan tâm đến sự hiện diện của KTNB và từ đó
các KTNB có động lực làm việc tốt hơn và nó đợc khẳng định bằng chất lợng

24


của hoạt động KTNB. Do đó các Ngân hàng nên thực hiện tốt công tác này.
Các văn bản qui định về địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn
của bộ phận KTNB chính là môi trờng hoạt động của KTNB. Bộ phận KTNB
phải đợc giao một quyền hạn rộng rãi để có thể kiểm toán toàn bộ hoạt động
của đơn vị và đợc hoàn toàn độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, truy nhập
thông tin không giới hạn trong phạm vi đơn vị đó.
Bốn là, để tăng cờng và đảm bảo hiệu quả hoạt động KTNB cần phải có
sự trợ giúp đầy đủ và đúng lúc của chính các nhà quản lý cấp cao cũng nh sự
hợp tác toàn diện của các bộ phận và cá nhân trong đơn vị. Sự trợ giúp và hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status